ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG MINH TIẾN
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI
NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG MINH TIẾN
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI
NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số
: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Đức Phúc
HÀ NỘI - 2015
BLHS
Bộ luật hình sự
CTTP
Cấu thành tội phạm
KCN
Khu công nghiệp
PLHS
Pháp luật hình sự
TN&MT
Tài nguyên và Môi trường
TNHS
Trách nhiệm hình sự
VPPL
Vi phạm pháp luật
WHO
minh. Kiên định với mục tiêu đó, cần ý thức rõ phải có sự kết hợp chặt chẽ,
hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi
trường, phải quan tâm và hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật về bảo
vệ môi trường. Trong quá trình phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tạo ra những cơ hội lớn
để đất nước phát triển nhanh, toàn diện và vững chắc hơn, bên cạnh mục tiêu
vì sự phát triển kinh tế nhanh luôn kéo theo nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi
1
phải xử lý tốt để phát triển bền vững, trong đó có vấn đề rất quan trọng là bảo
vệ môi trường. Sự phát triển kinh tế - xã hội luôn đi kèm với nó là việc gia
tăng khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hệ quả là số
lượng và tính chất độc hại của các loại chất thải nói chung và chất thải nguy
hại nói riêng phát sinh ngày một nhiều hơn gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe
con người và đời sống xã hội. Điển hình một số vụ việc về vi phạm về bảo vệ
môi trường trong đó có vi phạm về quản lý chất thải nguy hại của một số
doanh nghiệp lớn mới bị phát hiện thời gian gần đây như: Công ty TNHH
Vedan Việt Nam; Công ty cổ phần Công nghiệp Tungkuang, Công ty TNHH
Miwon Việt Nam, Công ty cổ phần Thuộc da Hào Dương, Công ty cổ phần
Giấy Việt Trì, Công ty cổ phần Sonadezi Long Thành và Công ty TNHH Tân
Phát Tài (Đồng Nai); Công ty TNHH Long Tech Precision (Bắc Ninh), Công
ty TNHH MTV Môi trường và Đô thị Hà Nội (URENCO), đặc biệt gần đây
là vụ vi phạm của Công ty Nicotex Thanh Thái ở tỉnh Thanh Hóa…đã gây
hậu quả rất nghiêm trọng đến đời sống sức khỏe nhân dân và gây bức xúc
rộng rãi trong dư luận cần được xem xét xử lý nghiêm theo pháp luật.
Các nước trên thế giới cũng như Việt Nam có nhiều biện pháp để ngăn
chặn và xử lý các vụ việc vi phạm về bảo vệ môi trường như biện pháp xử
phạt vi phạm hành chính nhưng có lẽ biện pháp hữu hiệu và có tính răn đe
hơn cả là biện pháp dùng pháp luật hình sự (PLHS). Với những đặc điểm của
nhưng thực tiễn xét xử cho thấy có rất ít vụ việc được đem ra xử lý hình sự.
Vậy vai trò và ý nghĩa của các biện pháp PLHS đối với đấu tranh
phòng ngừa và chống các tội phạm về môi trường nói chung và tội vi phạm về
quản lý chất thải nguy hại nói riêng phải chăng chưa được nhận thức một cách
sâu sắc cũng như chưa được đánh giá một cách đúng đắn? Hay việc quy định
cụ thể trong Điều 182a còn chưa phù hợp, khó áp dụng trong quá trình điều
tra, truy tố, xét xử trong thực tiễn? Cần sự đầu tư nghiên cứu một cách khoa
học và thực tiễn để có thể sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể của Điều luật
3
này và các văn bản hướng dẫn có liên quan nhằm áp dụng được Điều luật này
trên thực tiễn để trừng trị và răn đe các hành vi vi phạm về quản lý chất thải
nguy hại.
Có thể khẳng định trước yêu cầu cấp thiết của thực tiễn cần có nghiên
cứu sâu về các quy định hiện hành đối với tội phạm này. Đã có nhiều công
trình khoa học nghiên cứu về các tội phạm môi trường nói chung, về trách
nhiệm hình sự đối với tội phạm môi trường… nhưng chưa có nghiên cứu riêng
nào cho tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại. Vì vậy, tác giả
mạnh dạn chọn đề tài “Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
trong Luật Hình sự Việt Nam” để nghiên cứu và làm luận văn thạc sỹ luật
học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, do đất nước ta chuyển từ bao
cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên vấn đề ưu tiên
phát triển kinh tế được ưu tiên hàng đầu. Vì lẽ đó mà các tội phạm về môi
trường và TNHS đối với tội phạm về môi trường là vấn đề còn khá mới trong
khoa học luật hình sự và còn ít được nghiên cứu do thực tiễn những năm
trước đây mới phát sinh. Qua những năm thu hút đầu tư nước ngoài ồ ạt dẫn
trường, cụ thể là chính sách về tội phạm hoá các hành vi xâm hại môi trường
và kèm theo đó là chính sách về hình sự hoá các biện pháp tác động đối với
các tội phạm về môi trường, chính sách tổ chức đấu tranh phòng chống tội
phạm về môi trường... qua nội dung bài viết người đọc một cái nhìn tổng quát
nhưng sâu sắc đối với tội phạm về môi trường.
- GS.TS Võ Khánh Vinh còn đề cập đến vấn đề TNHS đối với các tội
phạm về môi trường như khái niệm, đặc điểm, các hình thức của TNHS trong
bài viết "Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm về môi trường theo pháp luật
hình sự hiện hành; Ngoài ra, GS.TS Võ Khánh Vinh cũng có nghiên cứu về
5
"Những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tội phạm hóa các hành vi nguy
hiểm cho xã hội xâm phạm môi trường", đề cập đến vấn đề TNHS khi phân
tích cơ sở của việc tội phạm hoá các hành vi xâm hại môi trường và hoàn
thiện các quy định của PLHS về tội phạm về môi trường.
- Trong công trình nghiên cứu "Tội phạm về môi trường - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn" do PGS.TS Phạm Văn Lợi chủ biên, ông và các đồng
nghiệp của ông đã đi sâu phân tích các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về
môi trường, chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa tội phạm về môi
trường với các tội phạm khác. Công trình nghiên cứu này giúp nhận thức sâu
hơn và có cách nhìn mới hơn về các tội phạm về môi trường, đặc biệt là về
tính phức tạp của chúng, từ đó nhận diện để áp dụng trong thực tiễn và hoàn
thiện PLHS.
- Vấn đề tội phạm về môi trường cũng được các bộ, ngành phối hợp
nghiên cứu trong một số đề tài khoa học và được đánh giá là có kết quả tốt
như: Đề tài khoa học cấp Bộ "Cơ sở khoa học định lượng hóa khung hình
phạt tội phạm về môi trường" do Cục Môi trường (thuộc Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường trước đây) phối hợp với Viện Nhà nước và Pháp luật thực
phần lớn các công trình nghiên cứu đều tập trung nghiên cứu các dấu hiệu
CTTP của các tội phạm về môi trường, TNHS đối với tội phạm về môi trường
chứ chưa có đề tài/công trình nào nghiên cứu cụ thể về hành vi vi phạm quy
định về quản lý chất thải nguy hại. Đặc biệt chưa có những nghiên cứu sâu, cụ
thể về cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng “Tội vi phạm quy định về quản lý
chất thải nguy hại trong Luật hình sự Việt Nam”. Điều đó càng cho thấy
tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ở cấp độ luận văn thạc sĩ mà tác giả
đang thực hiện.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tội Vi phạm quy định về quản lý
CTNH và thực trạng xử lý các VPPL về quản lý chất thải nguy hại. Qua đó
7
kiến nghị và đề xuất những nội dung cơ bản hoàn thiện quy định của BLHS
Việt Nam hiện hành về Tội này cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả xử
lý đối với hành vi vi phạm về quản lý chất thải nguy hại.
3.2. Về phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là về những vấn đề lý luận và thực tiễn
về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại được quy định trong
Điều 182a BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
- Về địa điểm: Luận văn nghiên cứu thực trạng việc điều tra, truy tố, xét xử
các hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn toàn quốc.
- Về thời gian: trong khoảng thời gian 5 năm (2010 – 2014) kể từ khi Bộ
luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về tội danh này.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Với việc nghiên cứu đề tài “Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải
nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam”, Luận văn hướng vào làm rõ cơ sở lý
Chính trị như: Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15 tháng 11
năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013
về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và
bảo vệ môi trường; Chỉ thị số 48- CT/TW ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Bộ
Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống
tội phạm trong tình hình mới.
Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử
dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như:
phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương
pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội
9
học để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề
tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Hiện nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu chung về tội phạm về môi
trường hoặc trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường nhưng chưa có đề tài nghiên cứu riêng về tội vi phạm quy định
về quản lý chất thải nguy hại.
- Nghiên cứu “Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
trong Luật Hình sự Việt Nam” góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận cho các quy
định PLHS đối với nhóm các tội phạm về môi trường nói chung và tội vi
phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại nói riêng.
- Những đề xuất trong Luận văn sẽ giải quyết vấn đề thực tiễn áp dụng
nhằm xử lý, răn đe, ngăn chặn kịp thời các tội phạm về quản lý chất thải nguy
hại, tránh hậu quả đối với sức khỏe con người và cho xã hội.
- Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo không những cho
các nhà lập pháp sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành để góp
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Những vấn đề chung về quản lý chất thải nguy hại
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm về chất thải nguy hại
Hoạt động sản xuất và tiêu dùng của con người luôn làm phát sinh ra
các loại chất thải. Hiểu một cách đơn giản, chất thải là những chất không sử
dụng được nữa, do con người thải bỏ ra trong hoạt động của mình. Theo định
nghĩa tại Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2014:
“Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt
hoặc hoạt động khác” [45]; Khoản 13 Điều 3 Luật BVMT năm 2014 quy
định: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây
nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại
khác”[45]. Từ những quy định này, chúng ta có thể hiểu về chất thải như sau:
i) Chất thải trước hết là dạng vật chất chất cụ thể, tồn tại ở các dạng:
rắn, lỏng, khí.
ii) Loại vật chất này được sinh ra từ các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, sinh hoạt, hoặc các hoạt động khác do con người thực hiện.
iii) Loại vật chất đó bị chủ sở hữu thải bỏ. Như vậy, vật chất đó có phải
là chất thải hay không phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của chủ sở
hữu. Tuy nhiên, phải loại trừ trường hợp do đặc thù trong hoạt động của
mình, chủ sở hữu phải thải bỏ vật chất và hoạt động thải bỏ này mang tính
chất bị động đối với chủ sở hữu cũng như đối với đối tượng khác. Một vật
chất sẽ tồn tại dưới dạng chất thải từ khi chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp
pháp thải ra cho đến khi nó được đưa vào sử dụng ở một chu trình sản xuất
hoặc chu trình sử dụng khác [31, tr.45].
12
Hiện nay, dựa trên tính chất vật lý và hóa học của chất thải, các quy
định pháp lý chuyên ngành về bảo vệ môi trường chia chất thải thành: Chất
tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại đến
môi trường và sức khỏe con người” [48].
Định nghĩa này đã được sửa đổi và diễn đạt ngắn gọn và súc tích hơn
tại Khoản 11 Điều 3 Luật BVMT năm 2005: “Chất thải nguy hại là chất thải
chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây
ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác”. Đến Luật BVMT năm 2014, khái
niệm chất thải nguy hại cơ bản kế thừa và nhấn mạnh đặc tính “lây nhiễm”
lên trước một số đặc tính khác.
Khi đối chiếu khái niệm chất thải nguy hại ở 03 văn bản pháp luật trên,
có thể dễ dàng nhận thấy về mặt hình thức thì khái niệm chất thải nguy hại
trong Luật BVMT năm 2005 và Luật BVMT năm 2014 đã rút gọn đi rất nhiều
về số lượng câu, chữ, cách diễn đạt cũng rõ ràng hơn và súc tích hơn. Tuy
nhiên, điều đó vẫn không làm giảm hay sai lệch phần nội dung mà khái niệm
muốn đề cập đến: “Chất thải nguy hại là một loại chất thải, có các đặc tính
lý, hóa hoặc sinh học có thể gây nguy hại trực tiếp hay gián tiếp khi tương tác
với các chất khác”.
Có nhiều tiêu chí để phân loại chất thải nguy hại như: Phân loại theo
nguồn thải đặc thù, phi đặc thù; phân loại theo chất thải công nghiệp; phân
loại theo loại nguy hại; theo nhóm hóa học; theo thành phần hóa học ban đầu;
theo tình trạng vật lý…[26, tr.6]. Theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT
của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 26 tháng 12 năm 2006 về việc ban
hành danh mục chất thải nguy hại, chất thải nguy hại được phân loại theo các
nhóm nguồn hoặc dòng thải chính như: Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác,
chế biến khoáng sản, dầu khí và than; chất thải từ ngành sản xuất hóa chất vô
cơ, hữu cơ; chất thải từ ngành luyện kim; chất thải từ ngành sản xuất vật liệu
xây dựng và thủy tinh; chất thải từ ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; chất
14
Ba là, chất thải nguy hại được quản lý theo một quy chế riêng được quy
định rất chặt chẽ trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật BVMT
và BLHS... Đây là đặc điểm tương đối khác biệt so với các loại chất thải
thông thường khác. Bởi lẽ chất thải nguy hại có tính nguy hại cho con người
và môi trường cao hơn so với các loại chất thải khác. Quy chế quản lý chất
thải nguy hại là cơ sở pháp lý, là kim chỉ nam cho hoạt động quản lý đối với
chất thải nguy hại của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm hạn chế
một cách tối đa sự tác động xấu tới sức khỏe con người và môi trường của
chất thải nguy hại.
Bốn là, chất thải nguy hại cũng giống như các loại hình chất thải khác,
đòi hỏi chủ thể phát tán chất thải hoặc chủ thể quản lý phải có những nghĩa vụ
nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn. Tuy nhiên, khác với các loại chất thải
thông thường khác, chất thải nguy hại có tính nguy hiểm cao hơn nên các văn
bản quy phạm pháp luật quy định chặt chẽ hơn nghĩa vụ của các chủ thể trong
quản lý chất thải nguy hại, nếu để xảy ra những hậu quả nhất định thì sẽ phải
chịu trách nhiệm trước Nhà nước. Trong đó có hình thức trách nhiệm cao nhất
là trách nhiệm hình sự. Điều này là khác biệt so với các chất thải thông
thường, bởi lẽ đối với chất thải thông thường không có một quy chế riêng quy
định nghĩa vụ của chủ thể quản lý, mà thường nằm trong các quy định chung
về BVMT.
1.1.2. Khái niệm và quy trình quản lý chất thải nguy hại
Tại Khoản 3 Điều 3 Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèm
theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16 tháng 7 năm 1999 của Thủ
tướng Chính phủ quy định: “Quản lý chất thải nguy hại là các hoạt động
kiểm soát chất thải nguy hại trong suốt quá trình từ phát sinh đến thu gom,
vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và tiêu huỷ CTNH” [49].
16
nguy hại là những chủ thể có những hoạt động liên quan trực tiếp đến chất
thải nguy hại như: chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu huỷ.
Thứ hai, nội dung quản lý chất thải nguy hại là các hoạt động mà các
cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và các tổ chức, cá nhân có
liên quan phải thực hiện. Cụ thể là: các cơ quan nhà nước có trách nhiệm xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý chất thải nguy hại, thanh
tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm… các tổ chức, cá
nhân có liên quan phải tiến hành những hoạt động phân loại, thu gom, vận
chuyển, xử lý… chất thải nguy hại.
Quy trình quản lý chất thải nguy hại được thực hiện theo 5 giai đoạn.
Đó là:
Giai đoạn 1: Quản lý nguồn phát sinh chất thải nguy hại. Đây là việc
tiến hành các biện pháp để quản lý chất thải nguy hại ngay tại chính nguồn phát
sinh ra chất thải đó. Kiểm soát chất thải nguy hại tại nguồn là một công việc
khá phức tạp. Cách thông thường nhất được nhiều quốc gia sử dụng để giải
quyết những vấn đề trên là tiến hành thủ tục đăng ký cấp giấy phép đối với các
chủ nguồn thải chất thải nguy hại, đặc biệt là trong ngành công nghiệp.
Giai đoạn 2: Phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải nguy hại. Giai
đoạn này được thực hiện bằng việc phân loại, thu gom toàn bộ chất thải nguy
hại tại tất cả các nguồn phát sinh ra chúng. Sau khi tiến hành việc thu gom,
chất thải sẽ được vận chuyển đến khu xử lý và thải bỏ hoặc đến trạm trung
chuyển hay đến nơi lưu giữ tạm thời [48, tr.79].
Giai đoạn 3: Xử lý trung gian. Giai đoạn này được tiến hành bởi những
phương pháp xử lý khác nhau như: xử lý cơ học, xử lý hóa học, sinh học và
nhiệt… nhằm làm giảm khối lượng chất thải nguy hại, giảm thiểu hoặc loại bỏ
độc tính để phù hợp hơn với khâu thải bỏ cuối cùng.
18