Ưu điểm và hạn chế của các quy định pháp luật về quản lý chất thải nguy hại - Pdf 34

MỤC LỤC
Lời mở đầu ……………………………………………………………………………..1
Nội dung …......................................................................................................................1
1. Những quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại …………………...1
1.1 Khái quát chung về quản lý chất thải nguy hại ……………………………….1
1.2 Các quy định về quản lý chất thải nguy hại ……………………………………2
1.3 Trách nhiệm của các chủ thể trong quản lý chất thải nguy hại ………………4
1.4 Xử lý vi phạm trong quản lý chất thải nguy hại ……………………………….5
2. Ưu điểm và hạn chế của các quy định pháp luật về
quản lý chất thải nguy hại ………………………………………………………....5
2.1 Ưu điểm …………………………………………………………………………5
2.2 Hạn chế ………………………………………………………………………...7
3. Những giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật
về quản lý chất thải nguy hại ……………………………………………………..9
Kết luận ……………………………………………………………………………….10
Danh mục tài liệu tham khảo ………………………………………………………..11

1


LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay đang thúc đẩy sự
phát triển nhanh chóng của các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Tuy nhiên cùng
với sự phát triển của kinh tế đó sự gia tăng không ngừng của các loại chất thải gây ảnh
hưởng không nhỏ đến môi trường. Để bảo vệ môi trường đảm bảo cho sự phát triển bền
vững thì một trong những yêu cầu cấp bách đặt ra đó là phải có cơ chế quản lý các loại
chất thải đặc biệt là chất thải nguy hại. Việc quảnh lý chất thải nguy hại có thể được tiến
hành dưới nhiều cách thức, biện pháp khác nhau nhưng để đảm bảo cho việc quản lý
thực sự hiệu quả thì trước hết cầu phải có khung pháp lý làm cơ sở cho việc tiến hành
các hoạt động cụ thể. Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong những năm qua, nhà
nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật quy định về việc quản lý chất thải

- Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 quy định về xử lý vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
1.2 Các quy định về quản lý chất thải nguy hại
Pháp luật có quy định rất chặt chẽ và chi tiết về điều kiện để quản lý chất thải,
các yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với mỗi công đoạn của quá trình quản lý chất
thải, cụ thể:
- Việc quản lý chất thải nguy hại phải được lập hồ sơ và đăng ký với cơ quan quản
lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Nếu các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện về
năng lực quản lý chất thải nguy hại thì được cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ
môi trường có thẩm quyền cấp giấy phép, mã số hoạt động quản lý chất thải nguy
hại (Điều 70 Luật bảo vệ môi trường). Đó là các điều kiện về cơ sở pháp lý; cơ sở
vật chất, kỹ thuật; nhân lực; điều kiện liên quan đến công tác quản lý…được quy
định từ Điều 10 đến Điều 14 thông tư 12/2011/TT-BTNMT.
- Việc phân loại, thu gom, lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại phải được tiến hành
theo cách: Tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chất thải thuy hại phải tổ
chức phân loại, thu gom hoặc hợp đồng chuyển giao cho bên tiếp nhận quản lý
chất thải thu gom chất thải nguy hại; chất thải nguy hại phải được lưu giữ tạm
thời trong thiết bị chuyên dụng bảo đảm không rò rỉ, rơi vãi, phát tán ra môi
3


trường; tổ chức, cá nhân phải có kế hoạch, phương tiện phòng, chống sự cố do
chất thải nguy hại gây ra; không được để lẫn chất thải nguy hại với chất thải
thông thường (Điều 71 Luật bảo vệ môi trường).
- Việc vận chuyển chất thải nguy hại phải bằng thiết bị, phương tiện chuyên dụng
phù hợp, đi theo tuyến đường và thời gian do cơ quan có thẩm quyền về phân
luồng giao thông quy định; chỉ những tổ chức, cá nhân có giấy phép vận chuyển
chất thải nguy hại mới được tham gia vận chuyển; phương tiện vận chuyển chất
thải nguy hại phải có thiết bị phòng, chống rò rỉ, rơi vãi, sự cố do chất thải nguy
hại gây ra; tổ chức, cá nhân vận chuyển chất thải nguy hại chịu trách nhiệm về

kiện về vệ sinh môi trường, tránh phát tán khí độc ra môi trường xung quanh
(Điều 75 Luật bảo vệ môi trường).
1.3 Trách nhiệm của các chủ thể trong quản lý chất thải nguy hại
Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân bao gồm: chủ nguồn chất thải nguy hại,
chủ hành nghề quản lý chất thải nguy hại, chủ vận chuyển chất thải nguy hại, chủ xử lý
chất thải nguy hại, chủ tái sử dụng chất thải nguy hại được quy định cụ thể trong
chương IV (từ Điều 25 đến Điều 29) thông tư 12/2011/TT-BTNMT.
Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm: Hướng dẫn quy trình giảm thiểu,
thống kê, khai báo và quản lý chất thải nguy hại. Ban hành danh mục chất thải nguy hại.
Cấp giấy phép và mã số hoạt động quản lý chất thải nguy hại cho tổ chức tham gia quản
lý chất thải có phạm vi hoạt động trên địa bàn từ 2 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương trở lên. Hướng dẫn việc vận chuyển chất thải nguy hại ra nước ngoài xử lý theo
Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên trong trường hợp trong nước không có
công nghệ, thiết bị xử lý phù hợp (khoản 1 Điều 20 nghị định 80/2006/NĐ-CP).
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm: Tổ chức thống kê,
đánh giá về chất thải nguy hại phát sinh trên địa bàn và có các biện pháp quản lý phù
hợp. Bố trí mặt bằng, các điều kiện cần thiết cho quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn
phù hợp với quy hoạch thu gom, xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại đã được phê duyệt.
Cấp giấy phép và mã số hoạt động quản lý chất thải nguy hại có phạm vi hoạt động trên
5


địa bàn trừ các trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường (khoản
2 Điều 20 nghị định 80/2006/NĐ-CP).
Các Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các cấp cùng phối hợp thực trách nhiệm của
mình theo quy định tại Chương XIII Luật bảo vệ môi trường 2005.
1.4 Xử lý vi phạm trong quản lý chất thải nguy hại
Các chủ thể trong quá trình thực hiện quản lý chất thải nguy hại mà vi phạm các
quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại sẽ bị xử lý theo quy định tại Nghị

Thứ ba, thông tư 12/2011/TT-BNTMT đã thống nhất ghép 2 giấy phép hành nghề
vận chuyển và xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại với nhau, gọi chung là Giấy phép hành
nghề quản lý chất thải nguy hại cấp cho một đối tượng duy nhất là chủ hành nghề quản
lý chất thải nguy hại. Quy định này đã hạn chế tình trạng một chủ thể phải xin nhiều
loại giấy phép khi vừa hoạt động vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại, đồng thời tăng
cường quản lý đối với hoạt động vận chuyển, giảm thiểu các hiện tượng tiêu cực do các
chủ vận chuyển gây ra trong thời gian qua như việc đổ trộm chất thải nguy hại.
Thứ tư, pháp luật cũng quy định rất cụ thể về điều kiện hành nghề quản lý chất
thải. Đặc biệt một điểm mới nổi bật của thông tư 12/2011/TT-BNTMT so với thông tư
12/2006/TT-BTNMT đó là thông tư đã quy định rất cụ thể, rõ ràng về các yêu cầu kỹ
thuật đối với phương tiện, thiết bị chuyên dụng cho việc hành nghề quản lý chất thải
nguy hại (tại Phụ lục 7 của thông tư). Điều này góp phần đảm bảo an toàn, đúng kỹ
thuật trong quá trình vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại, hạn chế những sự cố có thể
xảy ra do sử dụng các phương tiện, thiết bị không đáp ứng yêu cầu.
Thứ năm, pháp luật quy định rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân, trách
nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quản lý chất thải nguy hại giúp
cho các chủ thể xác định được các trách nhiệm mà mình phải thực hiện. Qua đó các chủ
thể nâng cao ý thức trong việc thực hiện đúng trách nhiệm của mình đồng thời đảm bảo
giám sát chặt chẽ việc thực hiện các quy định quản lý chất thải.
Thứ sáu, đã có sự phân định quyền hạn cho các cơ quan nhà nước, điều này đã
tránh được sự chồng chéo trong thẩm quyền của các cơ quan, giúp cho hoạt động quản
7


lý của các cơ quan nhà nước đối với việc quản lý chất thải nguy hại được dễ dàng, hiệu
quả hơn.
Thứ bảy, đối với vấn đề xử lý vi phạm trong quản lý chất thải nguy hại, Bộ luật
hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã bổ sung Điều 182a. về tội vi phạm quy
định về quản lý chất thải nguy hại. Sự bổ sung này là hết sức cần thiết xuất phát từ diễn
biến ngày càng phức tạp của tội phạm trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại và hậu

học, lý học, sinh học của từng loại chất thải nguy hại để đảm bảo đạt tiêu chuẩn môi
trường; trường hợp trong nước không có công nghệ, thiết bị xử lý thì phải lưu giữ theo
quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi
trường cho đến khi chất thải được xử lý. Nhưng thực tế khoa học, kỹ thuật trong nước
về kiểm định và xử lý chất thải nguy hại còn lạc hậu, vấn đề kinh phí để đổi mới và bổ
sung các thiết bị khoa học tiên tiến còn gặp khó khăn do thiếu nguồn đầu tư, bởi vậy
nếu không có công nghệ, thiết bị phù hợp với đặc tính của chất thải nguy hại mà phải
lưu giữ để chờ mua được thiết bị thì phải chờ đến khi nào? Trong khi với đặc tính độc
hại, việc lưu giữ chất thải nguy hại lâu dài có thể làm sát sinh những hậu quả nghiêm
trọng.
Thứ tư, hạn chế trong các quy định về xử lý vi phạm trong quản lý chất thải nguy
hại: Các chế tài xử phạt các hành vi vi phạm còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe. Theo quy
định tại nghị định 117/2009/NĐ-CP thì mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm các quy
định về bảo vệ môi trường của chủ nguồn chất thải nguy hại là từ 2.000.000 –
150.000.000 đồng; vi phạm các quy định về vận chuyển chất thải nguy hại là từ
2.000.000 – 100.000.000 đồng; vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường đối với cơ
sở xử lý, tiêu hủy, chôn lấp chất thải nguy hại là từ 2.000.000 – 150.000.000. Mức phạt
này còn quá thấp so với lợi nhuận mà các đối tượng có thể đạt được khi vi phạm các
quy định về quản lý chất thải nguy hại nên chưa đủ sức răn đe trên thực tế. Mới đây
Quốc hội đã ban hành Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 cho phép tăng mức xử phạt
hành chính tối đa trong lĩnh vực môi trường lên 1 tỷ đồng đối với cá nhân và 2 tỷ đồng
đối với tổ chức. Có thể thấy đây là một bước tiến đáng kể trong chế tài xử phạt vi phạm
hành chính tuy nhiên mức 2 tỷ đồng vẫn được đánh giá là chưa phù hợp với ý thức môi
trường hiện nay của các chủ thể.
9


Một điểm hạn chế nữa đó là hiện nay Bộ luật hình sự không quy định trách nhiệm
hình sự đối với pháp nhân do đó không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những
nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp có hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải

công nghệ trong xử lý chất thải nguy hại
- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực môi trường để nghiên cứu, học tập kinh nghiệm
của các quốc gia khác trong quản lý chất thải nguy hại để tìm ra các giải pháp,
chính sách phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước.
KẾT LUẬN
Trong thời gian qua, các quy định về quản lý chất thải nguy hại không ngừng
được sửa đổi, bổ sung nhằm đảm bảo tình phù hợp, hiệu quả trong quản lý chất thải
nguy hại cũng như đáp ứng tình hình thực tế đặt ra. Điều này đã góp phần không nhỏ
vào việc bảo vệ môi trường nói chung cũng như quản lý chất thải nguy hại nói riêng.
Mặc dù vậy các quy định của pháp luật cũng còn tồn tại không ít những hạn chế. Đây là
kẽ hở để các doanh nghiệp, cá nhân lợi dụng thực hiện những hành vi vi phạm quy định
nhằm thu lợi nhuận gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Vì vậy vấn đề đặt ra
trong thời gian tới là phải tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này,
cũng như đảm bảo sự chấp hành nghiêm chỉnh của các chủ thể trong thực tế.

11


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Giáo trình luật môi trường, Trường đại học Luật Hà Nội, NXB.CAND, 2006.

2.

Luật bảo vệ môi trường 2005 ngày 29/11/2005.

3.

Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT quy định về quản lý chất thải nguy hại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status