LVTS 2015 tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong luật hình sự việt nam - Pdf 44

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐÌNH SÁNG

TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH
VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐÌNH SÁNG

TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH
VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60 38 01 04


Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU

1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH

9

VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI

1.1.

Chất thải nguy hại và quy định của pháp luật về quản lý chất

9

thải nguy hại
1.1.1. Khái niệm chất thải nguy hại

9

1.1.2. Quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại

11

1.2.

Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Bộ


39

1.3.2. Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức

41

4


1.3.3. Kinh nghiệm của Liên bang Nga

44

1.3.4. Kinh nghiệm của Cộng hòa Singapore

45

Chương 2:

THỰC TRẠNG VI PHẠM VÀ TÌNH HÌNH XỬ LÝ VI

48

PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY
HẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1.

Một số đặc điểm về tình hình kinh tế, xã hội của Hà Nội có


2.3.2. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử hành vi vi phạm quy định về

63

quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn thành phố Hà Nội và
những vướng mắc, bất cập
Chương 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƢỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH

69

CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI VI PHẠM QUY
ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ CÁC
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ ĐỐI
VỚI TỘI PHẠM NÀY

3.1.

Sự cần thiết và định hướng hoàn thiện các quy định của Bộ

69

luật hình sự Việt Nam về tội vi phạm quy định về quản lý chất
thải nguy hại
3.1.1. Sự cần thiết

69

3.1.2. Những định hướng hoàn thiện


Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự có liên

86

quan đến hoạt động xử lý tội vi phạm quy định về quản lý
chất thải nguy hại
3.3.1. Về các biện pháp ngăn chặn

86

3.3.2. Về yêu cầu đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến

87

hành tố tụng
3.4.

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý đối với tội vi

88

phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
3.4.1. Kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực áp dụng pháp luật của

88

các cơ quan quản lý môi trường và cơ quan tư pháp
3.4.2. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức của cộng

89


CTNH

: Chất thải nguy hại

KCN

: Khu công nghiệp

PLHS

: Pháp luật hình sự

QLCTNH : Quản lý chất thải nguy hại
TNHS

: Trách nhiệm hình sự

7


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Tình hình xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT

đặc biệt quan tâm và được hành động một cách quyết liệt và cấp thiết hơn.
Những thảm họa thiên nhiên gần đây diễn ra ngày càng liên tục với
mức tàn phá ngày càng cao. Để xảy ra những thảm họa này thì có rất nhiều
nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân chủ yếu từ sự tác động của
con người vào tự nhiên như: phá rừng, khí thải gây hiệu ứng nhà kính và hành
vi thải các chất thải ô nhiễm ra môi trường. Trong số các chất thải ra môi
trường có các chất thải nguy hại (CTNH). CTNH là một trong những dạng
chất thải có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao nhất, theo khoản 2 Điều 3
Quy chế quản lý chất thải nguy hại (QLCTNH) do Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành thì "chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có
một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ
ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với
các chất khác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người" [10].

9


Ở Việt Nam, như đã khẳng định ở trên, với đặc thù là một quốc gia
đang phát triển với tốc độ công nghiệp hóa cao, vấn đề BVMT chưa thực sự
được quan tâm nên các vi phạm quy định về QLCTNH ngày càng gia tăng với
tính chất ngày một nghiêm trọng. Tuy nhiên khung pháp lý để quản lý và xử
phạt các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về QLCTNH chưa thực sự
hoàn thiện. Bên cạnh đó, sự yếu kém trong khâu triển khai thực hiện làm cho
tình hình ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm do CTNH gây nên ngày
càng nghiêm trọng.
Thành phố Hà Nội là thủ đô và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội của cả nước, với tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh. Số lượng
các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) ở Hà Nội nằm trong
tốp dẫn đầu cả nước. Chính vì vậy, thực trạng vi phạm quy định về quản lý
môi trường nói chung trong đó có vi phạm pháp luật về QLCTNH ở Hà Nội

chức năng, trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn 2010 - 2014, vì những nguyên
nhân khác nhau mà các cơ quan chức năng chưa khởi tố được một vụ vi phạm
quy định về QLCTNH nào, mặc dù tình trạng vi phạm luôn có dấu hiệu gia
tăng. Việc phát hiện, xử lý nhiều vụ việc vi phạm quy định về QLCTNH chỉ
dừng lại ở mức độ xử lý hành chính. Nguyên nhân của tình trạng này có thể
xuất phát từ những nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, nhưng theo
quan điểm của chúng tôi, một trong những nguyên nhân quan trọng là sự chưa
hoàn thiện và đồng bộ của hệ thống pháp luật, trong đó có luật xử lý vi phạm
hành chính và các quy định của BLHS về QLCTNH.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện các quy định của BLHS về
tội vi phạm quy định về QLCTNH và nâng cao hiệu quả xử lý đối với tội
phạm này đang là vấn đề mang tính cấp thiết hiện nay, đặc biệt trên địa bàn
thành phố Hà Nội.
Cũng cần nói thêm, để hoàn thiện các quy định của BLHS, cần phải
được nghiên cứu trong một thể thống nhất với các quy định của cả hệ thống
pháp luật về QLCTNH, của luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực gây
ô nhiễm môi trường và QLCTNH cũng như các quy định của BLHS. Đó là lý

11


do giải thích vì sao mặc dù đây là một luận văn chuyên ngành luật hình sự và
tố tụng hình sự nhưng tác giả đề cập đến hệ thống pháp luật nói chung về loại
hành vi này.
Từ những sự phân tích trên, tác giả chọn đề tài "Tội vi phạm quy định
về quản lý chất thải nguy hại trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở
nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)" làm đề tài luận văn tốt
nghiệp cao học luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, việc nghiên cứu về tội phạm môi trường nói chung đã có

dân số và đa dạng về các loại hình KCN, CCN như ở thành phố Hà Nội. Như
vậy, một lần nữa khẳng định việc nghiên cứu đề tài "Tội vi phạm quy định về
quản lý chất thải nguy hại trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu
thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)" mang tính khách quan và cấp thiết.
Mặc dù là một đề tài nghiên cứu trên một địa bàn nhất định là thủ đô
Hà Nội, nhưng với sự đa dạng về loại hình KCN (lớn, vừa và nhỏ), với quy mô
lớn về mặt dân số nên đề tài cũng góp phần làm cơ sở chung cho việc nắm bắt
đặc điểm tình hình vi phạm của loại hành vi này tại các loại hình KCN khác
nhau trên một số địa phương trong cả nước, góp phần đấu tranh phòng chống
loại tội phạm này nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc thực hiện nghiên cứu đề tài "Tội vi phạm quy định về
quản lý chất thải nguy hại trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu
thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)" mục đích của luận văn nhằm làm rõ
những vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về QLCTNH như khái niệm,
đặc điểm của CTNH và QLCTNH đặc biệt là khái niệm, các dấu hiệu pháp lý
của tội vi phạm quy định về QLCTNH; Qua nghiên cứu về thực tiễn áp dụng
việc xử lý đối với tội phạm vi phạm quy định về QLCTNH, luận văn chỉ ra
những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của chúng để làm cơ sở cho việc đề
xuất các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện về các quy định trong BLHS để

13


đảm bảo vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với tội phạm này,
qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
này trên toàn quốc nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đảm bảo đạt được các mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn tập

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn bộ các quy định hiện hành về
CTNH và QLCTNH đặc biệt là quy định về tội vi phạm về QLCTNH trong
BLHS Việt Nam năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Về phạm vi
lãnh thổ, đề tài nghiên cứu tình hình xử lý hành vi vi phạm quy định về
QLCTNH trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn 5 năm từ 2010 - 2014.
3.4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tội vi phạm quy định về QLCTNH
và thực trạng vi phạm quy định về QLCTNH trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Qua đó đề xuất những nội dung cơ bản hoàn thiện quy định của BLHS Việt
Nam hiện hành về tội này.
4. Phƣơng pháp luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
Việc thực hiện đề tài được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp
phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu… nhằm phân tích các
tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề cần nghiên cứu mà đề
tài đặt ra.
5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Tính cho tới thời điểm hiện tại, đây là công trình nghiên cứu khoa học
đầu tiên ở cấp độ của một luận văn thạc sĩ luật học về tội vi phạm quy định về
QLCTNH theo quy định của BLHS Việt Nam, đặc biệt đề tài nghiên cứu trên
một địa phương nhất định là Hà Nội nên kết quả nghiên cứu của luận văn có ý
nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn. Điểm mới của luận văn gồm:

15


- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về

LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI

1.1.1. Khái niệm chất thải nguy hại
Có thể nói rằng, vấn đề BVMT chậm được quan tâm hơn một số lĩnh
vực khác, bởi lẽ phải đến năm 1993 chúng ta mới lần đầu tiên ban hành Luật
BVMT. Tuy nhiên, trước tình hình môi trường bị phá hoại ngày một nghiêm
trọng, vấn đề BVMT trở thành vấn đề nóng nên Đảng và Nhà nước ta đã có
những cải cách rất mạnh mẽ trong lĩnh vực pháp luật về BVMT. Trong số
những lĩnh vực được cải cách mạnh mẽ đó thì những sửa đổi, bổ sung về CTNH
và QLCTNH là một trong những minh chứng rõ nét. Cụ thể, khi ban hành Luật
BVMT 1993, các nhà làm luật mới chỉ nhắc đến chất thải một cách chung chung:
"2- Chất thải là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất
hoặc trong các hoạt động khác. Chất thải có thể ở dạng rắn, khí, lỏng hoặc các
dạng khác" [45]. Tuy nhiên, khái niệm cụ thể về CTNH vẫn chưa được quy
định cụ thể trong luật, trong giai đoạn này, khái niệm CTNH mới chỉ được
nghiên cứu dưới góc độ của khoa học về BVMT. Điều này có nhược điểm làm
giảm hiệu quả nhất định trong quá trình tăng cường pháp luật trong QLCTNH.
Sau một giai đoạn dài từ khi ban hành Luật BVMT năm 1993, phải
đến năm 1999 thì chúng ta mới có quy định cụ thể về khái niệm CTNH và
khái niệm này được quy định cụ thể tại Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg về
ban hành quy chế QLCTNH.
Xét về khoa học, quá trình hoạt động sản xuất và tiêu dùng của con
người luôn làm phát sinh ra các loại chất thải. Hiểu một cách đơn giản, chất
thải là những chất không sử dụng được nữa, do con người thải bỏ ra trong

17


hoạt động của mình. Theo quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật BVMT Việt
Nam 2005 thì "Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản

21


mục 2.1 của Thông tư 12/2006/TT-BTNMT và khoản 1 Điều 3 Thông tư
12/2011/TT-BTNMT. Các nhà làm luật đã không coi quản lý chất thải nguy
hại là các hoạt động riêng lẻ liên quan đến chất thải nguy hại nữa mà coi nó là
một quá trình từ phòng ngừa cho đến giảm thiểu và cho đến khâu cuối cùng là
xử lý chất thải nguy hại. Các nhà làm luật đã liệt kê hàng loạt các khâu của
việc QLCTNH theo một quá trình chặt chẽ hơn, bao gồm các khâu phòng
ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái
chế và xử lý CTNH. Như vậy, trách nhiệm quản lý chất thải của cơ quan nhà
nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc QLCTNH không chỉ có từ
khi chất thải đó phát sinh, mà các chủ thể trên còn có trách nhiệm trong việc
phòng ngừa, giảm thiểu và giám sát bằng việc áp dụng mọi biện pháp kĩ thuật
hiện đại, công nghệ tiên tiến… nhằm hạn chế lượng CTNH phát sinh trên
thực tế hoặc chủ động kịp thời ứng phó khi có các sự cố môi trường xảy ra.
Đồng thời không chỉ liên quan đến công tác QLCTNH trực tiếp mà còn ở
dạng thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTNH. Như vậy,
phạm vi quy định về QLCTNH rộng hơn rất nhiều so với các quy định trước
kia, đòi hỏi trách nhiệm của các chủ thể QLCTNH là lớn hơn trong việc
QLCTNH.
Theo quy định trên, quản lý CTNH có những đặc điểm sau:
Một là, trách nhiệm quản lý chất thải thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm
quyền QLCTNH và các tổ chức, cá nhân có liên quan. Các cơ quan nhà nước có
trách nhiệm QLCTNH trong phạm vi chức năng luật định. Các tổ chức, cá nhân
có trách nhiệm QLCTNH là những chủ thể có những hoạt động liên quan trực
tiếp đến CTNH như: chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái
chế, xử lý, tiêu hủy.
Hai là, nội dung quản lý CTNH là các hoạt động mà các cơ quan quản
lý nhà nước về BVMT và các tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện.

như: chôn lấp hoặc thiêu đốt [55, tr. 79].
Việc quản lý CTNH có thể được thực hiện bằng nhiều công cụ như:
kinh tế, pháp lý, kĩ thuật… trong đó công cụ pháp lý được coi là phương tiện

23


hiệu quả hàng đầu trong công tác QLCTNH, thông qua việc ban hành các văn
bản quy phạm pháp luật và hệ thống các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường.
1.2. TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.2.1. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam từ năm 1945
đến nay về các tội phạm môi trƣờng nói chung và tội vi phạm quy định về
quản lý chất thải nguy hại nói riêng
Có thể chia lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự
(PLHS) Việt Nam về tội vi phạm quy định về QLCTNH thành ba giai đoạn,
bao gồm: giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất BLHS 1985; giai đoạn từ khi pháp điển hóa lần thứ nhất - BLHS 1985 đến khi
đến khi BLHS 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; giai đoạn từ khi BLHS
1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 đến nay.
1.2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ
nhất - Bộ luật hình sự năm 1985
Trong giai đoạn trước khi có BLHS năm 1985, do những nguyên nhân
cả chủ quan lẫn khách quan như hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước ta
khi vừa trải qua một thời gian dài của chiến tranh giành độc lập, điều kiện
kinh tế xã hội còn khó khăn v.v… nên những quy định của pháp luật về
BVMT khỏi sự ô nhiễm chưa được quan tâm, chú trọng nhiều. Từ những năm
1960, vấn đề BVMT đã được Nhà nước ta quan tâm thông qua các chủ
trương, chính sách như: Chỉ thị số 07/TTg ngày 16/01/1964 về việc thu tiền
bán khoán lâm sản và chi tiền nuôi rừng; Pháp lệnh quy định bảo vệ rừng

phạm sẽ bị truy cứu TNHS. Đây là lần đầu tiên vấn đề BVMT được ghi nhận
trong BLHS, tuy nhiên vấn đề này chưa được quy định trong một chương riêng
biệt trong BLHS mà nó được ghi nhận tại 4 điều luật trong các chương VIII
"các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính" và
chương VII "các tội phạm về kinh tế" đó là: Điều 180 - Tội vi phạm các quy
định về quản lý và bảo vệ đất đai, Điều 181 - Tội vi phạm các quy định về
quản lý bảo vệ rừng, Điều 195 - Tội vi phạm các quy định về BVMT gây hậu

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status