Một số vấn đề pháp lý về hợp tác xã và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN LỆ THU

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP TÁC XÃ
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ QUANG

Hà nội – 2010 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và
trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn Trần Lệ Thu



MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 6
LỜI NÓI ĐẦU 7
1. Tính cấp thiết của đề tài: 7
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài: 8
3. Tình hình nghiên cứu của đề tài: 9
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: 10
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài: 10
6. Những điểm mới của luận văn: 11
7. Kết cấu của luận văn: 11
CHƢƠNG 1 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ 12
1.1.Tổng quan về Hợp tác xã 12
1.1.1.Khái niệm Hợp tác xã và khái niệm liên hiệp Hợp tác xã 12
1.1.2. Các đặc điểm của Hợp tác xã: 15
1.1.3. Các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Hợp tác xã: 18
1.1.4. Mục tiêu của Hợp tác xã: 22
1.1.5. Các loại hình Hợp tác xã 23
1.2. Khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật Hợp tác xã 25
1.2.1. Quá trình hình hành và phát triển pháp luật Hợp tác xã trên thế giới 25
1.2.2. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật Hợp tác xã ở Việt Nam 26
1.3. Hợp tác xã-mô hình kinh tế hoạt động nhƣ một loại hình doanh nghiệp 31
1.3.1. Vị trí, vai trò của Hợp tác xã trong hoạt động sản xuất kinh doanh ở Việt Nam
31
1.3.2. So sánh Hợp tác xã với một số loại hình doanh nghiệp 32
Trang
4


3.2.3. Triển khai rộng rãi công tác tuyên truyền, tổ chức chỉ đạo thực hiện các nghị
quyết của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nƣớc về Hợp tác xã 94
3.3. Những kiến nghị và giải pháp cụ thể 96
3.3.1. Kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thành lập Hợp tác xã 96
3.3.1.1. Nên tăng số lƣợng xã viên tối thiểu để thành lập Hợp tác xã 96
3.3.1.2. Nên miễn phí đăng ký thành lập Hợp tác xã 97
3.3.1.3. Nên giảm thời gian đăng ký thành lập Hợp tác xã 97
3.3.1.4. Nên bỏ Biên bản thông qua Hội nghị thành lập Hợp tác xã 98
3.3.1.5. Cần quy định rõ hơn cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện quản lý nhà
nƣớc về đăng ký thành lập Hợp tác xã 98
3.3.2. Kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật hoạt động Hợp tác xã 99
3.3.2.1. Nên tăng mức vốn góp tối đa khi gia nhập Hợp tác xã 99
3.3.2.2. Nên quy định rõ trách nhiệm đối với xã viên góp sức 100
3.3.2.3. Về vấn đề huy động vốn Hợp tác xã 100
3.3.2.4. Bổ sung quy định Hợp tác xã cung cấp dịch vụ cho xã viên 101
3.3.2.5. Vấn đề xử lý tài sản và vốn Hợp tác xã khi giải thể 101
3.3.2.6. Nên bổ sung quy định về trình độ tối thiểu của Chủ nhiệm, Ban quản trị,
Ban kiểm soát Hợp tác xã 102
3.3.2.7. Cần quy định rõ quyền và nghĩa vụ của Chủ nhiệm Hợp tác xã trong trƣờng
hợp đi thuê 103
3.3.2.8. Một số quy định đồng tình với Luật Hợp tác xã nên giữ nguyên 104
KẾT LUẬN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

6


:
Ban kiểm soát
7

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Tổ
chức này đã đƣợc hình thành cách đây gần hai thế kỷ ở Châu Âu và từ đó
đƣợc phát triển ở hầu khắp các nƣớc trên thế giới.
Ở Việt Nam, Hợp tác xã đã đƣợc ra đời và tồn tại trong nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung. Hợp tác xã đã khẳng định đƣợc vị trí, vai trò lịch sử của
mình là một trong hai thành phần kinh tế xƣơng sống trong nền kinh tế của
Việt Nam. Hợp tác xã đã đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân
tộc.
Trong điều kiện và hoàn cảnh mới, nền kinh tế thị trƣờng luôn diễn ra
sự cạnh tranh gay gắt giữa các thành phần kinh tế, HTX kiểu cũ đã có nhiều
điểm không còn phù hợp, đòi hỏi phải đổi mới để thích ứng với những đặc thù
của nền kinh tế thị trƣờng, để đủ sức cạnh tranh với thành phần kinh tế khác.
Chính vì thế, Luật HTX năm 1996 đã ra đời. Đây là khung pháp lý
quan trọng thuận lợi cho việc thành lập, hoạt động sản xuất kinh doanh của
HTX. Thực tiễn cho thấy quá trình áp dụng luật HTX đã thu đƣợc những kết
quả nhất định góp phần phát triển HTX trong giai đoạn đó.
Sau hơn 6 năm đi vào hoạt động, Luật HTX năm 1996 đã bộc lộ những
hạn chế, trì trệ trong việc phát triển khu vực kinh tế tập thể. Điều đó đòi hỏi
phải đổi mới hệ thống pháp luật nói chung và Luật HTX nói riêng.
Để đáp ứng yêu cầu bức thiết của khu vực kinh tế tập thể tại Hội nghị
lần thứ 5 BCHTW Đảng khóa IX ngày 18/03/2002 đã đƣa ra Nghị quyết số

- Nghiên cứu và đánh giá các quy định của Luật HTX năm 2003 về
thành lập và hoạt động HTX.
9

- So sánh với Luật HTX năm 1996 và các quy định của Luật Doanh
nghiệp năm 2005 về thành lập và hoạt động của Công ty cổ phần
- Tìm hiểu thực tiễn thành lập, hoạt động HTX trên địa bàn Thành phố
Hà Nội.
- Đánh giá những ƣu, nhƣợc điểm về thành lập, hoạt động của HTX
theo quy định của pháp luật hiện hành
- Đƣa ra một số kiến nghị và giải pháp để tiếp tục hoàn thiện quy định
của pháp luật về thành lập, hoạt động HTX.
3. Tình hình nghiên cứu của đề tài:
Từ khi Luật HTX ra đời và đƣợc áp dụng vào thực tiễn, những quy
định về HTX đƣợc coi là chủ đề hấp dẫn của nhiều nhà nghiên cứu pháp lý
cũng nhƣ những nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực có liên quan. Tuy nhiên, các
nhà nghiên cứu mới chỉ nghiên cứu trên từng góc độ của vấn đề hoạt động
hoặc thành lập HTX mà chƣa có công trình nghiên cứu nào chính thức và
chuyên sâu về vấn đề này.
Một số công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề thành lập, hoạt động
HTX :
- Kinh tế Hợp tác xã – một số vấn đề lý luận và thực tiễn – Hà Nội
1998 (Hội đồng Trung ƣơng Liên minh các HTX Việt Nam)
- Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở nƣớc ta hiện nay NXB Chính trị
Quốc gia, 2002 (PGS.TS Nguyễn Văn Kỷ chủ biên)
- Những vấn đề pháp lý về đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch
vụ của các doanh nghiệp tập thể - Luận văn cao học của Nguyễn Đức Long,
1996
- Chế độ pháp lý xã viên HTX – Những vấn đề lý luận và thực tiễn –
Luận văn cao học Luật của Nguyễn Thị Ngọc Hà, 1997

học.
6. Những điểm mới của luận văn:
Những điểm mới của việc nghiên cứu đề tài là:
- Tập hợp một cách đầy đủ và toàn diện các quy định về thành lập, một
số quy định về hoạt động của HTX. Chỉ rõ những ƣu nhƣợc điểm.
- Tìm hiểu một số quy định pháp luật về thành lập và hoạt động của
HTX một số nƣớc trên thế giới và của một số loại hình doanh nghiệp có tính
chất tƣơng đồng
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng luật trên địa bàn thành phố Hà Nội để tìm
ra những phù hợp và sai lệch giữa lý luận và thực tiễn
- Chỉ rõ những quy định phù hợp và những hạn chế của pháp luật hiện
hành về thành lập và hoạt động HTX
- Đánh giá những tồn tại, bất cập và nguyên nhân, để từ đó đƣa ra một
số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện một số quy định pháp luật về thành
lập, hoạt động HTX.
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài lời nói đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết
cấu của luận văn bao gồm 3 chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về Hợp tác xã
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về thành lập, hoạt động Hợp tác xã và
thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Chƣơng 3: Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thành
lập, hoạt động của Hợp tác xã.

12

CHƢƠNG 1 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ
1.1.Tổng quan về Hợp tác xã
1.1.1.Khái niệm Hợp tác xã và khái niệm liên hiệp Hợp tác xã
* Khái niệm HTX:

và giải quyết những khó khăn chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và
bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ
cho lợi ích vật chất và tinh thần chung”
Theo Luật HTX Indonesia định nghĩa: “HTX là tổ chức kinh tế của
nhân dân mang tính xã hội, gồm những người hoặc những HTX ở địa phương
là thành viên lập nên một hệ thống kinh tế như là nỗ lực chung đặt trên
nguyên tắc cơ sở của tình anh em”
Theo Luật HTX Philipin định nghĩa: “HTX là sự hiểu biết của những
người có cam kết chung và tập hợp nhau lại một cách tự nguyện để đạt được
mục đích xã hội hoặc kinh tế chung, có sự đóng góp công bằng về vốn và
chấp nhận phần đóng góp hợp lý vào công việc và phần lợi ích của việc kinh
doanh theo nguyên tắc HTX đã được chấp nhận chung”
Nhƣ vậy, HTX đã đƣợc định nghĩa trong nhiều Luật HTX của nhiều
quốc gia, nhiều văn bản pháp lý của các tổ chức quốc tế. Các định nghĩa tuy
có khác nhau về chi tiết nhƣng tất cả đều thể hiện rõ những đặc tính chung
của HTX, đó là:
- HTX là sự liên kết của những ngƣời tham gia, cùng góp tiền dƣới
dạng vốn góp. Trong HTX nhấn mạnh yếu tố con ngƣời chứ không phải số
vốn mà họ góp.
14

- HTX là một tổ chức kinh tế đặc thù chứ không phải là một công ty cổ
phần hoặc một tổ chức từ thiện. HTX là một tổ chức kinh doanh gắn chặt với
hiệu quả và sự rủi ro. Những thành viên hay những ngƣời góp vốn vào HTX
có lợi ích chung và nhu cầu chung mà họ muốn đƣợc thỏa mãn.
- HTX là doanh nghiệp đƣợc quản lý theo nguyên tắc dân chủ. Mỗi xã
viên chỉ có một phiếu biểu quyết không phụ thuộc vào số vốn góp nhiều hay
ít.
- Khẩu hiệu của HTX là phục vụ hơn là kiếm lời. Tuy lợi nhuận luôn
gắn với HTX, nhƣng mục đích chính của HTX vẫn là phục vụ (phục vụ các xã

* Khái niệm Liên hiệp Hợp tác xã:
Liên hiệp HTX là tổ chức kinh tế hoạt động theo nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của HTX quy định tại Điều 5 của Luật HTX năm 2003. Là nơi các
HTX liên kết lại với nhau nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh
doanh của các HTX thành viên, hỗ trợ nhau trong hoạt động và đáp ứng các
nhu cầu khác của các thành viên tham gia.
1.1.2. Các đặc điểm của Hợp tác xã:
Với đặc trƣng là tổ chức vừa hoạt động phát triển kinh tế vừa đảm bảo
vai trò xã hội sâu sắc, HTX có các đặc điểm nhƣ sau:
Thứ nhất: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế xã hội: Là một trong những tế
bào của thành phần kinh tế tập thể. Với tƣ cách là tổ chức kinh tế, HTX cũng
phải lấy hiệu quả kinh tế làm mục đích chính cho việc thành lập và hoạt động.
Luật Hợp tác xã 2003 quy định cơ chế hoạt động của HTX nhƣ một loại hình
doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là HTX có vốn hoạt động do các xã viên
đóng góp và từ các nguồn khác theo quy định của pháp luật; có quyền tự chủ
về tài chính cũng nhƣ mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong quá trình
16

hoạt động, HTX cũng phải thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh, lấy thu bù
chi đảm bảo có lãi để phục vụ lợi ích cuả các xã viên, đồng thời duy trì sự tồn
tại và phát triển của HTX.
Tuy là tổ chức kinh tế, nhƣng HTX còn hoạt động vì mục đích xã hội.
Điều này hoàn toàn không thể có ở các loại hình doanh nghiệp khác. Với tính
chất riêng biệt cuả mình, có thể nói HTX là một cộng đồng xã hội, một hình
thức tổ chức kinh doanh của các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có thu nhập
thấp, vốn ít tạo điều kiện cho các đối tƣợng này tham gia làm kinh tế, cũng
nhƣ giải quyết thêm việc làm và nâng cao đời sống cho chính các xã viên
HTX.
Thứ hai: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ, có tư cách pháp nhân.
Điều đó đƣợc hiểu HTX chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính theo chế

châm “Lấy công làm lãi” để phục vụ cho mọi hoạt động của HTX. Đồng thời
qua quá trình làm việc, xã viên đƣợc hợp tác xã trả công lao động nhằm nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần của chính họ. Nhƣ vậy, đối với HTX, xã viên
vừa là ngƣời chủ, vừa là ngƣời lao động.
Thứ tư: HTX là tổ chức kinh tế hoạt động như một loại hình doanh
nghiệp. Theo quan điểm của cá nhân tác giả luận văn cho rằng: nên bổ sung
đặc điểm này khi nhắc đến các đặc điểm của HTX. Vì theo quy định của pháp
luật, HTX không phải là một loại hình doanh nghiệp, nhƣng những quy định
về việc thành lập và hoạt động của hợp tác xã đã thể hiện trong nền kinh tế thị
trƣờng nhƣ hiện nay. Trên góc độ kinh tế, HTX có thể coi là một loại hình
doanh nghiệp: HTX có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh, tự hạch toán
độc lập lấy thu bù chi, có tài sản riêng, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và chịu
18

trách nhiệm hữu hạn …Nhƣ vậy, hoạt động của HTX xét về mặt kinh tế giống
nhƣ hoạt động của một doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp năm 2005. Tuy
nhiên, do tiềm lực tài chính hạn hẹp, đồng thời những ngƣời chủ (xã viên)
không phải là những nhà kinh doanh chuyên nghiệp, trình độ quản lý và điều
hành hoạt động kinh doanh hạn chế. Do đó, việc xác định mục đích thành lập
và hoạt động chỉ để kinh doanh vì lợi nhuận, để nâng cao khả năng cạnh tranh
trên thị trƣờng nhƣ các doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó
mục đích thành lập HTX còn là mục đích xã hội, do đó thành viên HTX
không chỉ góp vốn mà còn có thể chỉ góp sức để giúp đỡ, hỗ trợ giữa các
thành viên, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế
xã hội của đất nƣớc. Đó là đặc trƣng để luật HTX không thể ghi nhận HTX là
loại hình doanh nghiệp.
1.1.3. Các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Hợp tác xã:
Các nguyên tắc về tổ chức hoạt động của HTX là những tƣ tƣởng, quan
điểm chủ đạo mang tính định hƣớng xuyên suốt quá trình tổ chức và hoạt
động cuả HTX. Thể hiện tính đặc thù của HTX, để phân biệt HTX với các

nguyện của các đối tƣợng.
(2)Nguyên tắc dân chủ, bình đẳng và công khai
Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật hợp tác xã năm 2003: “Xã viên
hợp tác xã có quyền tham gia quản lý kiểm tra, giám sát hợp tác xã và có
quyền ngang nhau trong biểu quyết; thực hiện công khai phương hướng sản
xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối và những vấn đề khác quy định trong
Điều lệ hợp tác xã”. Việc quy định nguyên tắc dân chủ, bình đẳng và công
20

khai khẳng định rõ bản chất của HTX có sự khác biệt với loại hình doanh
nghiệp khác: xã viên có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát HTX, có
quyền ngang nhau trong biểu quyết, kể cả biểu quyết tại Đại hội xã viên cũng
không phụ thuộc vào số vốn góp của xã viên, các xã viên có quyền biểu quyết
ngang nhau và chỉ có một lá phiếu.
Việc kiểm tra giám sát HTX cũng thể hiện tính dân chủ của xã viên ở
chỗ: xã viên có quyền yêu cầu ban quản trị, ban kiểm soát triệu tập Đại hội
xã viên bất thƣờng; yêu cầu ban quản trị, ban kiểm soát giải thích và trả lời
những vấn đề xã viên quan tâm.
Về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, việc trích lập quỹ,
chia lãi, xử lý lỗ, quyền và nghĩa vụ của xã viên…đều đƣợc công khai cho
mọi thành viên HTX biết.
Do vậy, HTX thực sự là tổ chức kinh tế tập thể dành cho mọi đối
tƣợng trong xã hội.
(3)Nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi
Tại khoản 3 Điều 5 Luật hợp tác xã năm 2003 quy định: “Hợp tác xã tự
chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tự quyết
định về phân phối thu nhập. Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và
trang trải các khoản lỗ của hợp tác xã, lãi được trích một phần vào các quỹ
của hợp tác xã, một phần chia theo vốn góp và công sức đóng góp của xã
viên, phần còn lại chia cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác

(5)Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi xã viên HTX
Ngoài bốn nguyên tắc trên, theo quan điểm cá nhân. Tác giả luận văn
cho rằng: nên bổ sung một nguyên tắc nữa, đó là: nguyên tắc bảo vệ quyền lợi
xã viên HTX. Nguyên tắc này quy định một mặt thể hiện tính đặc thù của
22

HTX là lấy xã viên làm trung tâm: xã viên tự nguyện sáng lập ra HTX, xã
viên góp vốn, góp sức xây dựng nên HTX, xã viên góp phần quan trọng đối
với kết quản sản xuất kinh doanh của HTX, lợi ích xã viên HTX là hàng đầu;
mặt khác góp phần vào xu thế chung của việc bảo vệ quyền lợi ngƣời lao
động trong các tổ chức hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp.
Mặt khác, hoạt động kinh doanh trên thƣơng trƣờng diễn ra ngày càng
khốc liệt, Để đảm bảo hoạt động của HTX diễn ra đƣợc liên tục các Doanh
nghiệp, HTX thƣờng chạy đua với hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị
trƣờng dễ dẫn đến tình trạng không bảo đảm quyền lợi xã viên hay bỏ quên
quyền lợi xã viên. Thực tế áp dụng luật đã cho thấy các dịch vụ ở hầu hết các
HTX rất ít hƣớng vào xã viên HTX, đa số phục vụ cho các cá nhân, doanh
nghiệp ngoài HTX. Đại hội xã viên là nơi thể hiện quyền của xã viên nhƣng
ở nhiều HTX Đại hội xã viên chỉ mang tính hình thức, thể hiện một cách qua
loa đại khái. Chính vì vậy việc bảo vệ quyền lợi xã viên cần đƣợc quan tâm và
nâng lên thành nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của HTX.
1.1.4. Mục tiêu của Hợp tác xã:
Mục tiêu HTX bao gồm: mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội. Theo quy
luật của sản xuất hàng hóa thì sản phẩm bán ra phải bảo đảm bù đắp chi phí
sản xuất và có lãi, mặt khác sản phẩm làm ra sẽ phải cạnh tranh đƣợc trên thị
trƣờng để tìm kiếm lợi nhuận. Đó là yêu cầu khách quan đối với hoạt động
sản xuất ở tất cả các loại hình doanh nghiệp và HTX. Ở đây lợi ích cá nhân là
động lực phát huy sức sáng tạo của con ngƣời để kinh doanh có hiệu quả và
đạt đƣợc lợi nhuận cao cho doanh nghiệp. Riêng HTX ngoài mục tiêu kinh tế
còn có mục tiêu xã hội, để kết hợp sức mạnh cá nhân và tập thể để góp phần

Trích đoạn Đánh giá chung tình hình áp dụng Luật hợp tác xã năm 2003 về thành lập, Những kiến nghị và giải pháp mang tính định hƣớng chung Kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thành lập Hợp tác xã Nên bỏ Biên bản thông qua Hội nghị thành lập Hợp tác xã Một số quy định đồng tình với Luật Hợp tác xã nên giữ nguyên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status