LỜI MỞ ĐẦU
Thế kỷ 21 đã mở ra một thời kỳ phát triển mới cho toàn cầu, một thế giới đầy
sôi động của quá trình toàn cầu hoá. Điều đó đã thúc đẩy các nước tích cực gia
nhập vào các tổ chức quốc tế như: WTO (tổ chức thương mại quốc tế), OECD (tổ
chức hợp tác và phát triển kinh tế), APEC (diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á thái bình
dương)...một loạt các hợp tác, đối tác được ký kết giữa các quốc gia tạo điều kiện
cho việc phát triển kinh tế-xã hội, giao lưu buôn bán giữa các nước trong thời kỳ mở
cửa. Đây là yếu tố hình thành vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), một nguồn vốn
có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình CNH-HĐH của các nước đang phát triển,
giải quyết một phần công ăn việt làm cho người lao động.
Đối với Việt Nam, một nước đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu, điều
kiện kinh tế còn nghèo nàn, cơ sở vật chất- kỹ thuật còn thiếu thốn, vậy mà mới chỉ
đổi mới thật sự sau năm 1986. Do đó, vấn đề đặt ra là: bằng mọi cách phải đưa nước
ta theo kịp với trình độ phát triển của thế giới, biến nước ta trở thành một nước có
nền công nghiệp vững vàng về mọi mặt nhưng cũng chỉ duy trì một tỷ lệ thất nghiệp
cho phép. Bởi vấn đề tạo việc làm cho người lao động ở nước ta trong tiến trình
toàn cầu hoá đặt ra nhiều khó khăn và thách thức lớn. Để giải quyết vấn đề này
không chỉ là yêu cầu trước mắt mà đó là cả vấn đề lâu dài cần phải có nhiều giải
pháp. Một trong các cách để giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp đó là:
Xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi để từ đó có thể thu hút được các nguốn vốn
đầu tư của nước ngoài đặt biệt là FDI.
Bởi vậy trong khuôn khổ của đề án này sẽ tập trung nghiên cứu: “Đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) với vấn đề tạo việc làm cho người lao Việt Nam trong
tiến trình toàn cầu hóa.
Trang 1
Nội dung của đề án gồm 3 phần:
Phần I: Ý nghĩa của đầu tư trực tiếp nước ngoài và tạo việc làm cho
người lao động Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hoá
Phần II: Phân tích trực trạng về hiệu qủa đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) với vấn đề tạo việc làm cho người lao động Việt Nam trong tiến trình
toàn cầu hoá.
trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Do đó, chất lượng
của các quyết định đầu tư sẽ quyết định sự thịnh vượng hay xuống dốc của doanh
nghiệp.
Đối với nền kinh tế nói chung, toàn bộ việc đầu tư được tiến hành ở một thời
kỳ nhất định là nhân tố cơ bản duy trì và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của nền
kinh tế tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm, đáp ứng
nhu cầu của nền kinh tế trong thời kỳ tiếp theo. Xét về lâu dài, khối lượng đầu tư
Trang 3
của ngày hôm nay sẽ quyết định dung lượng sản xuất, tốc độ tăng trưởng kinh tế,
mức độ cải thiện đời sống trong tương lai.
2.Đầu tư nước ngoài trực tiếp.
Trong các nguồn vốn đầu tư nước ngoài thì nguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI
có vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng khá lớn (khoảng 30% số vốn đã thực hiện),
hiện nay tỷ trọng này đang có xu hướng ngày một tăng lên. Sự gia tăng này đang có
xu hướng ngày một tăng lên. Sự gia tăng này không chỉ bắt nguồn từ sự hùng mạnh
của các công ty đa quốc gia và chiến lược phát triển mở rộng đầu tư của các công ty
này mà còn ở chỗ nó là hình thức đầu tư được thực tế xác nhận là có hiệu quả cao và
phù hợp với nhu cầu tăng trưởng nhanh của các nước nghèo, trong đó có Việt Nam.
Theo quan niệm của OECD (tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) thì các
nguồn tài trợ của nước ngoài bao gồm:
- Tài trợ phát triển chính thức: ODF (Official Development Finance) bao
gồm viện trợ phát triển chính thức ODA (Offical Development Assistance) và các
hình thức ODF khác, song phương cũng như đa phương.
- Tín dụng xuất khẩu
- Tài trợ tư nhân bao gồm vay từ ngân hàng quốc tế, vay tín phiếu, đầu tư
trực tiếp, các nguồn tài trợ tư nhân khác, viện trợ cho không của các tổ chức phi
chính phủ.
Như vậy, theo quan niệm của tổ chức này đầu tư trực tiếp là một trong những
nguồn tài trợ tư nhân. Nhưng trong thực tế đầu tư thời gian qua chúng ta thấy rằng,
chủ thể của FDI không chỉ có duy nhất tư nhân mà còn có nhà nước và các tổ chức
tại VN trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định kí giữa Chính phủ nước cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam và Chính phủ nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn
nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Hình thức này có đặc điểm:
-Thành lập pháp nhân mới hoạt động trên nguyên tắc hạch toán độc lập dưới
hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
-Phần góp vốn của bên hoặc các bên nước ngoài không hạn chế mức tối đa
nhưng tối thiểu không được dưới 30% vốn pháp định thông thường bên nước ngoài
là 70% và bên Việt Nam là 30% vốn pháp định.
-Cơ quan lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp liên doanh là hội đồng quản trị
mà thành viên của Hội đồng quản trị do mỗi bên chỉ định tương ứng với tỷ lệ góp
Trang 5
vốn của các bên nhưng ít nhất phải là 2 người, Hội đồng quản trị có quyền quyết
định những vấn đề quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp theo nguyên tắc
nhất trí.
-Các bên tham gia liên doanh phân chia kết quả kinh doanh theo tỷ lệ góp vốn
của mỗi bên trong vốn pháp định hoặc theo thoả thuận giữa các bên. Thời hạn hoạt
động không quá 50 năm trong trường hợp đặc biệt được kéo dài không quá 20 năm.
*Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:
Theo điều 26 nghị định 12/CP qui định:"Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước
ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đàu tư nước ngoài thành lập tại Việt
nam tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh ". Doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm
hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt nam. Thời hạn hoạt động không
quá 50 năm kể từ ngày được cấp giấy phép.
*Hợp đồng xây dựng - kinh doanh- chuyển giao (BOT):
Theo điều 12 khoản 2 luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam: "Hợp đồng xây
dựng- kinh doanh- chuyển giao là văn bản kí giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt
nam và nhà đầu tư nước ngoài đề xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng
trong thời hạn nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi
1.1. Khái niệm toàn cầu hoá.
Theo Trần Việt Phương thì: “Toàn cầu hóa kinh tế là những mối quan hệ
kinh tế vượt qua biên giới quốc gia vươn tới quy mô toàn thế giới đạt trình độ và
chất lượng mới”.
Theo nghị quyết Đại Hội Đảng Bộ toàn quốc IX thì: “ Toàn cầu hoá là sự tự
do hoá thương mại, thị trường. Toàn cầu hoá đó là tiến trình toàn cầu toàn cầu hoá
về kinh tế, chính trị, văn hoá- xã hội được đẩy nhanh bởi công nghệ tin học và viễn
thông”.
Như vậy, toàn cầu hoá trước hết nó phải là một mối quan hệ kinh tế, chính
trị, văn hoá- xã hội nhưng những mối quan hệ này phải vượt ra khỏi biên giới một
quốc gia, nghĩa là nó phải có sư thông thương về một trong các lĩnh vực trên với các
nước khác. Nếu nó chỉ đơn thuần ở một quốc gia thì đây không thể gọi là toàn cầu
hoá được. Trước kia, thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp, nền kinh tế nước ta
gần như đóng cửa hoàn toàn hầu như không giao lưu buôn bán với một nước nào
(ngoài một số nước XHCN). Do vậy ngoại thương nước ta phát triển ở một mức độ
Trang 7
cực kỳ thấp và đây chính là nguyên nhân khiến nền kinh tế nước ta trì trệ, chậm phát
triển. Nhưng với quá trình phát triển của thế giới yêu cầu về giao lưu buôn bán, trao
đổi trên thế giới đã phá bỏ cơ chế cũ và thay vào đó là cơ chế quản lý theo kiểu cơ
chế thị trường. Thực tế từ năm 1986 đến nay nước ta đang ngày một đổi mới và phát
triển, tuy với tốc độ phát triển chưa cao xong cũng đã đáp ứng phần nào yêu cầu của
quá trình hội kinh tế trong khu vực và trên thế giới hiện nay.
1.2. Tính tất yếu của quá trình toàn cầu hoá.
Toàn cầu hoá đã và đang là một xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển
của thế giới. Với quá trình phân công lao động quốc tế càng ngày đi vào chiều sâu
và sự phát triển nhanh chóng của khoa học- công nghệ đã đẩy nhanh quá trình quốc
tế hoá nền kinh tế thế giới. Quá trình này được thể hiện rất rõ trong sự gia tăng rất
nhanh của trao đổi quốc tế về thương mại, dịch vụ tài chính. Cùng với sự hình thành
các khu thương mại tự do và các khối liên kết trên thế giới như các tổ chức WTO,
OECD, APEC, WB (ngân hàng thế giới), IMF (quỹ tiền tệ quốc tế).Thế giới đang
(ASEM).
- Năm 1995, Việt Nam chính thức đề nghị gia nhập WTO, và hiện nay đang
thực hiện nhiều biện pháp để mau chóng trở thành thành viên của WTO.
- Ngày 15/12/1995,Việt Nam chính thức tham gia tổ chức AFTA (khu mậu
dịch tự do ASEAN) bằng việc ký Nghị định thư tham gia hiệp định về Chương trình
thuế quan ưu đãi hiệu lực chung (CEPT). Hiệp định CEPT quy định các nước thành
viên ASEAN sẽ thực hiện lịch trình cắt giảm thuế nhập khẩu hàng hoá có xuất xứ
ASEAN theo lộ trình trong vòng 15 năm với mức thuế xuất cuối cùng là 0-5%. Việt
Nam bắt đầu thực hiện CEPT từ ngày 1/11996 và hoàn thành 1/12006.
Nhật thấy được tính tất yếu và vai trò quan trọng của toàn cầu hoá như vậy
nước ta đã chủ động tích cực khi tham gia và hội nhập, khi tham gia vào quá trình
toàn cầu hoá sẽ tạo cơ hội cho các nhà kinh tế, nhà khoa học Việt Nam tiếp thu tiến
bộ khoa học của thế giới, tiếp cận tác phong lao động công nghiệp từ đó chúng ta có
thể nâng cao được chất lượng nguồn nhân lực khi tham gia có hiệu quả vào phân
công lao động quốc tế, rút ngắn khoảng cách về trình độ chuyên môn kỹ thuật. Khi
các nhà đầu tư nước ngoài vào thì số lượng lao động chất lượng cao này sẽ đáp ứng
phần nào yêu cầu của họ và tất nhiên sẽ tạo thêm một số công ăn việc làm cho người
lao động
Trang 9
Ngoài ra hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì thị trường lao động sẽ được
mở rộng thông qua việc xuất khẩu lao động sang các nước như: Nhật Bản, Hàn
Quốc, Đài Loan...làm cho thị trường lao động của nước ta sôi động hẳn lên. Bởi
xuất khẩu lao động vừa tạo ra công ăn việc làm cho người lao động vừa góp phần
cải thiện và nâng cao đời sống của xã hội. Tính đến năm 2001 đã có 310.000 lao
động và chuyên gia Việt Nam sang làm việc làm việc tại 40 và vùng lãnh thổ với
hơn 30 nhóm nghề khác nhau. Năm 2002 đã đưa 46.120 người đi làm việc tại nước
ngoài, tăng 24,46% so với năm trước và tăng 21,37% so với kế hoạch, trong đó có
13.200 lao động sang Đài Loan, 20.000 lao động sang Hà Quốc. Xuất khẩu lao động
ra thị trường đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển hệ thống đào tạo
việc làm, nâng c0ao chất lượng nguồn nhân lực.
trường... Tuy nhiên với vai trò to lớn của FDI để phát huy những tích cực và khắc
phục hạn chế các nước đang phát triển cần đưa ra chính sách phù hợp đồng thời thu
hút nhiều FDI vào hơn.
2.2. Tác động của FDI với tạo việc làm.
2.2.1 Lý thuyết về lợi ích của đầu tư nước ngoài
Hợp tác đầu tư nước ngoài chỉ có thể thành công khi có sự gặp gỡ về lợi ích
của cả hai bên. Sử dụng sản phẩm cận biên của vốn đầu tư nước ngoài làm công cụ
chính, ngay từ năm 1960 Mác Dougall đã chỉ ra rằng sự tăng vốn đầu tư FDI vừa
làm tăng sản phẩm đầu ra vừa phân phối lại thu nhập giữa nhà đầu tư trong nước và
người lao động.
y
G
F E D
H I J K
A B C L x
Hình 1: Mô hình Mác Dougall về FDI.
Trong hình 3 vốn cổ phần đầu tư là AC, trong đó AB là vốn cổ phần của nhà
đầu tư trong nước và BC là của nhà đầu tư nước ngoài. Gía trị đầu ra là GDCA; thu
nhập của chủ đầu tư trong nước là FEBA, của chủ đầu tư nước ngoài là EDCB, của
Trang 11