Giải pháp cho hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã thủ dầu một - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bình Dương là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Bình Phước, phía
Nam và Tây Nam giáp TP.HCM, phía Tây giáp Tây Ninh, phía Đông giáp Đồng
Nai. Tỉnh lỵ của Bình Dương hiện nay là thị xã Thủ Dầu Một cách trung tâm
TP.HCM 30km
Các đơn vị hành chính của tỉnh Bình Dương có ba thị xã và bốn huyện (với 91 xã,
phường, thị trấn)
Bình Dương là tỉnh sở hữu ba thị xã có dân số đông nhất nước, trong đó có hai thị
xã có 100% phường, không có xã (Thủ Dầu Một và Dĩ An)
1.TxThủ Dầu Một
2.TxThuận An
3.Tx Dĩ An
4. Huyện Bến Cát
5. Huyện Dầu Tiếng
6. Huyện Tân Uyên
7. Huyện Phú Giáo
Diện tích tự nhiên của tỉnh Bình Dương là 2695,5 km 2 và dân số (theo kết quả điều
tra dân số 01/ 04/ 2010) là 1.482.550 người, theo số liệu ước tính (không chính
thức) ngày 05/08/2010 dân số tỉnh tăng lên 2.185.655 người với mật độ dân số 810
người/ km2. Do kinh tế phát triển nhanh, trong thời gian qua Bình Dương đã thu hút
nhiều dân nhập cư từ các địa phương khác. Kết quả điều tra dân số năm 2010 cho
thấy: Trong 11 năm từ 1999 – 2010 dân số tỉnh Bình Dương đã tăng gấp đôi, là tỉnh
có tốc độ tăng dân số cao nhất nước với tỉ lệ tăng trung bình 7,3% / năm.
Trên địa bàn tỉnh Bình Dương có 15 dân tộc, nhưng đông nhất là người kinh và sau
đó là người hoa và Khơ Me.
Mặt khác, bắt đầu những năm 90, với chính sách trải thảm đỏ chào đón các nhà đầu
tư, Bình Dương nhanh chóng trở thành địa phương phát triển năng động nhất trong
tứ giác kinh tế trọng điểm của cả nước với những thành tựu về đổi mới và hội nhập
kinh tế quốc tế, trước hết là kết quả nổi trội về thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước
ngoài. Trong bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hàng năm, Bình

cao hiệu quả trong công tác quản lý CTR và giảm thiểu ô nhiễm do thu gom và vận
chuyển CTRSH chưa hợp lý.
Hơn nữa, hệ thống quản lý CTRSH tại tx.Thủ Dầu Một là mắt xích quan trọng trong
hệ thống quản lý CTR tại tỉnh Bình Dương nên việc tìm ra các giải pháp quản lý tốt
CTRSH tại tx.Thủ Dầu Một sẽ đóng góp một phần không nhỏ cho công tác quản lý
CTR tại tỉnh Bình Dương được tốt hơn.

1.4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Tiến hành theo các bước sau:
1.4.1. Khảo sát, điều tra và thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã
hội, cơ sở hạ tầng và hệ thống quản lý CTRSH tại tx.Thủ Dầu Một
1.4.2. Đánh giá hệ thống
Trang2


1.4.2.1 Đánh giá hệ thống kỹ thuật
1.4.2.2 Đánh giá hệ thống quản lý nhà nước.
1.4.3. Xây dựng hệ thống thu gom vận chuyển và trung chuyển CTRSH tại tx.Thủ
Dầu Một.


Dự báo sự phát triển của hệ thống và các vấn đề liên quan.

-

Dự báo sự gia tăng về khối lượng CTRSH tại tx.Thủ Dầu Một.

Dự báo cơ cấu và quy mô phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương
cho đến năm 2020




1.6 PHẠM VI ĐỀ TÀI
Đề tài được trình bày trong phạm vi khảo sát hiện trạng quản lý và đưa ra một số
giải pháp cho hệ thống quản lý CTRSH tại tx.Thủ Dầu Một

Trang4


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CHẤT THẢI RẮN
1.1.1 Chất thải rắn
Là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh
hoạt hoặc các hoạt động khác.Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và
chất thải rắn nguy hại
Chất thải rắn (CTR) phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng
được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt. CTR phát thải từ hoạt động sản xuất công
nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là
chất thải rắn công nghiệp.
1.1.2 Chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt là CTR phát sinh trong sinh hoạt cá nhân của các hộ gia
đình, khu nhà ở ( khu chung cư), khu thương mại, dịch vụ ( cửa hàng, chợ, siêu thị,
quán ăn, nhà hàng, khách sạn,…), các khu cơ quan ( trường học, bệnh viện, trung
tâm nghiên cứu, văn phòng, công ty,…), từ các hoạt động dịch vụ công cộng ( quét
dọn, vệ sinh đường phố, khu giải trí, công viên, hoạt động cắt tỉa cây xanh), hay từ
sinh hoạt của các cán bộ, công nhân viên trong một số các cơ sở công nghiệp ( khu
công nghiệp, nhà máy, cơ sở sản xuất vừa và nhỏ) và từ công tác nạo vét cống rãnh
thoát nước.
Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu trữ tạm thời
CTR tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có

Việt Nam hiện nay khoảng 0,6 kg/ người/ ngày đêm.
1.1.6 Nguồn gốc chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt được phát sinnh từ rất nhiều nguồn khách nhau.Nhưng chủ
yếu là từ các nguồn chính sau:
-Rác thải từ các hoạt động sinh hoạt gia đình, khu chung cư: Thành phần rác thải
này bao gồm: Thực phẩm, giấy, cartong, gỗ, thủy tinh, thiếc, nhôm, đồ điện tử gia
dụng, vỏ xe …
-Rác thải phát sinh từ các khu chợ, tụ điểm mua bán hàng hóa: Bao gồm: rau, củ,
quả hư hỏng, giấy báo, bao nilon, carton, đồ gia dụng…
-Rác thải phát sinh từ hoạt động làm vườn, hoạt động sản xuất nông nghiệp: Bao
gồm: rác thực phẩm, rơm rạ, gỗ, lá, thân, cành cây...
-Rác thải ở các khu công cộng: (như các khu vui chơi giải trí, công viên, bến xe,
trạm xe, ga tàu) bao gồm có các sản phẩm từ nhựa, giấy, thực phẩm, bao nilon…
-Rác thải từ các hoạt động quét don đường phố, cắt tỉa cây xanh: bụi, cát, cành cây,
lá cây, giấy vụn, bao nilon, xác chết động vật chết…
-Rác thải phát sinh ở các khu văn phòng, cơ quan, công sở, trường học: Bao gồm
các loại rác thực phẩm, giấy báo, bao nilon, bìa cartong…
-Ngoài ra còn có một lượng CTRSH được thải ra trong hoạt động giao thông đường
thủy, đó là các loại bao túi nilon, rác thực phẩm, các loại hộp… được thải bỏ trên
sông, kênh rạch của một số người dân.
-Rác xà bần từ các công trình xây dựng: Phát sinh từ các công trình xây dựng,

Trang6


đường giao thông. Các loại chất thải bao gồm: gỗ, thép, bêtông, gạch, thạch cao,
bụi…
1.2 THÀNH PHẦN VÀ TÍNH CHẤT CỦA CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
1.2.1 Thành phần của Chất thải rắn sinh hoạt
Thành phần lý, hóa học của CTRSH rất khác nhau, tùy thuộc vào từng vùng, địa


50.07

62.24

Giấy

2.72

2.82

0.59

Giẻ rách, củi, gỗ

6.27

2.72

4.25

Nhựa, nilon, cao su

0.71

2.02

0.46

Vỏ ốc, xương


Tạp chất khó phân hủy

30.21

23.9

15.7

(Nguồn: Đặng Kim Cơ, Kỹ thuật môi trường, NXB Khoa học kỹ thuật 2004)

1.2.2 Tính chất của CTRSH
1.2.2.1 Tính chất lý học
Những tính chất lý học quan trọng của CTRSH bao gồm khối lượng riêng, độ ẩm,
kích thước và sự phân bố kích thước, khả năng giữ nước và độ xốp (độ rỗng) của
CTR đã bị nén
Khối lượng riêng: Khối lượng riêng là khối lượng vật chất trên một đơn vị thể tích,
tính bằng kg/m3. Khối lượng riêng của CTRSH sẽ rất khác nhau tùy từng trường
hợp: Rác để tự nhiên không chứa trong thùng, rác chứa trong các thùng và không
nén, rác chứa trong thùng và nén. Khối lượng riêng của rác cũng rất khác nhau tùy
theo vị trí địa lý, mùa trong năm và thời gian lưu trữ,…Khối lượng riêng của
CTRSH ở các khu đô thị lấy từ xe rác thường giao động trong khoảng 415 – 1778
kg/m3, và giá trị đặc trưng thường vào khoảng 297kg/m3.
Độ ẩm: Độ ẩm của CTR thường được biểu diễn theo một trong hai cách tính: tính
theo thành phần phần trăm khối lượng ướt và thành phần phần trăm khối lượng khô.
Độ ẩm của CTRSH có thể biểu diễn dưới dạng sau:
Trong đó:
M: Độ ẩm
w : Khối lượng ban đầu của mẫu (kg)
d : Khối lượng của mẫu sau khi đã sấy khô đến khối lượng không đổi 1500C(kg)

cơ bản nàyđược sử dụng để xác định công thức hoá học của thành phần chất hữu cơ
có trong CTRSH cũng như xác định tỉ lệ C/N thích hợp cho quá trình làm phân
compost.
Bảng 1.2Thành phần các nguyên tố của các chất cháy được có trong CTRSH từ khu
dân cư
Thành phần
Cacbon
a. Chất hữu cơ
Chất thải thực phẩm

48,0

Phần trăm khối lượng khô (%)
Lưu
Hydro
Oxy
Nitơ
huỳnh
6,4

37,6

Trang9

2,6

0,4

Tro
5,0

8,0
11,6
10,0
0,4
Rác vườn
47,8
6,0
38,0
3,4
0,3
Gỗ
49,5
6,0
42,7
0,2
0,1
b. Chất vô cơ
Thuỷ tinh
0,5
0,1
0,4

N : Nito, phần trăm khối lượng.
Btu/lb x 2,326 = KJ/kg.
Ở phương trình trên, thừa số (H2 -1/8O2) tính chỉ phần trăm hydro phản ứng với
oxy, vì thành phần này không tham gia tạo năng lượng của chất thải.
Chất dinh dưỡng và nguyên tố vi lượng : Nếu thành phần chất hữu cơ có trong
CTRSH được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất các sản phẩm nhờ quá trình
chuyển hóa sinh học như phân compost, methane, …Số liệu về chất dinh dưỡng và
nguyên tố vi lượng sẵn có trong CTRSH đóng vai trò quan trọng nhằm đảm bảo
dinh dưỡng cho vi sinh vật cũng như yêu cầu của sản phẩm sau quá trình chuyển
hóa sinh học.
1.2.2.3 Tính chất sinh học:
Ngoại trừ nhựa, cao su và đa phần chất hữu cơ của hầu hết CTRSH có thể phân loại
như sau:
• Những chất tan được trong nước như đường, tinh bột, amino acid hữu cơ
• Hemicellulose là sản phẩm ngưng tụ của đường 5carbon và đường 6 carbon
• Mỡ, dầu và sáp là những este của rượu và acids béo mạch dài
• Lignin là hợp chất phân tử chứa vòng thơm và các nhóm methoxyl

(-OCH3)

• Lignocellulose
• Proteins là chuỗi các amino acid
Hầu hết các thành phần trên đều có khả năng chuyển hóa sinh học tạo thành các khí,
chất rắn hữu cơ trơ và các chất vô cơ
Khả năng phân hủy sinh học của thành phần chất hữu cơ: Để biểu diễn khả năng
phân hủy sinh học của phần chất hữu cơ có trong CTRSH là không chính xác vì một
số thành phần chất hữu cơ rất dễ bay hơi nhưng rất khó bị phân hủy sinh học. Hàm
lượng chất rắn bay hơi có thể xác định bằng cách nung ở nhiệt độ 550 0C, thường
được sử dụng để đánh giá khả năng phân hủy sinh học của thành phần chất hữu cơ
trong CTRSH.

và suy giảm đa dạng sinh học. Trong đó có vấn đề ô nhiễm do CTRSH đang ngày
càng trở nên bức xúc và đòi hỏi phải có phương án quản lý, xử lý hợp lý và kịp thời.
- Thực tế về vấn đề môi trường trong khoảng thời gian gần đây chúng ta thấy tại
một số địa phương trên cả nước đã xuất hiện những điểm nóng về ô nhiễm môi
trường do CTR lên đến mức báo động, có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và đời
sống của người dân. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lý CTR trong một
thời gian dài đã không được chú trọng, quan tâm đến. Việc đưa ra các văn bản pháp
luật về bảo vệ môi trường và tổ chức thực hiện theo các văn bản đó trên cả nước
vẫn còn buông lỏng, yếu kém.
- Cho mãi tới tận gần đây, CTR vẫn được đổ đống ngoài bãi rác, chôn, đốt, và một
số loại rác thải từ nhà bếp, nhà hàng được sử dụng làm tức ăn cho động vật. Cộng
đồng vẫn chưa nhận thức được mối liên hệ giữa CTR với chuột, ruồi, gián, muỗi,
rận, ô nhiễm đất và nước. Người ta không biết rằng, CTR trong các bãi rác là nơi
sinh sống của một số loại véc - tơ truyền các bệnh: sốt thương hàn, sốt vàng, sốt
xuất huyết, sốt rét, tả v.v…Do vậy, những phương pháp xử lý CTR rẻ nhất, nhanh
Trang12


nhất và thuận tiện nhất đã được sử dụng. Các khu vực nông thôn và các thị trấn nhỏ
sử dụng các bãi rác ngoài trời.Các thị xã và các thành phố lớn hơn sử dụng các lò
đốt nhỏ.Sau này, chôn lấp vệ sinh mới trở thành một biện pháp xử lý CTR được
nhiều nơi lựa chọn.Ở Việt Nam, có nhiều phương pháp xử lý rác nhưng chủ yếu là
đổ vào bãi rác, chôn lấp rác, ủ rác và đốt rác.
- Một vấn đề đáng lưu tâm về CTRSH hiện nay nữa là trong CTR thành phố vẫn
còn chứa nhiều vật liệu có thể thu hồi và tái sử dụng. Ở nước ta vấn đề này chưa
được chú trọng lắm vì hiện tại chúng ta có một số lượng người đào bới rác và thu
hồi phế liệu rất đông đảo. Tuy vậy, việc quản lý sức khỏe của những người bới rác
lại là một mối quan tâm lớn
- Theo số liệu điều tra năm 2007 của Tổng cục Môi trường (Cục Bảo vệ Môi trường
trước đây) chất thải rắn sinh hoạt trong cả nước phát sinh khoảng 17 triệu tấn, trong


Lượng CTRSH đô thị phát


quân trên đầu người

sinh

Tấn/ngày
Tấn/năm
(kg/người/ngày)
1
Đặc biệt
0,84
8.000
2.920.000
2
Loại I
0,96
1.885
688.025
3
Loại II
0,72
3.433
1.253.045
4
Loại III
0,73
3.738

trường học

Nông nghiệp

Rác thải
thải

Bệnh viện, cơ
sở y tế

Chính quyền
địa phương

Khu công
nghiệp, nhà
máy, xí nghiệp

1.4.2. Phân loại chất thải rắn tại địa bàn tỉnh Bình Dương
CTR đô thị từ tất cả các nguồn thải khác nhau trên địa bàn tỉnh được phân loại theo
Trang14


hai nhóm chính:

Nhóm các CTR cần được xử lý, chôn lấp: Các chất thải hữu cơ ( các loại cây
gỗ, bụi cây, rau, thực phẩm, xác động vật…) các sản phẩm tiêu dùng chứa các hóa
chất nguy hại (pin, ăc quy, dầu mỡ bôi trơn…) và các loại CTR khác không thể tái
sử dụng được nữa.

Nhóm các CTR có thể thu hồi để tái sử dụng, tái chế: phế liệu thải từ quá

trạm trung chuyển) chưa được đầu tư xây dựng đúng mức, đúng quy cách. Hệ thống
Trang15


vận chuyển chưa đáp ứng nhu cầu vận chuyển CTR hàng ngày gây nên tình trạng
tồn đọng CTR trong khu dân cư
- Do hiện nay, tỉnh vận chưa có đầy đủ hệ thống văn bản pháp quy về CTR, chưa
quản lý tốt lực lượng thu gom rác dân vận tuyến thu gom vận chuyển còn chưa
đồng đều nên không đạt hiệu quả cao về kinh tế. Hơn nữa, do hệ thống kỹ thuật
công nghệ chưa theo kịp với nhịp phát triển của Tỉnh và trang thiết bị còn thiếu
thốn. Từ những nguyên nhân trên mà xảy ra tình trạng thu gom, vận chuyển không
đạt chất lượng vệ sinh, thu gom không đúng giờ, đúng tuyến, trang thiết bị không
đồng bộ và gây ô nhiễm, thiếu mỹ quan, các xe đi thu gom rác tại các địa điểm thì
dính bụi bẩn và bốc mùi.
- Khảo sát thực tế cho thấy việc quản lý CTRSH hiện còn nhiều bất cập. Việc sử
dụng các xe thô sơ, không kín đáy, chở rác quá tải làm rơi vãi, nước rỉ rác chảy dọc
đường đã gây ô nhiễm và làm mất mỹ quan đô thị. Các thùng, xe thô sơ đẩy tay với
kích thước, hình dạng khác nhau cũng ảnh hưởng đến khâu chuyển rác từ xe thô sơ
đến xe cơ giới, công nhân làm việc nặng nhọc, thời gian chuyển giao rác kéo dài…
- Việc thu gom và vận chuyển chất thải rắn tại tỉnh Bình Dương do khoảng 65 đơn
vị, cá nhân thực hiện.
- Trước đây, CTRSH tại các huyện, thị của tỉnh Bình Dương đều được xử lý bằng
cách đổ bỏ tại các bãi rác tự phát của Thị xã, các huyện nhưng đây chỉ là các bãi rác
hở, không được chống thấm, không theo đúng yêu cầu về bảo vệ môi trường. Hầu
hết rác tại các bãi rác được đổ thành đống (sau khi công nhân và những người sống
xung quanh nhặt hết phế liệu còn soát lại trong bãi rác) rồi để rác phân hủy tự
nhiên.Cách xử lý này vừa mất vệ sinh, vừa gây ô nhiễm môi trường
- Hiện nay, Khu liên hợp xử lý Chất thải Nam Bình Dương nhận hầu hết lượng
CTRSH tại các đô thị của Tỉnh và đều được hợp đồng vận chuyển về xử lý tại khu
liên hợp ngoại trừ các huyện Dầu Tiếng, Phú Giáo và Tân Uyên ở cách xa khu liên

phố Hồ Chí Minh bởi quốc lộ 13, với quận 12 qua cầu Phú Long và với huyện Củ
Chi qua cầu Phú Cường. Diện tích 88 km2
2.1.2. Địa hình:
Tx.Thủ Dầu Một có địa hình tương đối bằng phẳng, nên địa chất tương đối ổn định,
vững chắc, phổ biến là những dãy đồi phù sa cổ nối tiếp nhau, với độ dốc không quá
3 – 150. Đặc biệt có vài ngọn đồi, núi nhấp nhô lên giữa địa hình bằng phẳng
Từ phía Nam lên phía Bắc, theo độ cao có các vùng địa hình:
-Vùng thung lũng bãi bồi, phân bố dọc theo các sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và
sông Bé. Đây là vùng thấp nhất, phù sa mới, khá phì nhiêu, bằng phẳng, có độ cao
trung bình là 6 – 10 m.
- Vùng địa hình bằng phẳng, nằm kế tiếp sau các vùng thũng bãi bồi, địa hình tương
đối bằng phẳng, độ dốc 3 – 120, cao trung bình từ 10 – 30m.
- Vùng địa hình đồi thấp có lượn sóng yếu, nằm trên các nền phù sa cổ, chủ yếu là

Trang17


các đồi thấp với địa hình bằng phẳng, liên tiếp nhau, có độ dốc từ 5 – 120, độ cao
phổ biến là 30 – 60m.
- Với địa hình cao trung bình từ 6 – 60 m, nên trừ một vài thung lũng dọc sông Sài
Gòn và sông Đồng Nai, đất đai ở Bình Dương ít bị lũ lụt, ngập úng. Địa hình của
tx.Thủ Dầu Một tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc mở manng hệ thống giao
thông, xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp và sản xuất nông nghiệp
2.1.3 Khí hậu:
-Khí hậu ở tx.Thủ Dầu Một mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với hai mùa
rõ rệt: mùa mưa khoảng từ tháng 5 – 11, mùa khô khoảng từ tháng 12 năm trước
đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1800 – 2000mm với số
ngày mưa là 120 ngày.Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9, với lượng mưa trunng bình
là 335mm, có năm lượng mưa còn cao đến 500mm, tháng ít mưa nhất là tháng 1,
mưa trung bình dưới 50mm và nhiều năm trong tháng này không có mưa.

được triển khai thực hiện.
- Cơ cấu kinh tế của tx.Thủ Dầu Một: Có địa hình đồng bằng thích hợp với việc
trồng lúa, cây ăn quả, mía, sắn; chăn nuôi các loại gia súc như lợn, bò.
Thủ Dầu Một nguyên cũng nổi tiếng sản xuất hàng sơn mài gốm sứ, mây tre đan.
Ngoài ra: cơ khí lắp ráp, vật liệu xây dựng, hóa chất, cơ điện, may mặc, sản xuất
đường mía, chế biến thực phẩm.
Khu liên hợp công nghiệp, dịch vụ, đô thị 4.200 ha đang được xây dựng.
- Hoạt động nội thương tiếp tục phát triển, nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu sản
xuất và tiêu dùng của người dân.
- Tình hình chính trị - quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội ổn định.Các loại
tội phạm giảm nhiều so với nhiều năm trước.
- Về giáo dục, tốc độ phát triển trường lớp cũng chưa đáp ứng kịp nhu cầu của
người dân, việc phổ cập giáo dục chưa phổ biến.
- Ở các trung tâm y tế và các trạm y tế còn thiếu nhân sự nên việc chăm sóc sức
khỏe cộng đồng và kiểm tra dịch vụ hành nghề dược tư nhân đang còn nhiều hạn
chế
- Chương trình “xóa đói giảm nghèo” chưa đảm bảo tính căn bản, chỉ mới dừng ở
việc cho vay vốn, tìm việc làm và trợ cấp khó khăn. Công tác giải quyết hành chính
của dân vẫn còn chậm, tinh thần, tác phong, thái độ phục vụ của cán bộ, công chức
ở một số bộ phận, một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu.Nghiệp vụ hành chính còn yếu,
nhất là ở các cấp cơ sở nên hiệu quả công việc mang lại ở một số lĩnh vực không
đáp ứng được sự mong đợi của người dân và xã hội.
- Ý thức chấp hành pháp luật ở một số bộ phận người dân còn khá thấp.
- Vì ý thức của người dân chưa cao nên việc tuyên truyền giáo dục về môi trường
nói chung và CTR nói riêng gặp nhiều khó khăn, người dân vứt rác bừa bãi khắp
nơi.
- Về quan điểm chung, tx.Thủ Dầu Một sẽ phát triển thành trung tâm đô thị theo
hướng văn minh hiện đại, là trung tâm chính trị, kinh tế - xã hội, khoa học – kỹ
thuật của Bình Dương và cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
2.2.3 Cơ sở hạ tầng


CHƯƠNG 3
HIỆN TRẠNG VÀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH
HOẠT TẠI THỊ XÃ THỦ DẦU MỘT – TỈNH BÌNH DƯƠNG
3.1 HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ HÀNH CHÁNH CHẤT THẢI
RẮN SINH HOẠT TẠI THỊ XÃ THỦ DẦU MỘT.
3.1.1 Cơ cấu tổ chức
Việc quản lý đô thị và các đơn vị thực hiện thu gom, vận chuyển về CTRSH do
Phòng Quản lý đô thị thực hiện. Nhưng việc kiểm soát và quản lý các vấn đề ô
nhiễm môi trường trong thu gom, vận chuyển ở các cấp xã, phường do các tổ chức,
đội thu gom rác của từng xã, phường thực hiện, ở cấp thị xã thì do Công ty TNHH
1TV Công Trình Đô Thị Bình Dương. Công tác về môi trường nói chung và
CTRSH nói riêng hầu hết đều do Công ty TNHH 1TV Công Trình Đô Thị Bình
Dương hoặc các tổ, đội thu gom rác dân lập tại các phường xã trong Thị xã.
Với cơ cấu tổ chức chồng chéo, vấn đề thực hiện các chương trình kế hoạch về
quản lý CTRSH của Thị xã hầu như khó thực hiện.Công tác quản lý CTRSH hiện
nay trên địa bàn Thị xã chỉ mang tính chất giải quyết cục bộ, giải quyết những vấn
đề phát sinh, mò mẫn thực hiện chứ không theo lộ trình, phương pháp thực hiện cụ
thể mang tính chất chiến lược dài hạn
3.1.2 Cơ cấu nhân sự
Hiện nay, cán bộ quản lý về môi trường tại Thị xã có số lượng khá hạn chế. Tuy
phòng tài nguyên và môi trường có số lượng nhân sự khá đông nhưng số cán bộ về
quản lý môi trường thì rất ít. Trong đó số lượng cán bộ có trình độ chuyên môn về
môi trường chiếm chưa tới 40% tổng số lượng cán bộ. Những cán bộ có trình độ
chuyên môn về môi trường đều là những cán bộ có trình độ, có tuổi đời rất trẻ(hầu
hết mới ra trường) nên kinh nghiệm về quản lý chưa nhiều. Số còn lại thì có kinh
nghiệm trong quản lý nhưng trình độ chuyên môn còn hạn chế nên gặp nhiều khó
khăn trong quản lý môi trường.Phòng quản lý đô thị cũng là những cán bộ quản lý
về xây dựng nhà cửa là chủ yếu.
3.2. HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG THU GOM CTRSH TẠI TX.THỦ DẦU

KCN

Bệnh
viện

Đường phố
và CTCT

Chợ
Tổ
thu
gom
rác
dân
lập

Thu gom mỗi ngày
Rác trơ

Xe thu gom rác
đẩy tay
Điểm hẹn

Đổ lên xe chở rác

Xe thu gom
rác phế liệu
Nhặt phế liệu

Khu

Công ty TNHH một thành viên công trình đô thị Bình Dương đảm trách. Các cá
nhân thu gom rác dân lập được công ty thu nhận hoặc hợp đồng thực hiện theo các
yêu cầu chất lượng vệ sinh do Công ty đặt ra.

Nguồn
rác

Xe đẩy tay, xe ba gác,
thùng đựng rác cố định,
di động

Bô rác khép kín

Điểm hẹn

Xe ép 2- 7 tấn

Bãi đổ

Hình 3.2: Sơ đồ thu gom và vận chuyển rác đô thị tại Tx.Thủ Dầu Một

Rác sau khi thu gom được đưa về đổ tại bãi rác có diện tích 7.000m 2 nằm ở
phường Hiệp Thành, cách trung tâm Thị xã khoảng 2,5km, xung quanh là khu dân
cư. Đây là bãi rác lộ thiên không được quy hoạch và thiết kế vệ sinh ngay từ
đầu.Rác được đổ bừa bãi và hôi thối gây ô nhiễm môi trường quan trọng ảnh hưởng
đến việc sử dụng nước ngầm của khu vực dân cư lân cận.Nhiều giếng nước ở đây
đã bị ô nhiễm nặng và không thể sử dụng được nữa. Hơn nữa với sự ô nhiễm ( ruồi
nhặng, kí sinh trùng) tại bãi rác này sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sức khỏe
của người dân sống xung quanh bãi rác.Đặc biệt là đối với những người sống bằng
nghề rác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status