tìm hiểu tình hình thực tế áp dụng các quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường ở việt nam - Pdf 20

LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, Bảo vệ môi trường (BVMT) trở thành vấn đề cấp bách, là một
vấn đề đang được quan tâm hàng đầu của toàn thể nhân loại. Để bảo vệ môi
trường, pháp luật của các nước đã quy định nhiều công cụ pháp lý cũng như kỹ
thuật, trong đó đánh gía tác động môi trường (ĐTM) là một công cụ pháp lý, kỹ
thuật rất hữu hiệu. Ở Việt Nam, việc thực hiện các quy định của pháp luật về đánh
giá tác động của môi trường trong thời gian qua đã thu được những thành quả
đáng kể trong việc bảo vệ môi trường, nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều bất cập
trong quá trình thực hiện, đòi hỏi nhà nước cần phải có những quy định mang tính
khoa học và khả thi nhằm giúp cho việc thực hiện được triệt để và hiệu quả hơn.
Để hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường cũng
như tình hình thực tế áp dụng các quy định này, bài viết sau đây sẽ tập trung đi
sâu nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu tình hình thực tế áp dụng các quy định pháp
luật về đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam”.
NỘI DUNG
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
1. Định nghĩa đánh giá tác động môi trường
Tại khoản 20 điều 3 luật bảo vệ môi trường năm 2005 đã định nghĩa đánh
giá tác động môi trường như sau: “ Đánh giá tác động môi trường là việc phân
tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các
biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó”
2. Bản chất pháp lý và yêu cầu đánh giá tác động môi trường
Một là, ĐTM là một nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với bất kỳ cá nhân, tổ
chức nào có dự án có thể gây ra những tác động xấu đến môi trường (Thủ tục bắt
buộc về mặt hình thức); Hai là, ĐTM không chỉ là một nghĩa vụ pháp lý về mặt
hình thức mà nó còn là một nghĩa vụ mang tính nội dung. Nghĩa là ĐTM phải
thực sự phản ánh được những tác động từ dự án tới các vấn đề kinh tế, xã hội, môi
trường… từ đó đề ra các giải pháp khắc phục; Ba là, ĐTM là công cụ giúp cho
việc lựa chọn quyết định dự án đầu tư phát triển; Bốn là, ĐTM là một hoạt động
mang tính liên ngành bởi tính chất phức tạp đó là những mối quan hệ giữa kinh tế,
xã hội và môi trường, do vậy mà báo cáo ĐTM cần có sự tham gia của các cán bộ

lưu vực sông, vùng ven biển, vùng có hệ sinh thái được bảo vệ;dự án xây dựng
kết cấu hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất ,
cụm làng nghề; dự án xây dựng mới đô thị , khu dân cư tập trung ; dự án khai
thác, sử dụng nước dưới đất, tài nguyên thiên nhiên quy mô lớn; dự án khác có
tiểm ẩn nguy cơ lớn gây tác động xấu đối với môi trường. Hơn nữa , tại Nghị
định số 29/1011/NĐ-CP cũng quy định cụ thể và chi tiết về đối tượng phải lập
2
báo cáo ĐTM tại phụ lục II của Nghị định này, trong đó quy định rõ danh mục
các dự án phải lập báo cáo ĐTM tai Phụ lục của Nghị định bao gồm các loại dự
án chia thành nhiều nhóm khác nhau như nhóm các dự án về xây dựng, về giao
thông…Ngoài ra nghị định cũng quy định rất cụ thể quy mô của các dự án phải
lập báo cáo ĐTM. Quy định này chính là cơ sở để các chủ dự án biết được dự án
của mình có phải lập báo cáo ĐTM hay không.
2.2. Trách nhiệm lập báo cáo ĐTM của chủ dự án
Tại khoản 3 điều 19 luật BVMT năm 2005 quy định: “Chủ dự án tự mình
hoặc thuê tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo ĐTM và chịu trách nhiệm về các
số liệu, kết quả nêu trong báo cáo ĐTM”. Đây là một quy định hoàn toàn hợp lí
và có tính khả thi cao. Bởi lẽ báo cáo ĐTM đòi hỏi phải có độ chính xác cao và
người lập ra báo cáo này phải là người hiểu biết pháp luật về ĐTM cũng như
kiến thức chuyên môn về môi trường.Thực tế không phải chủ dự án nào cũng có
thể làm được việc này. Vì vây đối với việc lập báo cáo ĐTM mà có sự trợ giúp
của tổ chức chuyên môn là cần thiết. Bên cạnh quy định trên , để đảm bảo thực
hiện tốt công tác ĐTM, pháp luật cũng quy định các điều kiện của tổ chức dịch
vụ tư vấn như sau: “Tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo đánh giá ĐTM phải có
đủ điều kiện về cán bộ chuyên môn , cơ sở vật chất – kĩ thuật cần thiết”. Đồng
thời điều kiện của tổ chức lập báo cáo đánh giá ĐTM được quy định chi tiết tại
nghị định số 29/2011/NĐ-CP(khoản 1 điều 16) đó là: “Có cán bộ chuyên
nghành môi trường với 5 năm kinh nghiệm trở nên nếu có bằng đại học , 3 năm
nếu có bằng thạc sĩ,1 năm đối với trình độ tiến sĩ; có cán bộ chuyên nghành liên
quan đến dự án với trình độ đại học trở nên; có cơ sở vật chất kĩ thuật, thiết bị

hiện dự án; các ý kiến không tán thành việc đặt dự án tại địa phương hoặc không
tán thành đối với các dự án BVMT phải được nêu trong báo cáo ĐTM; Chỉ dẫn
nguồn cung cấp số liệu, dữ liệu và phương pháp đánh giá. Quy định về nội dung
báo cáo cũng đã đươc quy định cụ thể và chi tiết trong Nghị định số 29/2011/NĐ-
CP( khoản 1 điều 17).
2.4. Thẩm định báo cáo ĐTM
Thẩm định báo cáo ĐTM là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước
nhằm xem xét thẩm tra về mặt pháp lý cũng như nội dung khoa học của các báo
cáo.
a. Phân cấp tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM
Theo quy định tại khoản 7 diều 21 Luật BVMT năm 2005 và khoản 2 điều
18 nghị định số 29/2011/NĐ-CP thì trách nhiệm tổ chức việc thẩm định đối với
việc thẩm định báo cáo ĐTM đối với dự án cụ thể như sau:
Bộ TN-MT tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá ĐTM đối với các dự án
tại phụ lục III nghị định số 29/2011 NĐ- CP trừ các dự án thuộc bí mật an ninh
quốc phòng;
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ tổ chức thẩm định
báo cáo ĐTM đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của
mình, trừ các dự án quy định tại phụ lục III nghị định số 29/2011/NĐ- CP;
4
Bộ quốc phòng, bộ công an tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM của các dự
án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình và các dự án có liên quan
đến an ninh, quốc phòng khi được cấp có thẩm quyền giao;
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM của dự án đầu
tư trên địa bàn trừ các dự án quy định thuộc thẩm quyền của bộ TN –MT, các bộ
cơ quan ngang bộ; bộ quốc phòng, bộ công an.
b. Hình thức thẩm định báo cáo ĐTM
Theo quy định tại khoản 1 điều 21 Luật BVMT năm 2005 và khoản 1 điều
18 Nghị định số 29/2011/NĐ- CP thì việc thẩm định báo cáo ĐTM có thể được
tiến hành thông qua một trong hai hình thức: Hội đồng thẩm định và tổ chức

+ Thời hạn thẩm định: Theo quy định tại Khoản1 Điều 20 Nghị định số
29/NĐ- CP thì: “ Báo cáo ĐTM thuộc thẩm quyền quyết định cảu Bộ Tài nguyên
và Môi trường. Thời hạn thẩm định tối đa là 45 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp phức tạp về tác động môi trường, thời hạn
thẩm định tối đa là 60 ngày làm việc; Báo có ĐTM không thuộc thẩm quyền
quyết định của Bộ Tài nguyên và Môi trường, thời hạn thẩm định tối đa là 30
ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hợp lệ. Đối với những dự án phức
tạp về tác động môi trường, thời hạn thẩm định là 45 ngày làm việc”
+ Kết quả thẩm định: Kết quả thẩm định được thể hiện dưới hình thức “
quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM”. Theo đó, trong thời hạn tối đa là 15 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ thì Hội đồng thẩm định, tổ chức dịch
vụ thẩm định, thủ trưởng cơ quan phải xem xét, quyết định phê duyệt báo cáo
ĐTM (khoản 2 điều 20 nghị định số 29/2011/NĐ- CP). Trong trường hợp nếu
không phê duyệt thì phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do cho chủ dự án biết.
III. THỰC TIỄN THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
1. Thành quả đạt được
Kể từ thời điểm trước khi Luật BVMT năm 2005 ra đời và sau khi ra đời
cho đến nay, với những quy định về đánh giá tác động môi trường đã trở thành
công cụ pháp lý hữu hiệu trong việc bảo vệ môi trường của nước ta. Góp phần
xây dựng và phát triển mạnh đội ngũ thực hiện ĐTM, số lượng người tham gia
lập báo cáo đã tăng nhanh một cách tự phát, đáp ứng nhu cầu thị trường trong
bối cảnh các hoạt động và dự án đầu tư nở rộ trên toàn quốc. Đội ngũ chuyên gia
tư vấn, các tổ chức tư vấn và dịch vụ tư vấn ĐTM trong và ngoài nước đều dễ
dàng tiếp cận. Khoảng 10 năm trước đây, hầu hết các dự án lớn đầu tư vào Việt
Nam đều phải thuê chuyên gia nước ngoài thực hiện báo cáo ĐTM, thì hiện nay
rất nhiều cơ quan có thể đảm nhận được vai trò này và đưa ra nhiều báo cáo có
chất lượng tốt.
Cán bộ thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM ở cấp trung ương thuộc Vụ
thẩm định (Bộ Tài nguyên và Môi trường, nay trực thuộc Tổng cụ môi trường,
6

nghĩa của công tác này. Họ thường coi công tác lập báo cáo ĐTM như là một
thủ tục trong quá trình chuẩn bị hoặc thực hiện dự án. Thậm chí có người còn đổ
lỗi cho yêu cầu thực hiện ĐTM đã cản trở hoạt động phát triển sản xuất và đầu
tư. Vì vậy, khi được yêu cầu lập báo cáo ĐTM, họ chỉ làm lấy lệ, chú trọng làm
cho đủ thủ tục để dự án được thông qua chứ không quan tâm đến những tác
động và nguy cơ môi trường thực sự. Một trong những minh chứng cho hiện
tượng này là việc cấp phép ồ ại cho các dự án xây dựng sân gôn trong thời gian
qua. Tình trạng xung đột xảy ra giữa các chủ dự án và cộng đồng địa phương do
1(), (2). Nguyễn Hải Vân, Nguyễn Việt Dũng, Hoàng Xuân Thúy , Đánh giá tác động của môi trường ở Việt Nam: Từ pháp luật
đến thực tiễn, năm 2009, trang 5.
7
tranh chấp quyền sở hữu, tiếp cận, sử dụng tài nguyên đất, rừng và nguồn nước
chứng tỏ các dự án này đã không thực hiện ĐTM một cách nghiêm túc và chất
lượng. Một báo cáo có tên “Đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam: từ pháp
luật đến thực tiễn” do Trung tâm con người và thiên nhiên thực hiện vào tháng
4/2009 cũng chỉ ra rằng hiện tượng các chuyên gia tư vấn thường được khoán
làm một báo cáo ĐTM cho phù hợp với yêu cầu của pháp luật là rất phổ biến ở
các địa phương. Vì vậy, việc tuân thủ quy trình và yêu cầu chất lượng báo cáo
ĐTM thường bị làm ngơ hoặc xem nhẹ. Báo cáo ĐTM hiện nay “mới chỉ quan
tâm đến tác động có hại, trực tiếp, trước mắt, tác động tới môi trường tự nhiên
trong khi ít quan tâm đến tác động có lợi, gián tiếp, lâu dài và tác động xã hội.
Các phương án giảm thiểu tác động thì hoặc là quá sơ sài, hoặc thiếu tính khả
thi, hoặc chỉ là lời hứa hẹn không có cơ sở”
(32)
. Trên thực tế, hiện tượng không
tuân thủ đầy đủ quy trình và các quy định nội dung báo cáo ĐTM là khá phổ
biến, nội dung các báo cáo ĐTM cho thấy phần đánh giá tác động xã hội thường
ngắn gọn và rất chung chung, thiếu cơ sở khoa học và ít thuyết phục. Ví dụ,
phần đánh giá tác động xã hội trong báo cáo ĐTM của dự án Titan Hà Tĩnh chỉ
có ½ trang; dự án thủy điện Hương Sơn chỉ có 1 trang; các đánh giá được trình

ĐTM.
2.3. Yêu cầu thông tin và tham vấn cộng đồng về ĐTM thường bị xem nhẹ
hoặc làm ngơ
Yêu cầu tham vấn cộng đồng trong hoạt động ĐTM, thông tin minh bạch
với cộng đồng về sự án và kết quả ĐTM đã được đề cập đến trong các văn bản
về ĐTM, cụ thể tại Điều 2 Chương III Thông tư 05/2008/TT-BTNMT quy định:
“Chủ dự án phải gửi văn bản thông báo về các hạng mục đầu tư chính, các vấn
đề môi trường, các giải pháp bảo vệ môi trường của dự án và đề nghị Ủy ban
nhân dân, Ủy ban mặt trận tổ quốc cấp xã nơi thực hiện dự án tham gia ý kiến;
đồng thời công bố công khai bằng văn bản để nhân dân biết và thực hiện đối
thoại với chủ dự án;…”. Tuy nhiên, việc thực hiện yêu cầu này diễn ra khác
nhau ở từng địa phương, các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, công tác này được thực hiện khá nghiêm chỉnh. Đặc biệt là đối với các dự
án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, công tác này được thực hiện rất cẩn thận,
điển hình là dự án nhiệt điện Phú Mỹ 2 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu do WB hỗ
trợ đã thực hiện rất tốt việc tổ chức các buổi họp báo với sự tham gia của các
bên liên quan: chính quyền, sở, ngành, các tổ chức liên quan và các hộ dân nằm
trong vùng dự án; trình bày minh bạch các thông tin chung liên quan đến dự án
cũng như biện pháp giảm thiểu ô nhiễm. Còn ở các địa phương khác, còn nghèo,
vùng miền núi, hoặc dân trí thấp thì hầu như hoạt động này không diễn ra, hoặc
có diễn ra thì chỉ mang tính chất hình thức.
IV. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐÁNH GIÁ
TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
Thứ nhất, Cần có những quy định điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ
thể trong hoạt động ĐTM không chỉ là mối quan hệ giữa chủ đầu tư với cơ quan
quản lý nhà nước về môi trường mà cần có những chế định quy định về mối
quan hệ giữa chủ đầu tư với các cơ quan khác và với tổ chức dịch vụ tư vấn; Cần
9
nghiên cứu hoàn thiện các quy định đảm bảo chất lượng của báo cáo ĐTM bằng
việc đưa ra các tiêu chí đánh giá chất lượng của báo cáo ĐTM;

1. Định nghĩa đánh giá tác động môi trường………………………………… 1
2. Bản chất pháp lý và yêu cầu đánh giá tác động môi trường……………… 1
II. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC
ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 2
1. Các văn bản pháp luật hiện hành quy định về đánh giá tác động môi
trường………………………………………………………………………… 2
2. Nội dung của các quy định pháp luật hiện hành về đánh giá tác động môi
trường…………………………………………………………….……… … 2
2.1. Đối tượng phải thực hiện ĐTM……………………………………… ….2
2.2. Trách nhiệm lập báo cáo ĐTM của chủ dự án……………………… … 3
2.3. Nội dung báo cáo ĐTM……………………………………………….… 4
2.4. Thẩm định báo cáo ĐTM……………………………………………… 4
III. THỰC TIỄN THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG… 6
1. Thành quả đạt được………………………………………………………… 6
2. Những bất cập trong quá trình thực hiện ĐTM…………………………… 7
2.1. Việc thực hiện ĐTM đối với một số dự án còn mang tính hình thức………7
2.2. Về việc thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM………………… ……… 8
2.3. Yêu cầu thông tin và tham vấn cộng đồng về ĐTM thường bị xem nhẹ hoặc
làm ngơ……………………………………………………………………… 9
IV. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐÁNH GIÁ
TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG……………………………………………… …9
KẾT LUẬN………………………………………………………………… 10
11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật môi trường, Nxb: Công
an nhân dân, năm 2006;
2. Luật bảo vệ môi trường năm 2005;
3. Nghị định số 29/2011/NĐ- CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 quy định về
đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ
môi trường;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status