BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC:
“XÂY DỰNG CON NGƯỜI VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM
TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ”
MÃ SỐ KX.03/06-10
*****
ĐỀ TÀI
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ TÂY ÂU, BẮC MỸ
ĐỐI VỚI THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HOÁ
Mã số: KX.03.09/06-10
(BÁO CÁO TỔNG HỢP)
Chủ nhiệm đề tài: TSKH. LƯƠNG VĂN KẾ
Tổ chức chủ trì đề tài: TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 8120Hà Nội – 2010
Hà Nội – 2010
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA
1. TSKH. Lương Văn Kế
2. TS Trần Văn La
3. PGS.TS. Lâm Bá Nam
4. PGS.TS Đinh Công Tuấn
5. GS.TS. Hồ Sĩ Quý
6. PGS.TS.Lê Bộ Lĩnh
7. TS. Lê Thế Quế
8. TS. Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
9. PGS.TS. Ngô Văn Doanh
10. PGS.TS. Đỗ Thu Hà
11. PGS.TS. Phạm Quang Minh
12. ThS. Nguyễn Ngọc Mạnh
13. ThS.Nguyễn Thị Nga
Cùng một số nhà khoa học
14. GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm
15. GS.TS.Hoàng Vinh
16. GS.Vũ Dương Ninh
17. PGS.TS.Lê Văn Sang
18. TS. Bùi Hồng Hạnh
19. TS.Đặng Huy Trinh
20. PGS.TS. Hoàng Khắc Nam
21. TS Nguyễn Văn Cư
1.2 Bản sắc văn hóa 60
II CÁC CẤP ĐỘ KHÔNG GIAN VĂN HÓA 61
2.1 Các loại hình văn hóa của nhân loại 61
2.2 Các cách xác định không gian văn hóa 63
iii
2.3 Đặc trưng của không gian văn hóa khu vực 66
2.4 Văn hóa dân tộc trong thời đại toàn cầu hóa 69
III TIÉP XÚC VĂN HOÁ TRONG KỶ NGUYÊN TOÀN CẦU HOÁ 70
3.1 Khái niệm và mô hình tiếp xúc văn hoá 70
3.2 Tiếp xúc ngôn ngữ 73
3.3 Liên văn hoá 75
PHẦN THỨ HAI
ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HÓA TÂY ÂU VÀ BẮC MỸ 79
CHƯƠNG III
CỘI NGUỒN VÀ THÀNH TỰU CỦA VĂN HOÁ TÂY ÂU
81
I ĐĂC TRƯNG CỘI NGUỒN CỦA VĂN HÓA TÂY ÂU 81
1.1 Cội nguồn Trung Cận Đông 81
1.2. Cội nguồn bản địa: Cội nguồn văn minh Hy Lạp cổ đại 82
1.3. Cội nguồn Thiên chúa giáo 84
II ĐẶC TRƯNG THÀNH TỰU CHỦ YẾU CỦA VĂN HÓA TÂY ÂU 85
2.1. Đặc trưng các thành tựu thời Hy Lạp – La Mã cổ đại 85
2.2. Đặc trưng các thành tựu thời Trung cổ 87
2.3. Đặc trưng văn hoá thời kỳ Phục hưng và Khai sáng 88
2.4 Thành tựu văn minh Châu Âu thế kỷ XIX: Hiện đại hoá 89
2.5 Đặc trưng văn hoá Tây Âu thế kỷ XX 91
2.2 Văn hoá đại chúng 141
2.3 Thành tựu khoa học công nghệ 144
CHƯƠNG VI
ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HOÁ BẮC MỸ 146
I. HỆ THỐNG GIÁ TRỊ MỸ 146
1.1 Cá nhân luận và sự tự lập 146
1.2 Giấc mơ Mỹ: Sự bình đẳng về cơ hội và sự cạnh tranh 151
1.3 Thành đạt về vật chất và sự cần cù lao động 152
v
1.4 Tính táo bạo, chấp nhận rủi ro và năng lực sáng tạo 157
1.5 Tính thẳng thắn và quyết đoán 164
1.6 Mức độ sâu sắc vừa phải của các mối liên hệ 165
II. TÍNH THỰC DỤNG – QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MỸ TIÊU BIỂU 166
2.1 Lịch sử hình thành chủ nghĩa thực dụng Mỹ 166
2.2 Đặc điểm của chủ nghĩa thực dụng Mỹ 167
III CHỦ NGHĨA LIÊN BANG VÀ ĐA DẠNG VĂN HÓA 169
3.1 Chủ nghĩa liên bang 169
3.2 Đa dạng văn hóa 170
IV ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA KINH TẾ MỸ 173
4.1 Mô hình kinh tế quốc dân của Mỹ nhìn từ khía cạnh văn hoá 173
4.2 Văn hoá doanh nghiệp Mỹ 175
V TÍNH THỐNG NHẤT GIỮA VĂN HOÁ MỸ VÀ VĂN HOÁ CANADA 178
5.1 Tính chất đa văn hoá của Canada 178
5.2 Ảnh hưởng to lớn của văn hoá Mỹ 179
PHẦN THỨ BA
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ TÂY ÂU, BẮC MỸ
ĐỐI VỚI THẾ GIỚI & KINH NGHIỆM ỨNG XỬ 183
III ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA TÂY ÂU, BẮC MỸ ĐỐI VỚI ĐÔNG ÂU 221
3.1 Ảnh hưởng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh (1945-1990) 221
3.2 Ảnh hưởng từ 1990 đến nay 226
CHUƠNG IX
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA TÂY ÂU, BẮC MỸ
ĐỐI VỚI CHÂU Á
238
I ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI TRUNG ĐÔNG 238
1.1 Ảnh hưởng của lối sống Phương Tây 238
1.2 Ảnh hưởng về văn hoá chính trị và truyền thông 240
II ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY ĐỐI VỚI ẤN ĐỘ 242
2.1 Đặc điểm của ảnh hưởng Phương Tây đối với văn hóa Ấn Độ 242
vii
2.2 Tiếp biến văn hóa Phương Tây tại Ấn Độ 244
III ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY ĐỐI VỚI ĐÔNG Á 246
3.1 Đặc điểm của xã hội Đông Á cổ truyền 246
3.2 Ảnh hưởng đối với Nhật Bản 247
3.3 Ảnh hưởng đối với Trung Quốc 251
3.4 Ảnh hưởng đối với Hàn Quốc 258
3.5 Ảnh hưởng đối với Đông Nam Á 261
CHƯƠNG X
KINH NGHIỆM TIẾP THU, VẬN DỤNG VÀ PHÁT HUY
CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY
270
I NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ TRƯỚC ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA
PHƯƠNG TÂY
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM
299
I NHỮNG TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM 299
1.1 Những quan điểm đánh giá 299
1.2 Các giá trị cơ bản của văn hoá Việt Nam 302
1.3 Một số hạn chế cơ bản trong truyền thống văn hoá Việt Nam 308
II BẢN SẮC VĂN HOÁ VIỆT NAM TRONG TIẾP XÚC VĂN HÓA 313
2.1 Bản sắc và hội nhập văn hoá 313
2.2 Bản sắc văn hoá Việt Nam trong tiếp xúc với Phương Tây 314
CHƯƠNG XII
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ TÂY ÂU, BẮC MỸ ĐẾN NĂM 1975
318
I ẢNHHƯỞNG GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ XIX ĐẾN NĂM 1954 318
1.1 Đặc điểm ảnh hưởng của văn hóa Phương Tây đối với Việt Nam 318
1.2 Ảnh hưởng của văn hóa Phương Tây trên một số lĩnh vực 322
II GIAI ĐOẠN 1954 -1975 329
2.1 Ảnh hưởng của văn hoá Phương Tây ở miền Bắc 329
2.2 Ảnh hưởng của văn hoá Phương Tây ở miền Nam 330
CHƯƠNG XIII
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ TÂY ÂU, BẮC MỸ
ĐỐI VỚI VIỆT NAM TỪ NĂM 1975
335
I ĐẶC ĐIỂM TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY ĐỐI
VỚI VIỆT NAM
335
1.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam 335
1.2 Đặc điểm sự tiếp xúc với văn hoá Phương Tây từ năm 1975 336
2.2 Tàn dư của tư duy tiểu nông và tư tưởng đạo đức phong kiến 368
III CÁC NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ VỚI VĂN HOÁ PHƯƠNG TÂY 369
3.1 Nguyên tắc tôn trọng nhưng bình đẳng 369
x
3.2 Nguyên tắc chọn lọc tinh hoa và có bài bản 370
3.3 Nguyên tắc kế thừa và phát huy 371
3.4 Nguyên tắc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài 371
IV NHỮNG VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP CỤ THỂ 372
4.1 Cần nhận thức rõ và đúng bối cảnh hội nhập của văn hoá Việt Nam 372
4.2 Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam 372
4.3 Vai trò của giáo dục và khoa học trong hội nhập văn hoá 376
4.4 Vai trò của thông tin và truyền thông 379
4.5 Vai trò của đối thoại và đoàn kết tôn giáo 379
4.6 Vai trò của Việt kiều 380
KẾT LUẬN 383
TÀI LIỆU THAM KHẢO 403
PHỤ LỤC
ĐỀ TÀI KX03.09/06-10 – MỞ ĐẦU
1
MỞ ĐẦU
I. Về sự cần thiết, cấp bách của đề tài
Trong các trung tâm tư liệu về Châu Âu và Hoa Kỳ cũng như nghiên cứu về văn
hoá thế giới nói chung, ví dụ Trung tâm tư liệu về Châu Âu thuộc Viện nghiên cứu Châu
Âu, Phòng đọc cuả Trung tâm Hoa Kỳ học của Đại sứ Quán Hoa Kỳ tại Hà Nội cũng như
tại Trung tâm Thông tin - thư viện Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân vă
n và và
Trong thế giới toàn cầu hoá đầy bất công do dựa trên luật chơi của các cường quốc
Phương Tây đó, các quốc gia và nền văn hoá phi Phương Tây đứng trước những vấn đề
nan giải. Họ muốn tham dự vào cuộc chơi không cân sức này nhằm đối chọi lại thế giới
Phương Tây, cái thế giới luôn xem bản sắc và đặc thù của các quốc gia phi Phương Tây
1
Wolton, D.: Toàn cầu hoá văn hoá, tr. 7.
ĐỀ TÀI KX03.09/06-10 – MỞ ĐẦU
2
như là kẻ thù và là mục tiêu yêu sách của họ trong các quá trình thương lượng quốc tế.
Vấn đề nan giải của các quốc gia phi Phương Tây thể hiện ở sự mâu thuẫn giữa hội nhập
kinh tế, tiếp thu yếu tố ngoại lai và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, giữa phát triển và bảo
tồn văn hoá, giữa lối sống tự do cá nhân đầy hấp dẫn của Phương Tây và nền nế
p cộng
đồng truyền thống. Tất thảy đang làm cho thang giá trị vốn có của xã hội lung lay. Tình
hình đó đòi hỏi các chính khách và những người, những tổ chức có trách nhiệm của mỗi
quốc gia và toàn xã hội phải có một cách nhìn toàn diện và biện chứng về sản phẩm văn
hoá và chỉnh thể nền văn hoá Tây Âu, Bắc Mỹ và ảnh hưởng mạnh mẽ của nó đến toàn
toàn bộ nền vă
n minh nhân loại nói chung trong đó có Việt Nam trong thời đại toàn cầu
hoá.
Trên thực tế ở nước ta, trong khi ta đã có những bước tiến dài về phát triển kinh tế,
chính trị và đang đứng trước những thách thức, những cơ hội lớn lao của quá trình hiện
đại hoá, một quá trình không thể nào tách rời việc tiếp thu các giá trị và yếu tố của văn
hoá Âu-Mỹ, thì việc xây dựng nền văn hoá "tiên tiến đậm đ
à bản sắc dân tộc" lại đang có
nhiều vấn đề nan giải, thậm chí là khủng hoảng: khủng hoảng niềm tin, khủng hoảng hệ
thống giá trị, mất định hướng phát triển, mơ hồ về lí tưởng, xa rời đời sống dân tộc và
đất nước. Sự đánh đồng tính hiện đại và tiên tiến chân chính với sự "Tây phương hoá"
giới trong tiếp
xúc với văn hoá Tây Âu, Bắc Mỹ:
Trong quá trình toàn cầu hoá văn hoá và tiếp xúc với văn hoá Âu-Mỹ, địa vị và vai
trò của các yếu tố văn hoá và các nền văn hoá có nhiều đặc điểm không giống nhau. Văn
hoá của các dân tộc nhược tiểu, các quốc gia chậm phát triển thuộc các khu vực Châu
Phi, Mỹ Latinh, và một phần lớn của Châu Á cũng như Đông Âu (bao gồm cả Liên bang
Nga) đã và đ
ang chịu sức ép ngày càng gia tăng trước sức ảnh hưởng mạnh mẽ của các
yếu tố và giá trị văn hoá đến từ các nước Tây Âu và Bắc Mỹ - khu vực mà giới nghiên
cứu quốc tế quen gọi một cách định kiến là Phương Tây.
Cũng trên phương diện lý luận, ở Việt Nam cũng như nhiều nước phi Phương Tây
khác tồn tại một quan điểm thiếu khách quan cho rằng v
ăn hoá Phương Tây chủ yếu chỉ
chứa đựng các yếu tố tiêu cực, đồng nhất văn hoá Âu-Mỹ với chủ nghĩa cá nhân (với
nghĩa tiêu cực/ích kỷ), chủ nghĩa "duy lí tàn nhẫn", chủ nghĩa kỹ trị, những lối sống
hưởng thụ, tự do phóng đãng, đồi trụy; thậm chí đồng nhất văn hoá Mỹ với ma tuý, đĩ
điếm và coi văn hoá Mỹ như là bi
ểu hiện của chủ nghĩa đế quốc về văn hoá. Những quan
điểm thiếu khách quan đó dẫn đến những cách ứng xử mang tính tiêu cực: nhân danh giữ
gìn truyền thống và bản sắc văn hoá mà kêu gọi chống lại toàn bộ "sự xâm nhập" của văn
hoá Tây Âu, Bắc Mỹ.
Do đó, vấn đề cấp thiết là phải làm sáng tỏ và tái xác nhận những yếu tố bả
n sắc
chủ đạo tạo nên sức sống mãnh liệt và sức lan toả toàn cầu của văn hoá Tây Âu, Bắc Mỹ.
Nói một cách khác, cần thiết phải làm rõ đâu là giá trị đặc thù và giá trị phổ biến của nền
văn hoá khu vực Tây Âu, Bắc Mỹ, nhằm góp phần thay đổi cách nhìn thiếu khách quan
nói trên.
- Nhận thức đúng đắn quá trình truyền bá văn hoá Phương Tây ra thế giới và đến
Việt Nam:
Văn hoá Tây Âu, Bắ
hiện đại của nhân loại? Trong khi đó, việc nghiên cứu một cách khoa học và mang tính
hệ thống ở cấp nhà nước về quá trình tiếp xúc văn hoá, tiếp thu yếu tố tinh hoa của văn
hoá nước ngoài trong thời đại toàn cầu hoá ch
ưa được thực hiện tuơng xứng. Nó cũng là
bước tiếp nối và bổ sung hữu hiệu cho việc nghiên cứu văn hoá và con người phục vụ
việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực văn hoá.
- Góp phần vào phương pháp luận khoa học nghiên cứu khu vực học, toàn cầu học
và về bản sắc văn hoá và tiếp xúc văn hoá:
Lâu nay ở Việt Nam các học giả nói nhiề
u đến giao lưu văn hoá và tiếp xúc văn
hoá giữa Việt Nam và các nền văn hoá xung quanh, nhưng đó đều là những nghiên cứu
mang tính kinh nghiệm, cụ thể (empirical studies). Các vấn đề về phương pháp luận hiện
đại của khoa học nghiên cứu về các khu vực quốc tế, về văn hoá và về tiếp xúc văn hoá
chưa được đẩy mạnh, chẳng hạn vấn đề phương pháp nghiên cứu liên ngành
(interdisciplinary studies) và đa ngành (multidisciplinary studies) trong khu vự
c học và
toàn cầu học (area studies, global studies); hàng loạt khái niệm trong hệ vấn đề về bản sắc
văn hoá, bản sắc dân tộc và bản sắc văn hoá dân tộc cũng cần được hệ thống hoá và hiệu
chỉnh đúng đắn. Vậy là trong đề tài mang tính khu vực học và toàn cầu học này, hệ vấn
đề nêu trên sẽ được làm sáng tỏ và tạo thành cơ sở chung cho toàn bộ quá trình nghiên
cứu của đề tài nói riêng và góp phần quan tr
ọng về mặt lí luận trong nghiên cứu văn hoá
dân tộc, văn hoá khu vực, tiếp xúc văn hoá và hoạt động liên văn hoá.
Đề tài cũng có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đối với nhiều lĩnh vực:
ĐỀ TÀI KX03.09/06-10 – MỞ ĐẦU
5
- Đối với đào tạo trên đại học và nghiên cứu chuyên sâu về khu vực Âu-Mỹ
- Đối với thiết lập giao lưu và hợp tác văn hoá giữa Việt Nam và các nước Âu-Mỹ
- Đối với việc nâng cao dân trí
Marx, xem Chương I). Ở đây có thể có vấn đề: việc truyền giáo trên toàn c
ầu có nên được
coi là quá trình toàn cầu hoá không? Và nếu thừa nhận quá trình truyền giáo trước hết là
truyền bá Thiên chúa giáo là một quá trình toàn cầu hoá, thì phạm vi khảo sát của đề tài
có thể truy ngược về đến thời kỳ Trung cổ (thế kỷ V) thậm chí đến thời La Mã cổ đại.
Tuy nhiên nếu quan niệm toàn cầu hoá trước hết là toàn cầu hoá kinh tế thì chúng ta có
thể tránh được việc mở rộng thái quá phạm vi khảo sát của đề tài. Và chúng tôi chấp nhận
quan điểm này. Cũng theo cách hạn chế về thời gian, để “khoanh vùng” hẹp hơn nữa đối
ĐỀ TÀI KX03.09/06-10 – MỞ ĐẦU
6
tượng phân tích, đề tài sẽ tập trung vào các thời kỳ cao điểm của quá trình văn hoá
Phương Tây tác động đến thế giới. Đó là hai giai đoạn: thời kỳ chủ nghĩa thực dân và
thời kỳ từ năm 1989 trở lại đây.
Hướng hạn chế thứ hai, về mặt không gian, nếu quan niệm mỗi nền văn hoá tương
ứng với một quốc gia thì ph
ạm vi khảo sát sẽ bao quát 192 nền văn hoá quốc gia trải ra
trên tất cả bề mặt trái đất. Để hạn định lại phạm vi đối tượng cho phù hợp, đề tài đưa ra
hai hướng hạn định: (i) Phân chia toàn cảnh văn hoá thế giới thành một số khu vực liên
quốc gia, xem mỗi khu vực như thế là một đơn vị khảo sát; cụ thể là các khu vực sau: khu
vực Đông Á, khu vực Đông Nam Á, khu v
ực Trung Đông và Châu Phi, khu vực Nam Á
(Ấn Độ), khu vực Đông Âu, khu vực Tây Âu, khu vực Bắc Mỹ. Còn các khu vực khác nữa
như Trung Á, châu Đại Dương không được đưa vào phạm vi khảo sát vì các khu vực văn
hoá đó ít có liên quan đến các vấn đề của văn hoá Việt Nam. Riêng khu vực Mỹ Latin
cũng không được khảo sát riêng, mà chỉ được đề cập chung trên một số khía cạnh về ảnh
hưởng của văn hoá Phươ
ng Tây, vì trên thực tế khu vực này vốn là con đẻ của văn hoá
Phương Tây, mang bản sắc văn hoá Phương Tây nhưng kém phát triển hơn mà thôi. (ii)
Ngoài việc phân tích các nét chung của từng khu vực văn hoá ra, trong mỗi khu vực chọn
Tây và văn hoá Phương Tây (Pháp và sau đó là Mỹ), nhất là ở Sài Gòn và các đô thị
khác. Có thể nói Vi
ệt Nam vẫn duy trì mối tiếp xúc liên tục với văn hoá Phương Tây
thông qua văn hoá ở miền Nam. Giai đoạn lớn thứ hai (B) tính từ 30 tháng Tư năm 1975
đến nay có đặc điểm là văn hoá Việt Nam chỉ tiếp xúc gián tiếp với văn hoá Phương Tây
thông qua các văn hoá phẩm và các hệ thống thông tin và truyền thông, chứ không còn
điều kiện trực tiếp cọ sát với cộng đồng người Âu-Mỹ và văn hoá củ
a họ như năm 1975
trở về trước nữa. Tuy nhiên giai đoạn này cũng có thể chia thành hai thời kỳ: (b1) Từ
1975 đến cuối thập niên 1980 – đầu thập niên 1990 với đặc điểm nền kinh tế và xã hội
đóng cửa, khép kín đối với Phương Tây; (b2) Từ cuối thập niên 1980 - đầu thập niên
1990 đến nay khi Việt Nam thực hiện chính sách Đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế
ngày càng m
ạnh mẽ. Nhờ chính sách cải cách này trong bối cảnh toàn cầu hoá mạnh mẽ
và sâu sắc mà văn hoá Việt Nam có điều kiện tiếp xúc trở lại và tiếp nhận mạnh mẽ các
yếu tố văn hoá bên ngoài, nhất là từ các nước phát triển Âu-Mỹ. Diện mạo văn hoá Việt
Nam đã biến đổi vô cùng sâu sắc và mạnh mẽ theo hướng hiện đại hoá và Tây phương
hoá. Do tình hình lịch sử phức tạp nói trên, việ
c khảo sát quá trình tiếp xúc của văn hoá
Việt Nam và ảnh hưởng của văn hoá Phương Tây đối với Việt Nam chắc chắn đem lại
nhiều điều thú vị.
IV. Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
Nguồn tài liệu mà đề tài tham khảo và sử dụng là rất rộng lớn, có thể lên đến hàng
ngàn đầu sách và bài viết, cả bằng tiếng Việt và ngoại ngữ, cả củ
a tác giả trong nước và
tác giả nước ngoài, trong đó chủ yếu là các tác giả nước ngoài. Mức độ sử dụng tài liệu là
rất khác nhau, trong đó chúng tôi đặc biệt coi trọng các tài liệu liên quan đến đường lối
chính sách văn hoá của Đảng và Nhà nước ta. Tiếp theo là các công trình nghiên cứu
công phu của các tác giả nước ngoài. Và các công trình nghiên cứu của các tác giả trong
nước cũng được đề tài khai thác đến mức cao nhất có thể. Dưới đây đề tài đi
History) của nhà sử học lừng danh người Anh thế kỷ XX Arnold J. Toynbee.
Trong công trình thế kỷ Nghiên cứu lịch sử nhân loại xuất bản năm 1946,
Toynbee đã dụng công và đã thành công trong việc thiết kế một phương pháp luận lịch sử
khách quan để phân tích đánh giá toàn bộ
quá trình tiến hoá của nền văn minh nhân loại.
Toynbee còn chỉ ra qui luật của sự diệt vong, sự lan toả và phát triển mạnh mẽ của các
nền văn minh. Một kết luận cực kỳ quan trọng mà Toynbee rút ra là, nhân loại kể từ thế
kỷ XVI đã bước sang kỷ nguyên của nền văn minh Phương Tây, bất chấp việc các xã hội
có muốn hay không và các học giả có thừa nhận hay không. Những tiền đề c
ơ bản của nó
là: tư duy duy lý và sáng tạo nhất là khoa học công nghệ, kinh tế thị trường và phồn vinh
vật chất, chế độ dân chủ và tự do…
Trong công trình Văn hoá thế kỷ XX, tác giả Fragonard cho rằng, hầu hết các yếu
tố hay thành tựu được gọi là “văn hoá thế kỷ XX” đều thuộc về văn hoá Phương Tây.
Cũng dễ hiểu vì tác giả là người Tây Âu nhìn văn hoá theo cách của Phương Tây. Tuy
nhiên,
điều đó cũng không phủ nhận được đóng góp của công trình này cho việc nghiên
cứu văn hoá nhân loại thế kỷ XX.
Vấn đề bản sắc và các biện pháp tạo dựng bản sắc của văn hoá Châu Âu, Mỹ và
Phương Tây đã được bàn đến trong hàng loạt công trình của các học giả nước ngoài. Nổi
tiếng nhất và sớm nhất là tác phẩm kinh điển Nền dân trị Mỹ của nhà xã h
ội học Pháp
Alexis Toquille.
3
Cho đến ngày nay, sau gần hai thế kỷ - tác phẩm ra đời từ năm 1830 -
2
Michel Fragonard: Văn hoá thế kỷ XX - Từ điển lịch sử văn hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 1999
3
Tocquille, Alexis: Nền dân trị Mỹ. Phạm Toàn dịch. Hà Nội , 2007.
J. Spielvogel thuộc Đại học Pensylvania đã phân tích khá sâu sắc sự khác biệt giữa hai
khái niệm vă
n minh và nền văn minh
5
. Quan điểm về 8 nền văn minh rất gần gũi với
quan điểm của Huntington trong tác phẩm gây tranh cãi Sự va chạm của các nền văn
minh. Các công trình nghiên cứu về xã hội và văn hoá Mỹ hiện đại có nhiều phát hiện
mới mẻ như cuốn Lịch sử mới của nước Mỹ của Eric Foner (Hà Nội, 2003), cuốn Những
trào lưu mới trong xã hội Mỹ của Mark J. Penn (Hà N
ội, 2009) đã phân tích 75 xu hướng
tiềm ẩn sức mạnh to lớn làm thay đổi tương lai nước Mỹ.
Các vấn đề toàn cầu hoá và ảnh hưởng của văn hoá Phương Tây đối với thế giới
trong quá trình toàn cầu hoá cũng trở thành một trọng điểm nghiên cứu từ gần 20 năm trở
lại đây của các học giả Âu-Mỹ. Chẳng hạn các công trình: National Identity and
Internation Relations của W. Bloom (Cambridge University Press,1990),
Toàn cầu hoá
4
Kremer-Marietti,A.: : Luân lý, Người dịch:Nguyễn Văn Quảng, Bùi Văn Lung dịch, Hà Nội 2004
5
Spielvogel, Jackson J. : The western civilization: A brief history, Peking University Press, 2006.
ĐỀ TÀI KX03.09/06-10 – MỞ ĐẦU
10
văn hoá của D. Wolton (bản tiếng Việt. Hà Nội, 2006). Công trình Sự va chạm của các
nền văn minh (nguyên văn tiếng Anh: The clash of civilization and the remarking of
wolrd order) ra đời năm 1996 của S. Huntingon (Mỹ, đã được xuất bản bằng tiếng Việt
năm 2005) là một dấu ấn tiêu biểu bộc lộ quan điểm chính thống của một bộ phận giới
nghiên cứu ở Phương Tây về toàn cầu hoá và vai trò của v
ăn hoá.
các phát biểu đến từ nhiều nhân v
ật quan trọng của thế giới. Mục đích chính trị của diễn
đàn là tăng cường sức mạnh mềm của Trung Quốc. Các vấn đề về văn hoá và tôn giáo ở
1.
6
Hemmer, / Bubl / Krueger / Marienburg: Toàn cầu hoá với các nước đang phát triển. Khoa Quốc tế học dịch,
Hà Nội, 2001.
ĐỀ TÀI KX03.09/06-10 – MỞ ĐẦU
11
Đông Nam Á dưới tác động của toàn cầu hoá đã trở thành chủ đề của các diễn đàn quốc
tế chẳng hạn Hội thảo tại Kuala Lumpur (Malaysia) năm 2002 do Hiệp hội Hoa Kỳ học
Malaysia chủ trì. Các báo cáo khoa học được tập hợp lại trong công trình mang tên
Religious Pluralism in Democratic Societie. Challenges and Prospects for Southeast
Asia, Europe, and the United States in the New Millennium do K.S. Nathan chủ biên
(Singapore. Kuala Lumpur 2006).
Những biến đổi vĩ đại của đất nước Ấn Độ gần 20 năm trở lại đ
ây là tâm điểm của
giới nghiên cứu quốc tế ở Tây Âu và Hoa Kỳ. Về ảnh hưởng của văn hoá Phương Tây
đối với Ấn Độ, có thể kể đến các công trình sau đây: A Cultural History of India của
Basham của A.L.(Oxford University Press, Oxford India Paperbacks, 1999), Buck, C. H.
với công trình Fairs and Festivals of India, (New Delhi, India, 2002), Kinsley. Về tiếp
biến văn hoá ở Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, có rất nhiều công trình nghiên cứu thú
vị. Chẳng hạn về đặc trư
ng của đời sống văn hoá đương đại ở Nhật Bản, Schneider và
Silverman đã dành hàng trăm trang viết trong công trình Xã hội học toàn cầu để phân
tích, lí giải và ca ngợi sự kết hợp hiếm có giữa văn hoá truyền thống Phương Đông và
văn minh Phương Tây. Đặc biệt là công trình của giáo sư Tadao Umesao: Lịch sử nhìn từ
đoạn trước năm 1954 và (2) Giai đoạn sau 1954. Cuối thế kỷ XIX đã có hàng loạt công
trình nghiên cứu và giới thiệu về văn hoá, xã hội, tôn giáo Phương Tây của hai cha con
Trương Vĩnh Ký, Trương Vĩnh Tống và các nhà trí thức tiền bối Tây học khác xuấ
t hiện
ở miền Nam (Sài Gòn). Bằng các công trình đó, họ đã trở thành học giả quan trọng đầu
tiên nghiên cứu về Phương Tây và là người bắc nhịp cầu giao lưu văn hoá Đông Tây.
Nhưng phải đến giai đoạn những năm 20-30 đầu thế kỷ XX thì mới bùng nổ các
công trình nghiên cứu uyên bác và đầy hứng khởi về văn hoá, văn minh Pháp gắn với các
tên tuổi lẫy lừng của các nhà văn hoá uyên thâm c
ả Nho học và Tây học như Nguyễn Văn
Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Khôi. Các tác phẩm quan trọng và có giá trị của ông gần đây
được tập hợp trong bộ sách Thượng Chi văn tập (5 tập in chung, Nxb. Văn học, Hà Nội,
2006).
Giai đoạn từ 1954 đến 1975 ở Việt Nam là giai đoạn lịch sử đặc biệt, trong đó
miền Nam luôn đặt dưới sự thống trị của Phương Tây, trướ
c hết là ở Sài Gòn và các đô
thị khác. Trên lĩnh vực tư duy lý luận văn nghệ, một số nhà nghiên cứu gần đây đánh giá
rằng: ở một phương diện nào đó, sự tiếp biến các khuynh hướng lý luận - phê bình
phương Tây (ở miền Nam thể hiện những khát vọng đổi thay và sáng tạo để nhanh chóng
đuổi kịp Phương Tây
8
.
Giai đoạn từ năm 1975 đến 1990 việc nghiên cứu về Phương Tây bị chững lại bởi
lý do khác biệt ý thức hệ, giống như tình trạng ở miền Bắc suốt những năm 1954-1975
trước đó. Chỉ từ khi thực hiện chính sách Đổi mới, nhất là từ 1990 trở đi, việc nghiên cứu
về văn hoá Phương Tây mới được khôi phục. Tuy nhiên, tầm bao quát vấn đề, chi
ều sâu
chất lượng của các công trình còn nhiều hạn chế. Có lẽ nở rộ hơn cả là các sách giới thiệu
sơ lược về văn hoá các nước nhằm phục vụ du học, du lịch, kinh doanh. Cũng có một số
công trình nghiên cứu và hội thảo khoa học về triết học Phương Tây nhưng đa phần cũng
văn hoá Mỹ
và sức mạnh đặc biệt của nó. Còn trong cuốn Liên bang Mỹ - Đặc trưng xã
hội - văn hoá, tác giả Nguyễn Thái Yên Hương lại tiếp cận theo hướng mở rộng từ đặc
thù thể chế chính trị Mỹ đến đặc thù văn hoá, xem văn hoá Mỹ là sự cởi trói khỏi các
định kiến Châu Âu phù hợp với đặc thù một quốc gia đa chủng hỗn tạp và luôn luôn sống
động. Có quan đi
ểm gần gũi trong cách nhìn về văn hoá Mỹ là đề tài Đặc trưng văn hoá
Mỹ của Lê Thế Quế (ĐHQG Hà Nội, 2006). Đóng góp có ý nghĩa của đề tài là dành một
chương để nói về ảnh hưởng của văn hoá Mỹ trên thế giới và Việt Nam.
Về văn hoá Pháp và ảnh hưởng của văn hoá Pháp đối với Việt Nam, có rất nhiều
sách, bài báo đã đề cập, trước hết là trên lĩ
nh vực văn học, ngôn ngữ, báo chí, giáo dục,
hội hoạ. Thậm chí đã có cả một dự án nghiên cứu về giao lưu văn hoá Việt-Pháp. Kết quả
của dự án này được tập hợp trong cuốn sách mang tên: Giao lưu văn hoá & Ngôn ngữ
Việt-Pháp do Viện ngôn ngữ học thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam chủ trì (Tp Hồ
Chí Minh 1999). Còn trong cuốn Phác thảo chân dung văn hoá Pháp, với phong cách
báo chí hóm hỉnh và sinh động, Hữ
u Ngọc đã phác hoạ ra những đặc trưng cơ bản của
nền văn hoá Pháp kỳ vĩ, những "tính cách Pháp" (chẳng hạn tính hài hước, tính nhân văn
phổ biến), một số đại diện của văn hoá Pháp, và đặc biệt về ảnh hưởng của văn hoá Pháp
đối với văn hoá Việt Nam thông qua con người Hồ Chí Minh.
Trong cuốn Phác thảo chân dung đời sống văn hoá Đức đương đại củ
a Lương
Văn Kế (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004), tác giả đã dành hẳn một chương bàn về
khái niệm văn hoá và bản sắc văn hoá nói chung; dành một mục quan trọng để bàn về các
bản sắc văn hoá Châu Âu và biểu hiện của nó trong văn hoá Đức. Công trình đi sâu phân
tích đặc điểm của các lĩnh vực chủ yếu của đời sống văn hóa Đức với tư cách m
ột nền
văn hoá lớn và điển hình của văn hoá Châu Âu. Còn trong công trình Thế giới đa chiều.
Lý thuyết và kinh nghiệm nghiên cứu khu vực (2007) mang tính phương pháp luận trong