DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTNMT: Bộ Tài nguyên và Môi trường.
CTNH: Chất thải nguy hại.
UBND: Ủy ban nhân dân.
Quy chế: Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyết
định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/07/1999.
Thông tư 12: Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ban hành ngày 26/12/2006
hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành
nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại.
TBVTV: Thuốc bảo vệ thực vật.
1
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong tiến trình toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, mối quan tâm của thế giới
về vấn đề bảo vệ môi trường cũng được nâng cao rõ rệt. Tốc độ phát triển kinh
tế quá nhanh chóng và sự bùng nổ dân số thế giới đã khiến lá phổi xanh của
nhân loại ngày càng bị ô nhiễm nặng nề. Hàng loạt sự cố môi trường như: động
đất, núi lửa, sóng thần… đã và đang đe dọa đến chất lượng môi trường và đời
sống cộng đồng từng ngày, từng giờ. Ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề
toàn cầu mà không phải của riêng quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nào. Thực tiễn đã
chứng minh, không một quốc gia nào có thể phát triển hùng mạnh và bền vững
nếu quốc gia đó không lấy vấn đề bảo vệ môi trường làm nền tảng cho sự phát
triển kinh tế.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường, trong đó ô nhiễm
môi trường do chất thải, đặc biệt chất thải nguy hại (CTNH) là nguyên nhân cơ
bản và khó tháo gỡ nhất. Trong hoạt động tiêu dùng của xã hội, bao gồm cả tiêu
dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân, một lượng lớn CTNH được thải bỏ vào môi
trường. Đây là vấn đề gây rất nhiều bức xúc đối với xã hội, các nhà quản lý, nhà
sản xuất và người tiêu dùng trên thế giới. Việt Nam cũng không nằm ngoài vấn
đề chung đó của nhân loại.
Việt Nam đang thực hiện chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ PHÁP LUẬT QUẢN
LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI Ở VIỆT NAM.
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm CTNH
Hoạt động sản xuất và tiêu dùng của con người luôn làm phát sinh ra các
loại chất thải. Hiểu một cách đơn giản, chất thải là những chất không sử dụng
được nữa, do con người thải bỏ ra trong hoạt động của mình. Theo qui định tại
Khoản 10 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 thì “Chất thải là vật
chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt
hoặc các hoạt động khác”. Từ khái niệm trên, ta có thể hiểu về chất thải một
cách cụ thể như sau:
i) Chất thải tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể như: rắn, lỏng, khí… Những
yếu tố phi vật chất không được coi là chất thải.
ii) Vật chất đó bị chủ sở hữu thải bỏ. Như vậy, vật chất đó có phải là chất
thải hay không phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của chủ sở hữu. Tuy
nhiên, phải loại trừ trường hợp do đặc thù trong hoạt động của mình, chủ sở hữu
phải thải bỏ vật chất và hoạt động thải bỏ này mang tính chất bị động đối với
chủ sở hữu cũng như đối với đối tượng khác. Một vật chất sẽ tồn tại dưới dạng
chất thải từ khi chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp thải ra cho đến khi nó
được đưa vào sử dụng ở một chu trình sản xuất hoặc chu trình sử dụng khác [23,
tr. 45] .
iii) Vật chất này được sản sinh ra từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, sinh hoạt, hoặc các hoạt động khác của con người như: Hoạt động du
lịch, khoa học…
Nếu căn cứ vào mức độ độc hại của chất thải, có thể phân loại chất thải
thành CTNH và chất thải thông thường. Cả hai loại này đều mang những đặc
điểm chung của chất thải. Tuy nhiên, xét về khả năng gây hại trực tiếp hoặc
4
gián tiếp cho môi trường và con người thì CTNH được coi là có mức độ độc hại
Khi đối chiếu khái niệm CTNH ở hai văn bản pháp luật trên, có thể dễ dàng
nhận thấy về mặt hình thức thì khái niệm CTNH trong Luật Bảo vệ môi trường
(2005) đã rút gọn đi rất nhiều về số lượng câu, chữ, cách diễn đạt cũng rõ ràng
hơn và súc tích hơn. Tuy nhiên, điều đó vẫn không làm giảm hay sai lệch phần
nội dung mà khái niệm muốn đề cập đến: CTNH là một loại chất thải, có các đặc
tính lý, hóa hoặc sinh học có thể gây nguy hại trực tiếp hay gián tiếp khi tương
tác với các chất khác.
Có nhiều tiêu chí để phân loại CTNH như: Phân loại theo nguồn thải đặc
thù, phi đặc thù; phân loại theo chất thải công nghiệp; phân loại theo loại nguy
hại; theo nhóm hóa học; theo thành phần hóa học ban đầu; theo tình trạng vật
lý… [21, tr.6]. Theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ban hành ngày
26/12/2006 về việc ban hành danh mục CTNH, CTNH được phân loại theo các
nhóm nguồn hoặc dòng thải chính như: Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác,
chế biến khoáng sản, dầu khí và than; chất thải từ ngành sản xuất hóa chất vô cơ,
hữu cơ; chất thải từ ngành luyện kim; chất thải từ ngành sản xuất vật liệu xây
dựng và thủy tinh; chất thải từ ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; chất thải từ
ngành y tế và thú y; chất thải từ các cơ sở tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải, xử lý
nước cấp sinh hoạt và công nghiệp…
1.1.2. Khái niệm quản lý CTNH
Tại Khoản 3 Điều 3 quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo Quyết định
số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/07/1999 của Thủ tướng Chính phủ quy định:
quản lý CTNH là các hoạt động kiểm soát CTNH trong suốt quá trình từ phát
sinh đến thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và tiêu huỷ CTNH.
Theo Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26/12/2006 (sau đây gọi tắt là
Thông tư 12) quy định tại mục 2.1: quản lý CTNH gồm các hoạt động liên quan
đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý
(kể cả tái chế, thu hồi), tiêu huỷ CTNH.
6
Như vậy, khái niệm quản lý CTNH lần đầu tiên được quy định tại quy chế
quản lý CTNH, sau đó khái niệm này đã được chỉnh sửa tại Thông tư 12. Tại
trong ngành công nghiệp.
Giai đoạn 2: Phân lập, thu gom và vận chuyển CTNnước. Giai đoạn này
được thực hiện bằng việc phân loại, thu gom toàn bộ CTNH tại tất cả các nguồn
phát sinh ra chúng. Sau khi tiến hành việc thu gom, chất thải sẽ được vận chuyển
đến khu xử lý và thải bỏ hoặc đến trạm trung chuyển hay đến nơi lưu giữ tạm
thời [24, tr. 79].
Giai đoạn 3: Xử lý trung gian. Giai đoạn này được tiến hành bởi những
phương pháp xử lý khác nhau như: xử lý cơ học, xử lý hóa học, sinh học và
nhiệt… nhằm làm giảm khối lượng CTNH, giảm thiểu hoặc loại bỏ độc tính để
phù hợp hơn với khâu thải bỏ cuối cùng.
Giai đoạn 4: Chuyên chở CTNH đi xử lý tiếp. CTNH sau khi xử lý trung
gian sẽ được vận chuyển bằng những phương tiện chuyên dụng đến nơi xử lý
cuối cùng của quy trình.
Giai đoạn 5: Thải bỏ chất thải. Những phần chất thải khi không còn được
tái chế và tái sử dụng sẽ được thải bỏ bằng những cách thức khác nhau như:chôn
lấp hoặc thiêu đốt [16, tr. 85]
Việc quản lý CTNH có thể được thực hiện bằng nhiều công cụ như: kinh tế,
pháp lý, kĩ thuật… trong đó công cụ pháp lý được coi là phương tiện hiệu quả
hàng đầu trong công tác quản lý CTNH, thông qua việc ban hành các văn bản
quy phạm pháp luật và hệ thống các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường.
1.1.3 Khái niệm Pháp luật quản lý CTNH:
Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, hệ thống pháp luật Bảo vệ môi
trường của Việt Nam hiện nay điều chỉnh 2 vấn đề cơ bản: (1) bảo tồn và sử
dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên. (2) kiểm soát, ngăn ngừa ô nhiễm
môi trường. Trong đó, các quy định về quản lý CTNH nằm trong mảng thứ hai.
Kinh nghiệm của nhiều nước đã chứng minh rằng, muốn quản lý chất thải tốt thì
trước tiên phải có hệ thống quản lý chất thải rõ ràng và hoạt động có hiệu quả;
8
thứ hai là phải có cơ sở pháp lý để quản lý; thứ ba là phải có phương tiện và điều
kiện để quản lý như thiết bị đo lường, kiểm tra, kiểm soát nguồn thải; thứ tư là
thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hoạt động xử lý CTNH…). Mối quan hệ
giữa các chủ thể tiến hành hoạt động liên quan đến CTNH với nhau, bao gồm
các quan hệ phát sinh trong quá trình thu gom, vận chuyển, tiêu hủy CTNH, bồi
thường thiệt hại do CTNH gây ra…
Thứ ba: Mục đích của pháp luật quản lý CTNH là bảo vệ môi trường và sức
khỏe cộng đồng thông qua vấn đề đặt ra các khung pháp luật quy định về trách
nhiệm của các cơ quan Nhà nước về môi trường, quyền, nghĩa vụ của các tổ
chức, cá nhân liên quan đến CTNH. Pháp luật quản lý CTNH đã phân định rõ
ràng quyền hạn cho các cơ quan quản lý Nhà nước sẽ giúp hoạt động quản lý
Nhà nước đối với vấn đề này đạt được hiệu quả cao hơn; định hướng xử sự và
hành vi của các chủ thể liên quan đến quản lý CTNH nhằm mục đích ngăn ngừa,
hạn chế số lượng CTNH phát sinh vào môi trường và giảm thiểu những ảnh
hưởng bất lợi của nó đối với môi trường và sức khỏe con người.
1.2. Hiện trạng CTNH ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển kinh tế, tổng lượng CTNH trên địa bàn
toàn quốc ngày càng gia tăng qua các thời kỳ. Theo số liệu điều tra thống kê của
Cục Bảo vệ môi trường, vào nửa cuối những năm 90, tổng lượng CTNH trên
toàn quốc vào khoảng 141.464 tấn/năm, thì đến nay, chỉ tính riêng lượng CTNH
phát sinh ở các vùng kinh tế trọng điểm, con số này đã lên tới 226.376 tấn/năm.
Mỗi năm, có khoảng 113.118 tấn CTNH phát sinh tại 3 khu vực kinh tế trọng
điểm của cả nước [24, tr.142]. Với nhịp độ tăng trưởng công nghiệp như hiện
nay của Việt Nam, dự tính đến năm 2010, tổng lượng CTNH sẽ phát sinh và đạt
đến khoảng 1 triệu tấn. Đó là con số khổng lồ, đưa vấn đề quản lý CTNH trở
thành vấn đề nan giải và khó giải quyết, nhất là khi công tác thu gom, vận
chuyển, xử lý CTNH của nước ta hiện tại vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự
phát triển.
10
Hiện nay, lượng CTNH được phát sinh chủ yếu từ các vùng kinh tế trọng
điểm và các khu đô thị, đặc biệt ở phía Nam (vùng Đông Nam Bộ) – nơi tập
trung các khu kinh tế đặc biệt với mật độ dày đặc nhất cả nước.
nhiều nhất, gấp gần 3 lần so với miền Bắc và gấp gần 20 lần so với miền Trung
[24, tr.142]. Theo số liệu thống kê trong khuôn khổ dự án quản lý CTNH do
ADB trợ giúp cho Việt Nam năm 1997, hàng năm có khoảng 275.000 tấn CTNH
đã được phát sinh, tức là mỗi ngày đã sản sinh ra khoảng 753 tấn, trong đó 30%
từ các cơ sở công nghiệp ở miền Bắc, 10% ở miền Trung và 60% ở miền Nam.
11
Lượng chất thải nguy hại phát sinh theo ngành
Ngành Khối lượng (tấn)
Công nghiệp nhẹ
Hóa chất
Cơ khí luyện kim
Y tế
Từ chất thải sinh hoạt đô thị
Chế biến thực phẩm
Điện, Điện tử
Tổng cộng
60.000
45.000
26.000
10.000
5.000
4.000
2.000
152.000
Các loại chất thải công nghiệp nguy hại chủ yếu bao gồm: dung môi, chất
thải chứa các kim loại nặng, axit, cặn dầu, các chất thải phát sinh từ hoạt động
khai khoáng… Sự đa dạng của các thành phần độc tố trong CTNH phát sinh từ
hoạt động công nghiệp càng làm cho việc xử lý, tiêu hủy chúng trở nên khó
khăn và tốn kém nhiều chi phí. Như vậy, bên cạnh những đóng góp to lớn cho
sự phát triển kinh tế đất nước, ngành công nghiệp cũng gây nên những tác động
ô tô và xe máy ở Việt Nam chủ yếu vẫn sử dụng xăng pha chì và chưa được lắp
đặt hệ thống trung hòa khí xả. So với các phương tiện giao thông khác như: Tàu
thủy, tàu hỏa, máy bay… thì ô tô, xe máy sử dụng đến 65% lượng nhiên liệu
dùng cho hoạt động giao thông. Do đó, lượng khí thải ô nhiễm và độc hại từ
những phương tiện giao thông cơ giới này rất cao [21, tr.137].
Ngoài lượng CTNH phát sinh từ hoạt động công nghiệp, y tế, giao thông,
còn phải kể đến nguồn đáng kể sản sinh ra CTNH hiện nay, đó là thuốc bảo vệ
thực vật (BVTV). Với số lượng lớn và ngày càng phong phú về chủng loại, giá
cả, số lượng thuốc BVTV được sử dụng ở Việt Nam khoảng 6.500 đến 9.000
tấn/năm, chủ yếu là các loại thuốc có tính độc cao, dễ lây nhiễm và chậm phân
hủy trong môi trường. Theo điều tra thống kê của Cục Bảo vệ môi trường trong
13
năm 2000-2001, tổng lượng thuốc BVTV tồn lưu trên phạm vi 61 tỉnh/thành phố
là khoảng 3000 tấn, bao gồm: Thuốc BVTV dạng lỏng: 97.374 lít; Thuốc BVTV
dạng bột: 109.145 kg; các bao bì chứa thuốc BVTV: 2.137.850 (hộp, chai, lọ…).
Theo số liệu thống kê mới nhất được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố,
nước ta còn khoảng 108 tấn hóa chất BTVT nguy hại và 55.000m
3
đất nhiễm
hoặc lẫn các loại hóa chất này nằm rải rác ở 23 tỉnh, đặc biệt là ở Tuyên Quang,
Thái Nguyên… và khoảng 26 kho thuốc BVTV tồn đọng cần xử lý kịp thời.
Trong vòng 10 năm trở lại đây, trung bình mỗi năm nước ta sử dụng khoảng gần
5.000 tấn chất hữu cơ diệt sâu bệnh, chuột và cỏ dại, trị giá khoảng gần 50 triệu
USD [30].
Những số liệu thống kê nêu trên cho thấy sự gia tăng nhanh chóng của
CTNH ở Việt Nam, song việc quản lý loại chất thải này ở nước ta hiện nay còn
khá hạn chế. Việt Nam có khoảng 240 đến 300 tấn CTNH từ các cơ sở sản xuất
ra môi trường mỗi ngày, trong khi khả năng xử lý chúng chỉ dừng lại ở con số
khiêm tốn khoảng 20 tấn/ngày [30]. Do công nghệ xử lý CTNH đòi hỏi rất nhiều
yếu tố mà một quốc gia đang phát triển không thể đáp ứng đầy đủ được nên
hoặc có nhưng không hoạt động đã thải lượng nước này trực tiếp vào sông ngòi
lân cận mà không qua xử lý, hoặc xử lý không đảm bảo vệ sinh. Hàng loạt
những con sông ở các thành phố đang trở thành những con sông chết khi nguồn
nước ở đây có màu đen sẫm và bốc mùi hôi nồng nặc vào không khí. Ngoài ra,
nhiều sự cố tràn dầu xảy ra trong thời gian gần đây cũng cảnh báo khả năng gây
ô nhiễm đến nguồn nước mặt và cần có những biện pháp phòng ngừa kịp thời.
Ở nông thôn, tình trạng sử dụng thuốc BVTV tràn lan và những vỏ bao
thuốc này không được đưa vào đúng nơi quy định để xử lý cũng gây nên những
ảnh hưởng không nhỏ đối với môi trường. Đa số người dân sau khi sử dụng đã
vứt vỏ bao thuốc BVTV (trong đó vẫn còn một lượng nhỏ thuốc tồn lại) lên mặt
ruộng, mặt sông, hồ, làm nguồn nước ở những nơi này bị ô nhiễm nặng nề. Ví
15
dụ, ở Hòa Bình, trong tổng số 1.700 hộ sử dụng thuốc BVTV thì có đến 120 hộ
(chiếm khoảng 7%) vứt vỏ bao thuốc trừ sâu bừa bãi ở ven đường, gần ao, hồ…
CTNH được chôn lấp vào lòng đất hoặc chôn lấp tại những bãi rác kém
chất lượng đã dẫn đến hiện tượng nước rác ngấm trực tiếp vào nguồn nước xung
quanh. Nhiều trường hợp, CTNH được lưu giữ lâu dài hoặc chôn lấp ngay tại
chỗ mà không qua một khâu xử lý nào, hoặc xử lý không đúng quy trình kỹ
thuật. Việc rò rỉ kim loại nặng từ các xỉ kim loại hay hiện tượng khuyếch tán sợi
amiăng trong quá trình lưu giữ CTNH đã gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng
đối với nguồn nước ngầm.
Ngoài những ảnh hưởng đến nguồn nước, CTNH từ các cơ sở sản xuất kinh
doanh, cơ sở y tế, từ sinh hoạt thường ngày của người dân đã là một sức ép thực
sự nặng nề lên tài nguyên đất do dư lượng độc tố của CTNH để lại trong đất quá
cao. Không chỉ phá vỡ lớp màu mỡ của đất, CTNH còn có khả năng gây nhiễm
độc cho đất, đem lại khó khăn cho quá trình sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp.
Đặc biệt, việc sử dụng thuốc BVTV ở các vùng nông thôn (bao gồm cả trường
hợp sử dụng thuốc BVTV mà thế giới đã hạn chế hoặc cấm do tỷ lệ độc tố cao)
cũng là nguyên nhân chính gây thoái hóa và ô nhiễm đất, mặn hóa hoặc chua
phèn, phá hủy cấu trúc đất… Mặt khác, nguồn ô nhiễm đất còn có thể được tạo
này khi kết hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa ở nước ta. Nước thải
bệnh viện chứa rất nhiều loại vi trùng, virus và các mầm bệnh sinh học khác
trong máu mủ, dịch… của người bệnh. Theo kết quả phân tích của cơ quan chức
năng, loại nước này ô nhiễm nặng về mặt hữu cơ và vi sinh. Hàm lượng vi sinh
cao gấp 100 – 1.000 tiêu chuẩn cho phép, với những loại vi khuẩn Salmonella,
tụ cầu, virus đường tiêu hóa, các loại ký sinh trùng, amip… hàm lượng chất rắn
lơ lửng cao gấp 2 – 3 lần tiêu chuẩn cho phép [31]. Dù chứa đựng nhiều độc tố
như vậy, nhưng hầu hết tại các bệnh viện lớn ở Trung ương nước thải chỉ qua bể
phốt rồi đổ thẳng ra cống. Ở bệnh viện tuyến huyện thì ngay cả bể phốt cũng
không có, mà được thải luôn ra ngoài. Những mầm bệnh trong nước thải khi
được thải ra ngoài đã xâm nhập vào cơ thể các loại thủy sản, vật nuôi, cây trồng
17
và dễ dàng trở lại với con người. Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ
bản làm gia tăng các bệnh hiểm nghèo cho người dân.
Thuốc BVTV là nguồn gây ô nhiễm nặng nề không chỉ đối với môi trường
mà còn đối với sức khỏe con người. Trên thực tế, đã có nhiều sự cố không nhỏ
do thuốc BVTV gây ra. Một mặt, do ý thức bảo quản thuốc của người dân không
cao nên một phần dư lượng thuốc đã phát tán vào môi trường. Mặt khác, do
người dân ở nhiều nơi lạm dụng thuốc BVTV đối với rau quả đã khiến dư lượng
thuốc quá cao trong sản phẩm, ngay cả khi chúng đến tay người tiêu dùng. Như
vậy, bằng nhiều con đường khác nhau, một lượng lớn thuốc BVTV đã quay trở
lại cơ thể con người, gây nên những tai nạn đáng tiếc.
1.4. Kinh nghiệm quản lý CTNH của một số nước trên thế giới
Có ý kiến cho rằng chỉ những nước phát triển mới phải thực sự chú trọng
đến vấn đề quản lý CTNH, do những nước này có điều kiện kinh tế, khoa học kỹ
thuật phát triển mạnh mẽ và sản sinh ra nhiều CTNH hơn những nước đang phát
triển. Điều đó không hoàn toàn đúng, bởi chính những nước đang phát triển
cũng đang sản sinh ra lượng CTNH lớn do quá trình công nghiệp hóa – hiện đại
hóa diễn ra sôi động. Do đó, vấn đề quản lý CTNH cần phải được quan tâm
đúng mức ở bất kỳ quốc gia nào. Tuy nhiên, do chi phí cho công tác quản lý
giảm thiểu số lượng, xử lý và tái sử dụng chúng. Cộng hòa liên bang Đức đã ban
hành nhiều đạo luật mới về quản lý CTNH. Trong vòng 20 năm trở lại đây, Đức
đã ban hành khoảng 2000 đạo luật, quyết định, quy định về hành chính... Các
quy định được sửa đổi liên tục theo hướng chặt chẽ và nghiêm khắc hơn như:
trường hợp các tổ chức, cá nhân vi phạm những quy định này có thể bị phạt tiền,
đình chỉ hoạt động hoặc bị truy tố trước pháp luật. Bên cạnh đó, Đức còn
khuyến khích việc đổi mới công nghệ và thiết bị bằng cách thay thế từng phần
hoặc toàn bộ nhằm hướng đến một công nghệ không hoặc ít sinh ra CTNH. Nhà
nước có rất nhiều ưu đãi cho người dân để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
quản lý CTNH như: giảm thuế hoặc cho vay tiền với lãi suất thấp, trả dần nếu
19
đầu tư vào công nghệ mới hay thiết bị xử lý CTNH. Đồng thời, Nhà nước Đức
còn đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho người dân nhận thức được tác hại nguy
hiểm của loại chất thải này. Qua đó, chính nhân dân sẽ là người giúp các cơ
quan Nhà nước trong quá trình kiểm tra, phát hiện ra các nguồn phát sinh ra
CTNH, nhanh chóng đưa ra biện pháp giải quyết. Là một quốc gia phát triển,
Đức rất chú trọng đến việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước, các kỹ
thuật gia, nhà sinh học, hóa học trong lĩnh vực CTNH. Do đó, công tác quản lý
CTNH của Đức hoạt động rất hiệu quả [20, tr. 69].
Trung Quốc: Với sự phát triển thần tốc của nền kinh tế, khoa học và công
nghệ, Trung Quốc đang phải đối mặt với các vấn đề môi trường, đặc biệt là vấn
đề ô nhiễm môi trường do CTNH. Để khắc phục được tình trạng đó, Trung Quốc
rất chú trọng đến công nghệ tái chế để tận dụng phần lớn CTNH, số còn lại được
thải vào đất và nước. Biện pháp xử lý thông thường là đưa vào các bãi rác hở.
Phần lớn CTNH của các đơn vị sản xuất có khả năng xử lý tại chỗ. Điều đó đã
giúp các cơ sở này tiết kiệm được khá nhiều chi phí trong quá trình quản lý chất
thải. Bên cạnh việc tận dụng tối đa khoa học kỹ thuật vào xử lý CTNH, Trung
Quốc cũng rất chú trọng đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định về vấn
đề này. Năm 1995, Trung Quốc đề ra “Luật kiểm soát và phòng ngừa nhiễm
bẩn do chất thải rắn”, trong đó quy định các ngành công nghiệp phải đăng ký
luật nào đề cập đến hoạt động quản lý CTNH. Chỉ từ khi Luật Bảo vệ môi
trường được thông qua ngày 27/12/1993 thì những quy định đầu tiên về CTNH
mới được đề cập. Tuy nhiên, đạo luật này mới chỉ dừng lại ở những quy định
chung chung về quản lý CTNH ở các Điều 11, 19, 22, 24, 26, 29, 47… Với quy
chế quản lý CTNH ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ–TTg , lần
đầu tiên vấn đề quản lý CTNH được đề cập một cách chính thức trong văn bản
pháp luật riêng. Tiếp đó, một số văn bản pháp luật cũng được ra đời để hỗ trợ
công tác quản lý CTNH như: Quyết định số 1970/1999/QĐ–BKHCNMT về việc
ban hành quy trình công nghệ tiêu hủy thuốc BVTV phốt pho hữu cơ tồn đọng
và cấm sử dụng ; Quyết định số 1971/1999/QĐ–BKHCNMT về việc ban hành
quy trình công nghệ tiêu hủy và tái sử dụng Xyanua… Ngày 29/11/2005, Luật
Bảo vệ môi trường thay thế cho Luật Bảo vệ môi trường 1993 được Quốc Hội
thông qua đã có những quy định rất cụ thể và thống nhất về công tác quản lý
CTNH tại mục 2 chương 8. Để cụ thể hóa những quy định trên, Bộ Tài nguyên
và Môi trường (sau đây gọi là BTNMT) đã ban hành một số văn bản pháp luật
như: Quyết định số 23/2006/QĐ–BTNMT về việc ban hành danh mục CTNH,
Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập
hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý CTNH. Gần đây nhất, để
điều chỉnh vấn đề quản lý chất thải rắn, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
59/2007/NĐ–CP về quản lý chất thải rắn, trong đó có rất nhiều quy định về chất
thải rắn nguy hại. Cùng thời gian này, Bộ Y tế đã ký Quyết định số
43/2007/QĐ-BYT về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế… Các văn
bản này điều chỉnh một số vấn đề chính trong quản lý CTNH như sau:
2.1. Trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý CTNH
2.1.1. Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý CTNH
22
Để thực hiện tốt công tác quản lý CTNH, việc đầu tiên mà các cơ quan Nhà
nước sẽ tiến hành đó là ban hành một hệ thống văn bản pháp luật về vấn đề này.
Trong đó quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước; trách
nhiệm của các cá nhân, tổ chức tiến hành hoạt động liên quan đến quản lý
hồi giấy phép quản lý CTNH đối với chủ vận chuyển và chủ vận chuyển và chủ
xử lý, tiêu hủy CTNH có địa bàn hoạt động từ hai tỉnh trở lên (kể cả các chủ vận
chuyển và chủ xử lý, tiêu hủy hoạt động trên địa bàn một tỉnh theo giấy phép
quản lý CTNH do cơ quan cấp phép địa phương cấp, nhưng có nhu cầu mở rộng
địa bàn hoạt động sang tỉnh khác).
Cục bảo vệ môi trường cấp, gia hạn, điều chỉnh và thu hồi giấy phép quản
lý CTNH theo ủy nhiệm của BTNMT. Sau khi cấp, gia hạn, điều chỉnh hoặc thu
hồi giấy phép, phải thông báo cho Ủy ban nhân dân (UBND) cấp Tỉnh nơi có cơ
sở của chủ vận chuyển hoặc chủ xử lý, tiêu hủy CTNH.
UBND cấp tỉnh hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường được UBND cấp tỉnh
ủy nhiệm có trách nhiệm cấp, gia hạn, điều chỉnh và thu hồi giấy phép quản lý
CTNH đối với chủ vận chuyển và chủ xử lý, tiêu hủy CTNH có địa bàn hoạt
động trong tỉnh. Ngoài ra, Sở Tài nguyên và Môi trường còn có trách nhiệm cấp,
điều chỉnh Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH cho các chủ nguồn thải hoạt động
trên địa bàn mình quản lý. Cụ thể như sau:
* Cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải:
Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH là hồ sơ cấp cho chủ nguồn thải CTNH,
trong đó liệt kê thông tin về chủng loại, số lượng CTNH đăng ký phát sinh và
quy định trách nhiệm về bảo vệ môi trường của chủ nguồn thải đối với CTNH
được đăng ký.
Theo quy định của pháp luật, Sở Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền
cấp, điều chỉnh Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH cho các chủ nguồn thải trong
tỉnh. Sau khi nhận đủ 03 bộ hồ sơ của chủ nguồn thải CTNH, trong thời hạn 07
ngày, Sở Tài nguyên và Môi trường phải xem xét sự đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ và
yêu cầu chủ nguồn thải CTNH sửa đổi, bổ sung nếu hồ sơ đó chưa đầy đủ.
24
Trong thời hạn 12 ngày tiếp theo kể từ ngày kết thúc việc xem xét sự đầy đủ,
hợp lệ của hồ sơ, Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm cấp Sổ đăng ký
chủ nguồn thải cho các chủ nguồn thải CTNH theo mẫu do Thông tư 12 quy
định. Cùng quá trình cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải cho các chủ thể nêu trên, Sở