ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ PHƯƠNG LINH
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ PHƯƠNG LINH
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ THỰC
TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ QUANG
HÀ NỘI – 2012
................................................................................................................................ 47
2.3 Hệ thống quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam ............................................ 57
2.4 Các tác động của chất thải nguy hại tới môi trường ....................................... 67
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TẠI HÀ
NỘI ........................................................................................................................ 76
3.1 Cần chú trọng phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại ...................
76
3.2 Về đường lối chiến lược quản lý chất thải nguy hại ........................................ 81
3.3 Về chính sách pháp luật quản lý chất thải nguy hại ........................................ 82
3.4 Các giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật quản lý chất thải nguy hại
tại thành phố Hà Nội .............................................................................................. 84
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 98
BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT :
Bảo vệ môi trường
CNH – HĐH :
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CTR:
Chất thải rắn
Trang
Bảng 1.1.Thành phần chất thải sinh hoạt nguy hại từ các hộ gia đình ở
một số nước phát triển
...........................................................................
13
Bảng1.2. Một số loại chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động công
nghiệp....................................................................................................... 14
Bảng 1.3. Các loại chất thải đặc thù từ các hoạt động y tế .....................
16
Bảng 1.4. Mức độ và số lượng chất thải nguy hại phát sinh từ lĩnh vực
khác .......................................................................................................... 16
Bảng 1.5.. Mức độ của các đặc tính độc ................................................. 20
Bảng 1.6. Tóm tắt một số đặc tính của chất thải nguy hại ......................
21
Bảng 1.7. Số và mã chất thải nguy hại theo quy định của US EPA ....... 22
Bảng 1.8. Hệ số phát sinh chất thải nguy hại theo loại hình công nghiệp
(kg/người/năm)
31
........................................................................................
Bảng 1.9. Hệ số phát sinh chất thải nguy hại được ước đoán theo các số
liệu thống kê về nhân công đối với công nghiệp sản xuất thép ...............
32
Bảng 1.10. Hệ số phát sinh chất thải nguy hại được ước đoán theo các số
liệu thống kê về nhân công đối với công nghiệp xử lý và mạ kim loại ... 32
Bảng 1.11. Hệ số phát sinh chất thải nguy hại được ước đoán theo các số
liệu thống kê về nhân công đối với công nghiệp hóa chất và thuốc bảo vệ
quân mỗi năm tăng
15% (theo tài liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội tháng 8-1997). Sự
phát triển sản xuất sẽ đưa lại đời sống của nhân dân được nâng cao cả về
vật chất lẫn tinh thần, tạo được nhiều công ăn việc làm cho người
lao động, giảm bớt các tệ nạn xấu trong xã hội. Đồng thời với sự phát
triển sản xuất nhu cầu sử dụng nhiên liệu để cung cấp năng lượng cho
các cơ sở sản xuất tăng lên, lượng thải các chất thải độc hại, bụi bẩn
cũng tăng lên làm ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất ngày càng
trầm trọng đe dọa đến sự phát triển bền vững. Mặt khác các cơ sở
công nghiệp ở nước ta được xây dựng đã lâu, do nhiều nước viện trợ
không đồng bộ, công nghệ lạc hậu. Máy móc thiết bị đã cũ kỹ, lỗi thời. Lại
bị chiến tranh tàn phá nên nhà xưởng, cơ sở hạ tầng xuống cấp nặng nề.
Khi quy hoạch, xây dựng và phát triển công nghiệp chúng ta cũng chưa có
sự quan tâm thỏa đáng tới yêu cầu bảo vệ môi trường đô thị. Vì thế ở
nhiều đô thị và khu công nghiệp (KCN) nước ta đã bị ô nhiễm nặng nề,
1
đặc biệt ở các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Biên
Hòa, Việt Trì... Sự ảnh hưởng của ô nhiễm công nghiệp không những gây
tác hại về kinh
2
tế mà còn gây ra ảnh hưởng sức khỏe cho cộng đồng, phá hoại cảnh
quan thiên nhiên, cảnh quan đô thị.
Ở Việt Nam, quản lý chất thải, đặc biệt là các chất thải nguy hại sao cho
hợp lí và an toàn theo phương diện bảo vệ môi trường là một trong
những vấn đề rất bức xúc của các đô thị và khu công nghiệp ở nước ta
Tại Việt Nam, pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật
quản lý chất thải nguy hại nói riêng là lĩnh vực tương đối mới so với các
lĩnh vực pháp luật khác. Lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại, có một số
bài viết, công trình nghiên cứu ở những góc độ khác nhau đã được công
bố. Dưới góc độ quản lý chất thải nguy hại nói chung, có cuốn: “Quản lý
chất thảI nguy hại” của tác giả Nguyễn Đức Khiển- Nhà xuất bản Xây
dung Hà Nội 2003; Giáo trình quản lý chất thảI nguy hại của Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh- Nhà xuất bản Xây dung năm 2006;
hay luận văn thạc sỹ của Nguyễn Hòa Bình (năm 2004) với đề tài: “Điều
tra, đánh giá tnh hình quản lý chất thải rắn nguy hại của Việt Nam và đề
xuất một số giảI pháp quản lý có hiệu quả”…Các công trình nghiên cứu
về chất thảI nguy hại từ góc độ pháp lý thì không nhiều. Bên cạnh một số
khóa luận tốt nghiệp của các sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội, chỉ
có một vài bài viết về vấn đề này như: bài viết của Nguyễn Hòa Bình trên
tạp chí Bảo vệ môI trường năm 2000 và 2002 của Cục môi trường: “Một
số công việc cần triển thực hiện quy chế quản lý chất thải nguy hại ở Việt
Nam”; “Thực hiện công ước Basel về kiểm soát, vận chuyển xuyên biên
giới chất thải nguy hại”…; và mới đây là đề tài nghiên cứu khoa học cấp
trường mã số LH-08-16/ĐHL của Trường Đại học Luật Hà Nội “Hoàn thiện
pháp luật về quản lý chất thảI” năm 2008. Luận án Tiến sỹ của Vũ Duyên
Thủy “ Xây dung và hoàn thiện pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở
Việt Nam”…
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quản
lý chất thảI nguy hại và pháp luật quản lý chất thải nguy hại, đánh giá
thực trạng pháp luật quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn thành phố
Hà Nội hiện nay. Trên cơ sở đó luận văn đề xuất các giải pháp nhằm
5
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Phân tích, so sánh các quy định pháp luật Việt Nam và pháp luật
của một số quốc gia khác, thu thập kinh nghiệm thực tiễn của các
quốc gia khác trên thế giới
7
- Phỏng vấn chuyên gia trong việc soạn thảo, ban hành chính sách,
biện pháp về quản lý chất thải nguy hại
8
- Bên cạnh đó kết hợp một số phương pháp nghiên cứu khác
như:
phân tích, so sánh, thống kê, chứng minh, quy nạp, diễn dịch…
6. Những kết quả mới của luận văn
- Góp phần xây dựng hệ thống lý luận về pháp luật quản lý chất
thải nguy hại;
- Phân tích, đánh giá một cách hệ thống và khoa học những ưu
điểm, tồn tại hạn chế của pháp luật hiện hành về quản lý chất thải
nguy hại;
- Xác định cụ thể yêu cầu cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện
pháp luật quản lý chất thải tại thành phố Hà Nội nói riêng và trên cả
nước nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn bao gồm những
nội dung cơ bản sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý chất thải nguy hại và
Có thể nói cách khác, chất hại nguy hại là chất:
- Có chứa một chất (hoặc các chất) có tính nguy hại
- Có thể gây nguy hại trực tiếp đến sức khỏe con người hoặc môi
trường
1.2 Hệ thống quản lý chất thải nguy hại
Do chất thải nguy hại có thể tồn lưu những độc tính trong một
thời gian dài, có khi hàng thế kỷ, nên cần sớm giảm thiểu lượng chất thải
nguy hại được thải bỏ. Việc giảm thiểu lượng chất thải nguy hại có thể
được thực hiện thông qua các biện pháp giảm thiểu lượng chất thải phát
sinh tại nguồn, xử lí, tái chế, hoặc tái sử dụng chất thải nhằm hạn chế
tới mức thấp nhất những ảnh hưởng của chúng tới môi trường.
Theo kinh nghiệm về quản lý chất thải của các nước trên thế giới, một hệ
thống quản lý chất thải nguy hại hữu hiệu khi hệ thống này biết gắn kết
chặt chẽ giữa các yếu tố pháp lý với các chính sách
- Công cụ pháp lý: Đóng vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý
chất thải. Bởi đây là nền tảng cho các hợp phần khác của toàn
bộ hệ thống. Việc áp dụng một khung pháp lý có thể thực hiện
ngay từ ban đầu, ví dụ như các hướng dẫn kĩ thuật được thực hiện
dưới các điều khoản của luật pháp hiện hành, và cũng có thể cuối
cùng được phát triển thành các văn bản pháp lí độc lập riêng về
chất thải nguy hại.
- Cưỡng chế: Luật pháp thông thường chỉ là một khung, đòi hỏi các
quy chế hướng dẫn và quy định thực hiện cụ thể phải được
soạn thảo trước khi được triển khai. Để tiếp tục việc triển khai, cần
có những giải pháp để cưỡng chế thi hành luật phù hợp trước khi
công bố một biện pháp kiểm soát nào đó.
- Phương tiện: không thể thực hiện và cưỡng chế thi hành luật pháp
nếu như các văn bản pháp lý đó không có tnh khả thi, ví dụ các
xây dựng một cơ sở xử lí chất thải nguy hại thành công như:
o Chính phủ là người cưỡng chế những quy chế chất thải nguy
hại đối với các chủ thải, đảm bảo sao cho chất thải phải
được giao cho cơ sở xử lý để xử lý.
o Chính phủ là người xúc tiến quá trình phát triển, tạo ra một
môi trường để các chủ đầu tư cơ sở xử lí cảm thấy thoải
mái;
o Chính phủ là người kiểm soát bản thân cơ sở xử lí, vừa
cưỡng chế các tiêu chuẩn môi trường thích hợp, vừa
phải
kiểm soát giá cả để đảm bảo rằng không có sự lạm dụng
độc quyền;
o Chính phủ là người giáo dục cho cả chủ thải và cộng đồng,
đồng thời cơ sở xử lý phải được giao vai trò tch cực trong
việc cải thiện môi trường.
- Các chủ phát thải: thành phần bị kiểm soát bởi luật và được coi
là đối tượng sẽ chịu phần lớn hoặc tất cả các chi phí, ít nhất là dài
hạn, trên cơ sở người gây ô nhiễm phải trả tiền.
Nhiều chủ thải, nhất là đối với những nguồn nhỏ có thể không
nhận biết được rằng họ đang phát thải chất thải nguy hại. Đặc biệt là
trường hợp đổ chất thải không kiểm soát vào nguồn nước mặt. trong
những trường hợp như vậy cần có một chương trình giáo dục kèm
theo các quy trình cưỡng chế.
Một lưu ý khác nữa, theo quan điểm của các nhà công nghiệp, những
người đang sinh ra nguồn chất thải lớn, thì họ chính là những
người tạo ra nguồn chất thải lớn , thì họ chính là những người tạo ra
- Xử lí trung gian: Chất thải được xứ lý để giảm về khối lượng,
được ổn định, giảm thiểu hoặc loại bỏ độc tnh và làm cho phù
hợp hơn đối với khâu thải bỏ cuối cùng. Các phướng pháp xử lý
gồm xử lý cơ học, xử lý vật lý, hóa học, sinh học và nhiệt. Có thể xử
lý kết hợp hoặc riêng rẽ tùy theo loại chất thải cần được xử lý. Sản
phẩm cuối cùng của những quá trình này gồm những chất thải ở
dạng khí hoặc lỏng và cặn rắn được trừ độc, trơ hoặc ổn định.
- Chuyên chở sau xử lý: Chất thải sau xử lý được chuyên chở tới
nơi thải bỏ cuối cùng.
- Tiêu hủy và đổ thải ( chôn lấp cuối cùng ): Phương thức chôn lấp
chất thải nguy hại là khâu cuối cùng sau khi đã qua các quá trình
xử lý.
Tổ chức quản lý Tài nguyên môi trường của Anh ( ERM) đã đúc kết từ
những kinh nghiệm của các nước trên thế giới tám yếu tố cốt lõi
trong một hệ thống quản lý chất thải nguy hại như sau:
+ Yếu tố 1 – Định nghĩa rõ ràng: Muốn quản lý tốt các loại chất
thải, một yếu tố cần thiết là phải có những định nghĩa rõ ràng về “
chất