Đầu tư trực tiếp nước ngoài với việc tạo việc làm cho người lao động Việt nam trong tiến trình toàn cầu hóa - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết cuả đề tài.
Vốn là một nước thuần nông với nền sản xuất lạc hậu lại phải chịu liên
tiếp các cuộc chiến tranh khốc liệt tàn phá, hậu quả nặng nề để lại cho nước ta
là không thể tránh được.Để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khó khăn lạc
hậu, Đảng và nhà nước đã chủ trương huy động mọi nguồn lực cho phát triển
kinh tế, một trong những nguồn lực vô cùng quan trọng được Đảng hết sức
chú ý đó là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.
Việc thu hút FDI có vai trò to lớn: bổ sung cho nguồn vốn trong nước,
tăng cuờng tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý, giúp chúng ta có thể tham
gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu, giúp tăng số lượng việc làm và đàotạo
công nhân,v..v..Với những lợi ích to lớn đem lại như vậy, có thể thấy thu hút
FDI là sự tất yếu để phát triển nhanh nền kinh tế nước ta.
Với những lý do nêu trên tôi xin chọn đề tài đề án môn học: “Đầu tư trực
tiếp nước ngoài với việc tạo việc làm cho người lao động Việt nam trong tiến
trình toàn cầu hóa”
2.Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
-Mục đích nghiên cứu:Nghiên cứu nguyên nhân ra đời,vai trò của nguồn
vốn FDI cũng như mối quan hệ của nó với công tác tạo việc làm hiện nay của
nước ta.
-Nhiệm vụ nghiên cứu:Tìm ra các giải pháp nhằm thu hút, nâng cao hiệu
quả sử dụng nguồn vốn FDI, các tác động của nó tới tạo việc làm cho lao
động Việt nam trong tiến trình toàn cầu hóa.
-Đối tượng nghiên cứu chính của đề án là tạo việc làm cho người lao
động thông qua FDI trong tiến trình toàn cầu hóa.
-Đề án nghiên cứu các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanh
nghiệp liên doanh,doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài,…và nghiên cứu trong
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khoảng thời gian 10 năm trở lại đây.

-FDI với các quốc gia nói chung.
Việc làm và thất nghiệp là những vấn đề quan trọng đối với sự phát triển
của các quốc gia.Đối với các nước đang phát triển nhu cầu về việc làm đã tạo
sức ép lớn đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.Để tạo việc làm cho
người lao động đòi hỏi phải tận dụng các nguồn vốn trong nước và ngoài
nước.Cơ chế tạo việc làm đòi hỏi có sự tham gia tích cực không chỉ của nhà
nước,người sử dụng lao động mà còn ở chính bản thân người lao động.
Tạo việc làm cho người lao động thông qua FDI là xu hướng quan trọng
đối với các nước đang phát triển.Bởi FDI có ưu thế trong tạo ra việc làm có
chất lượng cao.
Về số lượng,FDI không chỉ tạo ra việc làm trực tiếp (tức là số lượng việc
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
làm mà các doanh nghiệp có vốn FDI trực tiếp tạo ra) mà còn tạo việc làm
gián tiếp thông qua các dịch vụ sản xuất và tiêu thụ mà các doanh nghiệp có
vốn FDI tạo ra . Về mặt số lượng các nghiên cứu đều khẳng định việc làm
được tạo bởi nguồn vốn FDI có chất lượng cao hơn việc làm được tạo ra bởi
các nguồn vốn trong nước khi so sánh trong cùng ngành và lĩnh vực. Ngoài
việc góp phần tạo việc làm,FDI cũng tạo ra những tác động khác trên thị
trường lao động ở các nước đang phát triển.Những tác động này bao gồm
chảy màu chất xám,di chuyển lao động giữa nông thôn và thành thị,sự diễn
biến phức tạp của các loại quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có FDI…
trong đó vấn đề di chuyển lao động giữa nông thôn và thành thị là vấn đề cần
đặc biệt quan tâm. Để giải quyết việc làm,giảm tỷ lệ thất nghiệp cần phải thu
hút đầu tư không chỉ ở khu vực thành thị mà còn cả ở nôn thôn.Đối với các
nước đang phát triển do lao động tập trung nhiều ở nông nghiệp,nông thôn thì
vấn đề này càng trở nên ý nghĩa.
-FDI với Việt nam: FDI vào Việt nam từ năm 1988 đến nay với nhịp độ
khá nhanh và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã
hội.Theo báo cáo của bộ Kế hoạch và đầu tư(KH&ĐT),số dự án FDI được

3.Các hình thức của FDI.
- Các hình thức phổ biến:
+ Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh:là hình
thức đầu tư,trong đó bên Việt nam và bên nước ngoài cùng nhau thực hiện
hợp đồng được kí kết giữa hai bên,trong đó quy định rõ trách nhiệm,nghĩa vụ
và quyền lợi của mỗi bên trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà không
thành lập một pháp nhân mới.
+ Doanh nghiệp liên doanh:Bên Việt nam và bên nước ngoài cùng nhau
góp vốn theo tỷ lệ nhất định để thành lập một doanh nghiệp mới(thường dưới
dạng công ty trách nhiệm hữu hạn) có hội đồng quản trị và ban giám đốc
riêng.Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân Việt nam.Mỗi bên liên
doanh được chia lợi nhuận và phân chia rủi ro theo tỷ lệ góp vốn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:Trong hình thức đầu tư này,bên
nước ngoài chịu trách nhiệm đầu tư toàn bộ vốn để thành lập doanh nghiệp
theo quy định của pháp luật Việt nam (doanh nghiệp là một pháp nhân Việt
nam.Phía Việt nam không góp vốn,chỉ thực hiện cung cấp các dịch vụ điện
nước,cho thuê đất,lao động,…Trong trường hợp này chủ đầu tư nước ngoài có
toàn quyền quyết định và chịu trách nhiệm cũng như hưởng lợi từ hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.(Giáo trình Kinh tế quốc tế-NXB
KH&KT)
Bên cạnh đó là các khu vực ưu đãi đầu tư trong lãnh thổ nước mình
như:Khu chế xuất,khu công nghiệp tập trung,khu công nghệ cao và đặc khu
kinh tế, đồng thời còn áp dụng các hợp đồng xây dựng –kinh doanh-chuyển
giao(B.O.T),xây dựng-chuyển giao-kinh doanh(B.T.O) và xây dựng chuyển
giao(B.T)
II.Tầm quan trọng và thực trạng của tình hình thực hiện FDI tại Việt
Nam.
1.Tầm quan trọng của FDI đến sự phát triển Kinh tế -Xã hội.

doanh thu khoảng 74,061 tỷ USD. Xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp có
vốn ĐTNN tăng bình quân trên 20%/năm, đã làm cho tỷ trọng của khu vực
kinh tế này trong tổng giá trị xuất khẩu cả nước tăng liên tục trong các năm
qua. So sánh giá trị xuất khẩu và đóng góp cho GDP như trên với tỷ trọng
trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội mới thấy hết hiệu quả của khu vực kinh tế
có vốn ĐTNN. Chỉ riêng trong năm 2005 đã đạt tổng doanh thu khoảng 18 tỷ
USD (không kể dầu khí), ngang bằng với năm 2004. Hơn nữa, cả vốn và lao
động đều được bồi bổ thêm đáng kể. Cụ thể là trong năm 2005, khu vực kinh
tế ĐTNN đã thực hiện được 6,338 tỷ USD vốn đầu tư, tăng trên 50% so với
năm 2004.
Năm 2005, chủ đầu tư của 607 dự án trong khu vực ĐTNN đã đề nghị và
được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt cho tăng thêm vốn đầu tư để mở
rộng quy mô hoạt động, với tổng vốn đầu tư tăng thêm 2,070 tỷ USD, tăng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3,5% so với năm trước. Điều đó cho thấy, nhiều nhà ĐTNN muốn làm ăn lâu
dài tại Việt Nam.
Theo một báo cáo của Bộ KH&ĐT, trong 5 tháng đầu năm nay, cả nước
đã thu hút thêm hơn 2,412 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký mới, bao gồm cả vốn
bổ sung của những dự án cũ. Trong đó, riêng phần mới cấp phép có 281 dự
án, với tổng vốn đăng ký trên 2 tỷ USD, tăng 8,5% về số dự án và tăng 19,5%
về vốn so với cùng kỳ năm trước. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm
74,3% số dự án và 66,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; lĩnh vực dịch vụ chiếm
tương ứng là 21,1% và 33,4%; phần còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-thuỷ
sản. Đáng chú ý là, trong số dự án mới cấp phép không chỉ có một số dự án có
quy mô vốn đầu tư lớn, mà còn gắn liền với việc sẽ chuyển giao công nghệ
cao, như Tập đoàn Intel 605 triệu USD, Công ty Tây Hồ Tây 314 triệu USD,
Winvest Investment 300 triệu USD, Công ty Panasonic Communication 76,36
triệu USD, Công ty Kho xăng dầu Vân Phong 60 triệu USD…
Cũng theo báo cáo trên, doanh thu (không kể dầu khí) của các doanh

năm 1991 là 1,275 tỷ USD thì năm 1995 là 6,6 tỷ USD, gấp 5,2 lần. Vốn thực
hiện trong cả 5 năm (1991 - 1995) là 7,153 tỷ USD, chiếm 32% tổng vốn đầu
tư toàn xã hội. Đã có khoảng 20 vạn người làm việc trong các doanh nghiệp
FDI. Trong hai năm tiếp theo, 1996 - 1997, FDI tiếp tục tăng trưởng nhanh,
thu hút thêm 13,28 tỷ USD vốn đăng ký và 6,14 tỷ USD vốn thực hiện.
Tính chung thời kỳ này, cả nước đã thu hút 1.784 dự án (chỉ tính các sự
án còn hiệu lực) với số vốn đăng ký lên tới 25,464 tỷ USD, vốn pháp định đạt
11,886 tỷ USD. Bình quân 1 dự án có 14,27 triệu USD vốn đăng ký và 6,7
triệu USD vốn pháp định. Năm 1996 có số vốn đăng ký đầu tư nhiều nhất
8,979 tỷ USD với 380 dự án; quy mô bình quân 1 dự án là 23,6 triệu USD
vốn đăng ký và 8,63 triệu USD vốn pháp định. Bên cạnh các dự án đầu tư
mới, thời gian này còn có 222 dự án bổ sung thêm vốn đầu tư với số vốn đăng
ký là 2,099 tỷ USD.
Giai đoạn 1998 - 2000, là thời kỳ suy thoái của dòng vốn FDI vào Việt
Nam. Năm 1998 vốn đăng ký là 3,897 tỷ USD, thì năm 1999 chỉ bằng 40,5%,
2 ( />Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
còn 1,568 tỷ USD; năm 2000 là 2,018 tỷ USD (giảm 48,2% so với năm
1998). Sau khi đã đạt được kỷ lục về vốn thực hiện vào năm 1997 là 3,218 tỷ
USD, thì vốn thực hiện của các năm tiếp theo đã giảm rõ rệt, năm 1998 là
2,375 tỷ USD, năm 1999 là 2,537 tỷ USD, năm 2000 là 2,420 tỷ USD. Nếu
như các doanh nghiệp FDI đã tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 20 vạn người
trong 5 năm 1991 - 1995, thì trong 5 năm 1996 - 2000 chỉ có thêm 149 nghìn
người có việc làm trong khu vực FDI. Tính chung cả thời kỳ này, cả nước chỉ
thu hút được 1.343 dự án với số vốn đăng ký 12.618 triệu USD và 6.698 triệu
USD vốn pháp định. Số vốn đăng ký bình quân 1 dự án chỉ có 9,39 triệu USD
so với 14,27 triệu USD của thời kỳ 1991 - 1997.
Tình hình giảm sút FDI vào Việt Nam từ sau năm 1997 có nguyên nhân
khách quan gắn với cuộc khủng hoảng tiền tệ trong khu vực và tiếp đó là sự
suy giảm kinh tế của thế giới, nhất là của Mỹ, EU và Nhật Bản đã tác động

đầu tư tăng thêm đều cao hơn so với năm 2003 (460 lượt dự án tăng vốn với
tổng vốn tăng thêm là 1,942 tỷ USD, tăng 22,9% về số dự án và tăng 68,9%
về vốn bổ sung).
3
2.2. Hiệu quả sử dụng vốn FDI.
-Những yếu tố góp phần tạo thuận lợi cho việc sử dụng vốn FDI một
cách hiệu quả.
+ Sự ổn định về kinh tế chính trị: Đây là những điều kiện tiên quyết
nhằm giảm thiểu rủi ro khi hoạt động đầu tư ở nước chủ nhà
+ Môi trường luật pháp thuận lợi: thực tế cho thấy sự thành công hay
thất bại trong việc hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc rất lớn và hệ
thống luật pháp và môi trường thể chế.
+ Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật: để tăng cường hoạt động đầu tư,
ngoài môi trường pháp lý thông thoáng, minh bạch đòi hỏi các nước phải có
kết cấu hạ tầng kỹ thuật tương xứng với sự chuyển đổi của nền kinh tế.
+ Chất lượng nguồn nhân lực: trong thời đại ngày nay, đầu tư nước
ngoài ngày càng phát triển theo hường tăng cường đầu tư theo chiều sâu,
3 ( />Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chính vì thế nhu cầu về lao động lành nghề ngày càng tăng nhanh. Thực tế đó
đã chứng minh chất lượng nguồn nhân lực có tác động rất mạnh đến khả năng
thu hút FDI của các nước, kể cả các nước nghèo. Thông thường một quốc gia
có năng lực hấp thụ vốn FDI cao và nguồn nhân lực có chất lượng tốt thì dòng
vốn nước ngoài đổ vào quốc gia đó càng nhiều và khai thác có hiệu quả.
+ Cải cách thủ tục hành chính và hiệu quả quản lý của nhà nước về FDI:
lực cản lớn nhất làm nản lòng các nhà đầu tư là thủ tục hành chính rườm rà,
phức tạp, gây tốn kém về thời gian và chi phí, làm mất cơ hội đầu tư. Bộ máy
hành chính hiệu quả không chỉ quyết định sự thành công trong thu hút vốn
FDI mà còn trong vấn đề sử dụng nguồn vốn.
2.3.Những bất cập trong sử dụng vốn FDI.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status