MỤC LỤC
Lời mở đầu
IGIỚI THIỆU CHUNG
Một số khái niệm về chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt và quản lí chất thải
rắn.
II-
III-
IV-
V-
HIỆN TRẠNG, NGUỒN GỐC PHÁT SINH,THÀNH PHẦN CHẤT
THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM
1- Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ở việt nam
2- Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ở việt nam
3- Thành phần chất thải rắn đô thị
CÁC TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TỚI MÔI
TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI
1- Ảnh hưởng tới môi trường không khí
2- Ảnh hưởng tới môi trường nước
3- Ảnh hưởng tới môi trường đất
4- Ảnh hưởng của rác thải tới sức khỏe con người
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÍ VÀ XỬ LÍ CHẤT THẢI
RẮN SINH HOẠT
1- Hiện trạng quản lí chất thải rắn đô thị
2- Cơ cấu tổ chức quản lí chất thải rắn đô thị
CÁC CÔNG CỤ VÀ CHINH SÁCH QUẢN LÍ CTR VÀ CHẤT THẢI
NGUY HẠI
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. CTR bao gồm CTR thông thường và chất
thải rằn nguy hại.
Ví dụ: giấy, báo, rác sân vườn, bì nhựa, đồ đạc đã sử dụng,…
Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải lien quan đến các hoạt động của
con người.Nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường
học, các trung tâm dịch vụ thương mại.
Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch
ngói vỡ,đất, đá,cao su……
Quản lí chất thải rắn là tên gọi chung cho tất cả quá trình, hoạt động quy hoạch quản
lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt dộng phân loại, thu gom, lưu
giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những
tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe con người.
II - HIỆN TRẠNG, NGUỒN GỐC PHÁT SINH CHẤT THẢI RẮN SINH
HOẠT ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM
1- Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ở việt nam
Lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta phát sinh ngày càng tăng,
tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10-15% .Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị
đang mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như
các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch
Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%)... Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh
chất thải rắn sinh hoạt tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%). Theo
thống kê năm 2002, lượng CTR sinh hoạt trung bình từ 0,6-0,9 kg/người/ngày ở các đô
thị lớn và 0,4-0,5 kg/người/ngày ở các đô thị nhỏ, thị trấn thị tứ. Đến năm 2008 và đầu
2009, tỷ lệ này ở các đô thị lớn đã tăng lên tương ứng là 0,9-1,3 kg/người/ngày ( bảng
2). Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, đô thị có lượng chất thải rắn
sinh hoạt phát sinh lớn nhất là TP. Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500
tấn/ngày); đô thị có lượng chất thải rắn phát sinh ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày;
Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày; TP. Đồng Hới 32,0 tấn/ngày;
TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày.Như vậy,lượng chất thải
50
55
9
6
2
50
60 - 65
Nguồn : Tổng cục BVMT,2009
0,7
1,3
1,0
0,9
0,3
Hình 1. Số lượng CTR sinh hoạt phát sinh ở các loại đô thị khác nhau
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng Đông
Nam Bộ có lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh lớn nhất tới 6.713 tấn/ngày hay
2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt các đô
thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có
lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị là 4.441 tấn/ngày hay 1.622.060 tấn/năm
(chiếm 25,12%). Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh chất thải
rắn sinh hoạt đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô
thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị
là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) (bảng 3).
4
Bảng 2. Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2007
0,85
Tổng lượng
CTRSH đô thị
phát sinh
(tấn/ngày)
4.441
1.164
190
755
1.640
0,59
0,79
0,61
650
6.713
2.136
0,73
17.692
Lượng CTRSH bình
quân đầu người
(kg/người/ngày)
Nguồn: Xây dựng mô hình và triển khai thí điểm việc phân loại, thu gom và xử
lý rác thải sinh hoạt cho các khu đô thị mới, Cục Bảo vệ môi trường 2008
địa phương.
III - CÁC TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TỚI MÔI
TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI
1. Ảnh hưởng đến môi trường không khí: Nguồn rác thải từ các hộ gia đình thường là
các loại thực phẩm chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ khối lượng rác thải ra. Khí hậu nhiệt
đới nóng ẩm và mưa nhiều ở nước ta là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ
phân huỷ, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, thối rữa và tạo nên mùi khó chịu cho con
người. Các chất thải khí phát ra từ các quá trình này thường là H 2S, NH3, CH4, SO2,
CO2.
2. Ảnh hưởng đến môi trường nước:Theo thói quen nhiều người thường đổ rác tại bờ
sông, hồ, ao, cống rãnh. Lượng rác này sau khi bị phân huỷ sẽ tác động trực tiếp và
gián tiếp đến chất lượng nước mặt, nước ngầm trong khu vực. Rác có thể bị cuốn trôi
theo nước mưa xuống ao, hồ, sông, ngòi, kênh rạch, sẽ làm nguồn nước mặt ở đây bị
nhiễm bẩn .
3. Ảnh hưởng của rác thải tới môi trường đất: Trong thành phần rác thải có chứa
nhiều các chất độc, do đó khi rác thải được đưa vào môi trường thì các chất độc xâm
nhập vào đất sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích cho đất như: giun, vi sinh vật, nhiều
loài động vật không xương sống, ếch nhái ... làm cho môi trường đất bị giảm tính đa
dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng. Đặc biệt hiện nay sử dụng
tràn lan các loại túi nilôn trong sinh hoạt và đời sống, khi xâm nhập vào đất cần tới 50
- 60 năm mới phân huỷ hết và do đó chúng tạo thành các "bức tường ngăn cách" trong
đất hạn chế mạnh đến quá trình phân huỷ, tổng hợp các chất dinh dưỡng, làm cho đất
giảm độ phì nhiêu, đất bị chua và năng suất cây trồng giảm sút .
4. Ảnh hưởng của rác thải đối với sức khoẻ con người:Trong thành phần rác thải sinh
hoạt, thông thường hàm lượng hữu chiếm tỉ lệ lớn. Loại rác này rất dễ bị phân huỷ, lên
men, bốc mùi hôi thối. Rác thải không được thu gom, tồn đọng trong không khí, lâu
ngày sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ con người sống xung quanh. Chẳng hạn, những
người tiếp xúc thường xuyên với rác như những người làm công việc thu nhặt các phế
liệu từ bãi rác dễ mắc các bệnh như viêm phổi, sốt rét, các bệnh về mắt, tai, mũi họng,
ngoài da, phụ khoa. Hàng năm, theo tổ chức Y tế thế giới, trên thế giới có 5 triệu
- Những bãi chôn rác thường ở xa các đô thị nên tốn kém cho công đoạn chuyên chở rác
- Các loại túi ni lông đựng rác khi chôn không bị phân hủy, tồn tại rất lâu trong đất dẫn đến làm
giảm độ phì nhiêu đất.
Từ đặc điểm này cho thấy muốn tận dụng các chất thải hữu cơ sinh hoạt làm phân bón, cần thiết
phải tiến hành thu gom và phân loại rác ngay tại nguồn. Theo báo cáo của sở khoa học công nghệ
và môi trường các tỉnh, thành và theo kết quả quan trắc của 3 vùng, mới chỉ có 32/64 tỉnh, thành có
dự án đầu tư xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh, trong đó 13 đô thị đã được đầu tư xây dựng. Tuy
nhiên, trừ bãi chôn lấp chất thải rắn tại Khu Liên hợp Xử lý chất thải Nam Sơn, Hà Nội và bãi chôn
lấp chất thải rắn tại thành phố Huế đang hoạt động trong sự tuân thủ các yêu cầu đảm bảo môi
trường một cách tương đối, còn các bãi khác, kể cả bãi chôn lấp rác thải hiện đại như Gò Cát ở
thành phố Hồ Chí Minh, cũng đang ở trong tình trạng hoạt động không hợp vệ sinh.Thành phố Hà
Nội là địa phương đầu tiên tiến hành xử lý chất thải sinh hoạt bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ
sinh (Sanitary Landfill) tại Khu Liên hợp Xử lý chất thải Nam Sơn kể từ năm 1999 đến nay với
tổng năng lực chôn lấp khoảng 13 triệu tấn chất thải sinh hoạt trên tổng diện tích 83ha.
- Tại các thành phố, việc thu gom và xử lý chất thải đô thị thường do Công ty Môi
trường đô thị (URENCO) đảm nhận. Tuy nhiên đã xuất hiện các tổ chức tư nhân tham
7
gia công việc này ( Công ty Huy Hoàng, Tp.Lạng Sơn...).Hầu hết rác thải không được
phân loại tại nguồn,thường thu gom lẫn lộn và vận chuyển đến bãi chôn lấp. Tỷ lệ thu
gom tăng từ 40% - 67% năm 2002 lên đến 70 - 75% năm 2007 ở các thành phố lớn,
còn ở các đô thị nhỏ tỷ lệ này tăng lên tới 30% - 50% Tỷ lệ thu gom bình quân toàn
quốc vào khoảng 55%.
- Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động thu gom rác thải chủ yếu dựa vào kinh
phí bao cấp từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được các thành phần kinh tế tham
gia, tính chất xã hội hoá hoạt động thu gom còn thấp, người dân chưa thực sự chủ
động tham gia vào hoạt động thu gom cũng như chưa thấy rõ được nghĩa vụ đóng góp
kinh phí cho dịch vụ thu gom chất thải rắn.
2. cơ cấu tổ chức quản lí chất thải rắn đô thị
bản của việc xử lí chất thải nhưng hiện đang là một khó khăn, đòi hỏi
phải có nhiều cố gắng khắc phục.
-
Phải đảm bảo việc thu gom, xử lí có hiệu quả theo nguồn kinh phí nhỏ
nhất nhưng lại thu được kết quả cao nhất. Bảo đảm sức khỏe cho đội ngũ
những người lao động trực tiếp tham gia việc quản lí chất thải phù hợp
với khả năng kinh phí của thành phố và nhà nước.
-
Đưa các công nghệ và kĩ thuật, các trang thiết bị xử lí chất thải tiên tiến
của các nước vào sử dung ở trong nước, đòa tạo đội ngũ cán bộ quản lí
và lao động có đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm
2- CÁC CÔNG CỤ VÀ CHINH SÁCH QUẢN LÍ CTR VÀ CHẤT
THẢI NGUY HẠI
1. Công cụ pháp luật
- Luật và các quy định lien quan đến chất thải rắn
+ Luật bảo vệ môi trường 2005
8
+ Nghị định 175/ NĐ – CP ngày 10/10/1994 hươnngs dẫn thi hành luật
BVMT.Nội dung quy định các cơ sở sản xuất, dịch vụ phải làm báo cáo
đánh giá tác động môi trường.
+ Quy định về sản xuất, thải bỏ, lưu trữ các loại thuốc bảo vệ thực vật.
+ Thông tư 4527 của bộ y tế về quản lí chất thải y tế, phân loại xử lí theo
quy định.
- Chất lượng phân bón được thu hồi không cao vì có lẫn các kim loại nặng trong bùn
thải hoặc bùn ao
- Không phù hợp với khí hậu nhiệt đới tại Việt Nam vì phát sinh nước rỉ rác, không
đảm bảo được VSMT, ảnh hưởng đến nguồn nước mặt và nước ngầm và
- Diện tích đất sử dụng quá lớn.
9
Hình 1. Sơ đồ công nghệ xử lý rác thải của Mỹ – Canada
2. Công nghệ xử lý rác làm phân bón của Đức
a. Nội dung công nghệ: công nghệ phổ biến nhất của Đức là xử lý rác đi đôi với thu
hồi khí sinh học và phân bón hữu cơ vi sinh. Cụ thể như sau: Rác thải ở các gia đình
đã được phân loại, ở những nơi công cộng phân loại chưa triệt để, được tiếp nhận và
tiến hành phân loại tiếp. Rác hữu cơ được đưa vào các thiết bị ủ kín dưới dạng các
thùng chịu áp lực cùng với thiết bị thu hồi khí sinh ra trong quá trình lên men phân giải
hữu cơ ( hình 2).
b. Ưu điểm:
- Xử lý triệt để, đảm bảo VSMT
- Thu hồi sản phẩm là khí đốt có giá trị cao, phục vụ cho các ngành công nghiệp ở khu
lân cận nhà máy
-Thu hồi phân bón có tác dụng cải tạo đất
- Cung cấp nguyên liệu tái chế cho các ngành công nghiệp.
c. Hạn chế:
- Đòi hỏi kinh phí đầu tư lớn và kinh phí duy trì cao.
- Chất lượng phân bón thu hồi không cao.
10