Đánh giá tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn kiến giang lệ thuỷ quảng bình và biện pháp quản lý - Pdf 95

MỞ ĐẦU
Ngày nay, cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật, đời sống người dân không
ngừng nâng cao thì vấn đề môi trường luôn là điểm nổi bật và cần phải quan tâm của
tất cả các nước trên thế giới.
Rác thải là một phần tất yếu của cuộc sống, không một hoạt động nào trong sinh
hoạt hằng ngày không sinh ra rác. Xã hội ngày càng phát triển thì số lượng rác thải ra
ngày càng nhiều và dần trở thành mối đe dọa thực sự với đời sống con người.
Ở Việt Nam, nền kinh tế đang trên đà phát triển đời sống của người dân càng
được nâng cao, lượng rác thải phát sinh càng nhiều. Bên cạnh đó thì hệ thống quản lý
thu gom chất thải rắn chưa thực sự có hiệu quả gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng ở nhiều nơi. Hiện nay, chỉ ở các trung tâm lớn như ở thành phố, thị xã
mới có công ty môi trường đô thị có chức năng thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, còn
tại các vùng nông thôn hầu như chưa có biện pháp thu gom và xử lý rác thải hữu hiệu.
Thị trấn Kiến Giang là một trong những vùng phát triển nhất của huyện Lệ
Thuỷ. Trong những năm qua nền kinh tế ở đây phát triển sôi động nhiều nhà máy xí
nghiệp, cơ sở hạ tầng mọc lên, kinh tế phát triển kéo theo hàng loạt vấn đề về môi
trường, lượng chất thải phát sinh ngày càng nhiều.
Trong khi đó biện pháp quản lý chất thải tại địa phương chưa được quan tâm
đúng mức, nguồn kinh phí đầu tư cho công tác thu gom và xử lý rác thải chưa cao, cán
bộ môi trường giám sát thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt chưa làm việc đúng năng
lực. Vì vậy tìm kiếm giải pháp để quản lý chất thải rắn tại địa phương đạt hiệu quả
đang được các cơ quan chức năng quan tâm.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn đó chúng tôi tiến hành chọn đề tài:
“ Đánh giá tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Kiến
Giang - Lệ Thuỷ - Quảng Bình và đề xuất biện pháp quản lý ”, nhằm tìm ra
hướng xử lý tốt cho vấn đề rác sinh hoạt trên địa bàn huyện.
CHƯƠNG 1
Trang

Trang 1


chứa nhỏ khác với dung tích hàng trăm triệu m
3
nước, phục vụ đắc lực cho sản xuất
nông nghiệp.
Tài nguyên rừng : Lệ Thủy có 94.231 ha rừng chiếm 66,63% diện tích tự nhiên
rừng có nhiều gỗ quý và hàng ngàn ha thông nhựa cung cấp nguyên liệu quý cho công
nghiệp chế biến.
Tài nguyên khoáng sản: huyện Lệ Thủy có đá vôi để phát triển công nghiệp và
vật liệu xây dựng, có suối nước nóng Bang khai thác chế biến làm nước giải khát , có
trữ lượng lớn cát trắng dùng để sản xuất thủy tinh cao cấp. Ngoài còn có vàng, chì
kẽm,
Tài nguyên biển : Lệ Thủy có đường bờ biển dài 30km với Ngư trường rộng, có
nguồn lợi hải sản phong phú. Ven biển có bãi cát sạch đẹp có thể xây dựng các khu
nghỉ mát, bãi tắm,
Nhìn chung Lệ Thủy có điều kiện tự nhiên, tài nguyên tương đối thuận lợi cho
việc phát triển một nền kinh tế tổng hợp đa dạng, bền vững gồm có: công nghiệp - tiểu
thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ và sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên vẫn còn một
số khó khăn như: khí hậu khắc nghiệt bởi thường xuyên có bão, lụt vào mùa mưa và
nắng hạn, gió Tây nam vào mùa khô.
1.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Lệ Thủy
1.1.2.1. Dân số [10]
Trang

Trang 3

Hiện nay huyện Lệ Thủy có 28 xã với tổng dân số thống kê
được năm 2008 là 149.626 người, lao động năm 2008 là 78.785
người chiếm 52,80% dân số toàn huyện.
Kết quả điều tra dân số ở một số xã huyện Lệ Thủy được thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1. Dân số một số xã ở huyện Lệ Thủy

xã An Thủy năm 2007 dân số là 10778 và đến năm 2008 tăng lên
11057 người.
1.1.2.2. Hiện trạng phát triển kinh tế [9]
Trang

Trang 4

- Về tăng trưởng kinh tế:
Giá trị sản xuất của huyện Lệ Thủy – Quảng Bình tăng bình
quân hàng năm 8,35%, trong đó giá trị ngành nông nghiệp tăng
6,1%, ngàng công nghiệp xây dựng tăng 17%, thương mại và dịch
vụ tăng 16,8%. Cơ cấu kinh tế đã có sự dịch chuyển đúng hướng.
Ngành nông nghiệp giảm từ 54,95% năm 200 xuống còn 45,30%
năm 2005, ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ tăng từ 45,05%
năm 2000 lên 54,7% năm 2005.
- Về thực trạng kinh tế:
Nông nghiệp: tổng sản lượng lương thực năm 2000 là 63.523 tấn, đến 2005 là
80.188 tấn. Lương thực bình quân đầu người năm 2000 là 454 kg đến năm 2005 là 550
kg. Giá trị xuất khẩu theo hiện hành năm 2000 là 209.91 triệu đồng đến năm 2005 là
366.588 triêu đồng.
Lâm nghiệp: ba năm qua đã trồng được 2.588 ha trên một triệu cây phâ tán, khai
thác 350 tấn nhựa thông.
Thủy sản: tổng sản lượng thủy sản năm 2000 là 1.640 tấn, đến năm 2005 là
2.507 tấn.
Khu vực kinh tế công nghiệp: tổng giá trị sản xuất của toàn huyện năm 2000 là
24.944 triệu đồng, đến năm 2005 là 73.910 triệu đồng.
Năm 2005 có 2.337 cơ sở sản xuất công nghiệp
- Về cơ sở vật chất kỹ thuật
Giao thông: Lệ Thủy có đường giao thông khá thuận lợi với quốc lộ 1A dài
33km. Đường Hồ Chí Minh cả hai nhánh đông và tây dài 83km, đường sắt dài 34km,

1.2.1. Định nghĩa về chất thải rắn sinh hoạt:
Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải rắn liên quan đến các hoạt động sinh
hoạt của con người, nguồn gốc tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan,
Trang

Trang 6

trường học, trung tâm dịch vụ, thương mại. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao
gồm thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, vỏ, rau quả, kim loại, sành sứ, thủy
tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, xương động vật, lông gà, [13].
1.2.2. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt [8]
Theo Nguyễn Văn Phước:
Rác thải được phát sinh từ các nguồn khác nhau, tùy thuộc vào các hoạt động
mà rác được phân chia thành các loại như sơ đồ 1.2
Sơ đồ 1.1. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Qua sơ đồ 1.2 ta thấy chất thải rắn sinh hoạt được thải ra từ nhiều hoạt động
khác nhau như: các khu dân cư, khu thương mại, cơ quan công sở, các hoạt động công
nông nghiệp, tuy nhiên hàm lượng và thành phần rác thải ở các khu vực là khác nhau,
trong số đó rác thải sinh hoạt chiếm đa số.
1.2.3. Phân loại chất thải rắn sinh hoạt [8]
Tùy thuộc vào nguồn gốc phát sinh và tính chất của chất thải rắn sinh hoạt mà
có nhiều cách phân loại CTRSH khác nhau, sau đây là một số cách phân loại cơ bản:
Dựa vào hàm lượng hữu cơ, vô cơ ta có thể chia như sau:
Rác hữu cơ: là những loại rác thải trong sinh hoạt, ăn uống hàng ngày
Rác vô cơ: là những loại rác có khả năng tái sử dụng như giấy tờ, sách báo, hộp
nhựa, ni lon,
Loại thủy tinh: chai, lọ,
Trang

Trang 7

chủ yếu chứa các chất hữu cơ khá cao tiếp đó là các chất vô cơ [4].
Thành phần cụ thể được thể hiện như bảng 1.2
Trang

Trang 8

Bảng 1.2. Thành phần vật lý của chất thải rắn sinh hoạt
Trang
Thành phần
Phần trăm trọng
lượng
Giới hạn dao
động
Trung bình
Thực phẩm 6-25 15
Giấy 25-45 40
Carton 3-15 4
Plastic 2-8 3
Vải 0-4 2
Cao su 0-2 0.5
Da 0-2 0.5
Rác làm vườn 0-20 12
Gỗ 1-4 2
Thuỷ tinh 4-16 8
Đồ hộp 2-8 6
Kim loại màu 0-1 1
Kim loại đen 1-4 2
Bụi, tro, gạch 1-10 4

Trang 9

4.2 6.8 24.83
4 Đất cát và
chất khác
35.9 36.0 18.0
5 Thủy tinh,
sành sứ
1.8 1.8 5.59
6 Lá cây, rác
hữu cơ
50.1 31.5 41.25

Trang 11

cộng đồng ở khu vực đó. Ở TP HCM và Hà Nội lượng rác hữu cơ, lá cây chiếm tỷ lệ
cao với 41.25% (TP HCM) và 50.1% (Hà Nội). Trong khi đó ở TP Hà Nội và Đà Nẵng
thì lượng đất cát và các chất khác lại chiếm đa số với 36%. Và thành phần rác thải
chiếm tỷ lệ thấp nhất ở các tỉnh thành là kim loại và vỏ lon là dưới 2,5%.
1.2.5. Một số ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường và con
người
1.2.5.1. Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường
Hiện nay do khối lượng rác thải phát sinh với một lượng quá lớn, ở các địa
phương công tác thu gom xử lý và tiêu hủy đã và đang vượt quá năng lực. Điều này là
nguyên nhân chủ yếu tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí và sức khỏe
cộng đồng [6].
Ảnh hưởng trực tiếp của rác thải trước hết là môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Các bãi tập trung rác không những là những nơi gây ô nhiễm mà còn là các ổ dịch
bệnh, nơi ruồi muỗi và các vi sinh vật gây bệnh sinh sôi phát triển ảnh hưởng lớn tới
sức khỏe của người dân, là mối nguy hại cho sự tồn tại, phát triển và bền vững của
cộng đồng dân cư trong vùng.
Trong thành phần rác thải chứa nhiều chất độc, do đó khi rác thải được đưa vào

canh tác được. Ngoài ra, rác thải sinh hoạt tồn tại tràn lan, không được thu gom thì nó
cũng sẽ ảnh hưởng đến lối sống văn hóa, vẻ mỹ quan của vùng nông thôn. Nếu như rác
thải ở nông thôn không được quan tâm đúng mức thì ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến ý
thức cũng như sức khỏe nói riêng trong thế hệ tương lai.
Đối với môi trường nước: rác thải và các chất ô nhiễm đã biễn đổi màu của mặt
nước thành màu đen, từ không mùi đến có mùi khó chịu. Nồng độ của chất bẩn hữu cơ
đã làm cho thủy sinh vật trong nguồn nước mặt bị xáo trộn. làm giảm diện tích ao hồ,
làm giảm khả năng tự làm sạch của nước, cản trở dòng chảy, hệ sinh thái trong ao hồ bị
hủy diệt. Dẫn đến môi trường nước bị ô nhiễm.
1.2.5.2. Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khoẻ con người
Hiện nay với tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng do chất thải rắn phát sinh ở
nông thôn, nó đã gián tiếp góp phần làm phát sinh nhiều bệnh tật, ảnh hưởng đến sức
khoẻ của người dân sống trong khu vực [7].
Trong thành phần rác thải có rất nhiều chất độc, khi không được thu gom rác
thải tồn đọng trong không khí lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ con người xung
quanh. Những người thường xuyên tiếp xúc với rác thải, những người làm công việc
thu nhặt các phế liệu từ rác thải dễ mắc bệnh viêm phổi, sốt rét, các bệnh về mắt, tai,
mũi, họng,
Theo tổ chức y tế thế giới, trên thế giới có 5 triệu người chết và có gần 40 triệu
trẻ em mắc các bệnh có liên quan tới rác thải, 26 bệnh truyền nhiễm trong cộng đồng
đều liên quan tới ô nhiễm môi trường. Nổi bật trong số các bệnh tật do ô nhiễm môi
trường là nhóm bệnh truyền nhiễm bao gồm nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, viêm
Trang

Trang 13

phổi, viêm họng, cúm, tiêu chảy, hội chứng lỵ, bại não, sốt xuất huyết, viêm gan do vi
rút, Ngoài ra còn có tới 80% dân số Việt Nam bị mắc bệnh giun sán [16].
Các bệnh viêm nhiễm liên quan tới đường hô hấp khoảng 36,1%, các triệu
chứng về mắt là 28,5% rối loạn chức năng thông khí phổi là 22,8%. Đặc biệt là các

Ở Trung Quốc, lượng rác thải đô thị phát sinh hằng năm rất cao. Trong năm
2004, riêng khu vực đô thị đã tạo ra 190 triệu tấn rác. Theo tính toán đến năm 2030 con
số này sẽ là 480 triệu tấn rác [15].
Tại Nhật Bản, theo số liệu của Cục Y tế và Môi sinh Nhật Bản, hàng năm nước
này có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó chất thải rắn sinh hoạt chiếm 87 triệu tấn
Trong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rác thải phải đưa tới bãi chôn lấp, trên
36% được đưa đến các nhà máy để tái chế. Số còn lại được xử lý bằng cách đốt, hoặc
chôn tại các nhà máy xử lý rác. Như vậy, lượng rác thải ở Nhật Bản rất lớn, nếu không
tái xử lý kịp thời thì môi trường sống bị ảnh hưởng nghiêm trọng [21].
Tại Singapo quá trình xử lý rác thải đã trở thành vấn đề sống còn ở Singapo. Để
đảm bảo đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hoá nhanh, năm 1970,
Singapo đã thành lập đơn vị chống ô nhiễm gọi tắt là APU, có nhiệm vụ kiểm soát ô
nhiễm không khí và thanh tra, kiểm soát các ngành công nghiệp mới. Hiện nay, mỗi
ngày Singapore thải ra khoảng 16.000 tấn rác. Rác ở Singapore được phân loại tại
nguồn nhờ vậy 56% số rác thải ra mỗi ngày (khoảng 9.000 tấn) quay lại các nhà máy
để tái chế. Khoảng 41% (7.000 tấn) được đưa vào bốn nhà máy thiêu rác để đốt thành
tro. Toàn bộ rác thải ở Singapo được xử lý tại 4 nhà máy đốt rác. Sản phẩm thu được
sau khi đốt được đưa về bãi chứa trên hòn đảo nhỏ Pulau Semakau, cách trung tâm
thành phố 8 km về phía Nam. Chính quyền Singapo khi đó đã đầu tư 447 triệu USD để
có được một mặt bằng rộng 350 ha chứa chất thải. Mỗi ngày, bãi rác Semakau tiếp
nhận 2.000 tấn tro rác [20].
1.2.6.2. Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
Rác thải là sản phẩm tất yếu của cuộc sống được thải ra từ các hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác như khám chữa bệnh, vui
chơi giải trí của con người. Cùng với mức sống của nhân dân ngày càng được nâng cao
Trang

Trang 15

và công cuộc công nghiệp hoá ngày càng phát triển sâu rộng, rác thải cũng được tạo ra


Theo số liệu của Bộ Xây dựng, hiện tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị
phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 21.500 tấn/ngày, đến năm 2015, khối lượng
chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các đô thị ước tính khoảng 37000 tấn/ngày và năm
2020 là 59000 tấn/ngày cao gấp 2 - 3 lần hiện nay [17].
Theo báo cáo về diễn biến CTR của Bộ tài nguyên và Môi trường thì khối lượng
CTR phát sinh tại các khu vực được thể hiện ở bảng 1.4
Bảng 1.4. Tình hình phát sinh chất thải rắn.
Tại các đô thị lớn thì theo Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội, tổng lượng rác
thải sinh hoạt đô thị của thành phố vào khoảng 2.800 tấn/ngày, ngoài ra chất thải công
nghiệp, chất thải xây dựng, chất thải y tế cũng là “vấn đề rất lớn” với tổng khối lượng
khoảng 2.000 tấn khác/ngày. Chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các
loại: khoảng 60% chất thải xây dựng chiếm khoảng 1/4 và lượng chất thải phân bùn bể
phốt là 5% [6].
Ở tỉnh Bắc Ninh mỗi ngày có khoảng 533 tấn rác thải sinh hoạt và khoảng 2 tấn
rác thải y tế. Trong đó, khu vực nông thôn chiếm khoảng gần 250 tấn/ngày. Dự báo
đến năm 2020 con số này sẽ tăng lên là 704 tấn/ngày và 4 tấn/ngày. Trong khi đó, tỷ lệ
thu gom rác thải sinh hoạt còn thấp, chỉ đạt khoảng 51%, tình trạng để lẫn rác thải nguy
Trang
Các loại chất thải rắn Toàn quốc Đô thị Nông thôn
Tổng lượng phát sinh chất thải sinh hoạt
(tấn/năm)
12.800.000 6.400.000 6.400.000
Chất thải nguy hại từ công nghiệp
(tấn/năm)
128.400 125.000 2.400
Chất thải không nguy hại từ công nghiệp
(tấn/năm)
2.510.000 1.740.000 770.000
Chất thải Y tế lây nhiễm (tấn/năm) 21.000 - -

1 Đặc biệt 0,84 8.000 2.920.000
2 Loại 1 0,96 1.885 688.025
3 Loại 2 0,72 3.433 1.253.045
4 Loại 3 0,73 3.738 1.364.370
5 Loại 4 0,65 626 228.490
Tổng 6.453.930
(Nguồn: Bộ khoa học CNMT Hà
Nội)
Như vậy qua bảng 1.5 ta nhận thấy rằng lượng CTRSH phát sinh nhiều nhất là ở
các loại đô thị đặc biệt và đô thị loại 1 từ 0.84 – 0.96 kg/người/ngày. Do ở đây quá
Trang

Trang 18

trình đô thị hóa diễn ra mạnh, dân cư tập trung đông, nhu cầu sinh hoạt hằng ngày tăng
cao đồng nghĩa với việc CTR phát sinh nhiều. Ngược lại, lượng CTRSH ở đô thị loại 4
là thấp nhất với 0.65 kg/người/ngày.
1.2.7. Quy trình quản lý chất thải rắn sinh hoạt [8]
Ngày nay do lượng CTRSH ngày càng gia tăng gây ảnh hưởng đến môi trường
và sức khỏe làm mất mỹ quan đô thị vì vậy vấn đề quản lý và xử lý CTR dang được
quan tâm và giải quyết. Quá trình quản lý CTR nhìn chung bao gồm các bước cơ bản
như sau: CTR phát sinh quá trình thu gom quá trình lưu trữ
Quá trình vận chuyển xử lý.
Sau đây là quá trình quản CTRSH cơ bản như sau:
1.2.7.1. Quá trình thu gom
Thu gom chất thải rắn là quá trình thu nhặt rác từ các hộ dân, công sở hay từ
những điểm thu gom chất chúng lên xe trung chuyển đến điểm trung chuyển trạm xử lý
hay những điểm chôn lấp chất thải rắn.
Thu gom chất thải rắn được chia làm hai loại: Hệ thống thu gom chất thải chưa
phân loại tại nguồn và hệ thống thu gom chất thải đã phân loại tại nguồn.

chế. Phương pháp cơ bản đang được sử dụng là thu gom dọc theo lề đường sử dụng
những phương tiện thu gom thông thường hoặc thiết kế các thiết bị đặc biệt chuyên
dụng.
Tại các khu dân cư: CTR được phân loại theo nhiều cách: phân loại tại lề đường
khi đổ chúng vào xe chở thông thường hoặc xe chuyên dụng, phân loại bởi chủ nhà để
mang đến điểm thu mua. Hình thức phân loại tại lề đường giúp chủ nhà không phải
mang đi xa nên được nhiều người ủng hộ
Tại các khu thương mại: CTR thường được phân loại bởi những tổ chức tư nhân
(các tổ chức này ký hợp đồng phân loại CTR với cơ sở thương mại). Thành phần CTR
có thể tái chế được cho vào từng thùng chứa riêng. Các loại thùng carton được bó lại
để ngay lề đường để tthu gom riêng. Các lon nhôm thải ra từ các khu trung tâm thương
mại được đập dẹp để giảm kích thước khi thu gom.
1.2.7.2. Trạm trung chuyển
Trang

Trang 20

Tuỳ thuộc vào các yếu tố kinh tế và kỹ thuật thuộc hệ thống quản lý chất thải
rắn mà người ta sẽ áp dụng việc trung chuyển hay không. Trạm trung chuyển là cơ sở
đặt gần khu vực thu gom để xe thu gom đổ tập trung CTR chuyển từ các điểm thu gom
trong thành phố, thị xã, sau đó được chất lên các xe tải hoặc xe chuyên dụng lớn hơn
để chở đến bãi chôn lấp CTR đô thị. Nhìn chung trung chuyển rác có thể áp dụng cho
hầu hết các hệ thống thu gom. Khi xây dựng trạm trung chuyển với mục đích:
- Hạn chế tối đa sự xuất hiện các bãi rác hở không hợp pháp do khoảng cách vận
chuyển khá xa.
- Vị trí các bãi đổ cách khá xa tuyến thu gom
- Việc sử dụng các loại xe thu gom vừa và nhỏ không thích hợp cho việc vận
chuyển rác đi xa.
- Có nhiều tổ chức thu gom rác nhỏ từ các khu dân cư.
1.2.7.3. Phương tiện và phương pháp vận chuyển:

vật liệu CTR có kích thước khác nhau thành hai hay nhiều loại vật liệu có cùng kích
thước, bằng cách sử dụng các loại sàng có kích thước lỗ khác nhau. Quá trình phân loại
được thực hiện khi vật liệu còn ướt hoặc khô.
c. Phân loại theo khối lượng riêng
Phân loại theo khối lượng riêng là một kỹ thuật được sử dụng rất rộng rãi, dùng
để phân loại các vật liệu có trong CTR dựa vào khí động lực và sự khác nhau về khối
lượng riêng của chúng. Phương pháp này được sử dụng để phân loại tách rời các loại
vật liệu sau quá trình tách nghiền thành hai phần riêng biệt: dạng có khối lượng riêng
nhẹ như giấy, nhựa, các chất hữu cơ và dạng có khối lượng riêng nặng như là kim loại,
gỗ và các phế liệu vô cơ có khối lượng riêng tương đối lớn.
d. Nén chất thải rắn sinh hoạt
Nén là kỹ thuật làm tăng mật độ dẫn đến tăng khối lượng riêng của chát thải để
công tác lưu trữ và vận chuyển chất thải đạt hiệu quả cao hơn. Một vài kỹ thuật được
sử dụng để nén chất thải rắn và thu hồi vật liệu là sau khi nén chất thải có dạng hình
khối, lập phương, hình tròn. Nén làm giảm thể tích khi vận chuyển, tái sử dụng.
1.2.8.2. Phương pháp nhiệt
a .Quá trình đốt
Trang

Trang 22

Tùy thuộc vào lượng oxy trong quá trình đốt mà ta có thể phân loại thành quá
trình đốt, nhiệt phân hay khí hóa.
Đốt là quá trình oxy hóa chất thải rắn bằng oxy không khí dưới tác dụng của
nhiệt và quá trình oxy hóa hóa học. Bằng cách đốt chất thải, ta có thể giảm thể tích của
CTR đến 80 - 90%.
b. Quá trình nhiệt phân
Nhiệt phân chất thải rắn là quá trình phân hủy hay biến đổi hóa học CTR bằng
cách nung trong điều kiện không có oxy và tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất ở
dạng rắn, lỏng và khí.

tiêu tính linh động hay cô lập các thành phần ô nhiễm bằng lớp vỏ bền vững tạo thành
khổ nguyên có tính toàn vẹn cấu trúc cao.
Trang

Trang 24

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thị trấn Kiến
Giang – Lệ Thủy – Quảng bình
- Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn tại ban Quản Lý Các Công Trình Công
Cộng (phòng tài nguyên môi trường huyện Lệ Thủy)

Hình 2.1. Chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Kiến Giang
2.2. Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1. Nghiên cứu ngoài thực địa.
- Phương pháp hồi cứu số liệu: tình hình phát triển kinh tế xã hội, sự gia tăng
dân số, điều kiện tự nhiên khí hậu tại thị trấn Kiến Giang Lệ Thủy Quảng Bình.
- Phương pháp PRA (phương pháp khảo sát nhanh có sự tham gia của cộng
đồng), phỏng vấn nhanh về tình hình phát sinh và thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại thị
trấn Kiến Giang – Lệ Thủy – Quảng Bình.
2.2.2. Phương pháp xử lý số liệu
- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê mô tả trên phần mềm excel.
Trang

Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status