Pháp luật về các hình thức khuyến mại và thực tiễn thi hành trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 36

VŨ BẰNG THƯƠNG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

VŨ BẰNG THƯƠNG
2013 - 2015

HÀ NỘI – 2015

i


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
VŨ BẰNG THƯƠNG

2.2.3. Các quy định về chế tài còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe, ngăn ngừa vi phạm. ... 50
2.3. Những hạn chế, bất cập trong công tác thực thi pháp luật và quản lý nhà nước
về các hình thức khuyến mại. ................................................................................ 50
CHƯƠNG III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO
HIỆU LỰC THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI ... 53
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện và nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật về các hình
thức khuyến mại .................................................................................................... 53
3.1.1. Yêu cầu xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và môi trường kinh
doanh đồng bộ. ...................................................................................................... 53
3.1.2. Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. ................................................................ 54
3.1.3. Yêu cầu bảo vệ quyền lợi của người sản xuất, người tiêu dùng. ................... 55
3.2. Phương hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về các hình
thức khuyến mại. ................................................................................................... 55
vi


3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về
các hình thức khuyến mại ...................................................................................... 56
3.3.1. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về các hình thức khuyến mại ............. 56
3.3.2. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về các hình thức khuyến
mại. ....................................................................................................................... 61
3.3.3. Kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của người tiêu dùng trong hoạt động khuyến
mại ........................................................................................................................ 63
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 68

vii


PHẦN MỞ ĐẦU

tranh và người tiêu dùng.
Hiện nay, hoạt động khuyến mại đang diễn ra hết sức đa dạng, phong phú và
phức tạp tại các trung tâm lớn mà thành phố Hà Nội là một ví dụ. Cùng với việc
đem đến bức tranh sôi động cho kinh tế của các địa phương này và cả nước nói
chung, các hoạt động khuyến mại cũng đang chứa đựng nhiều bất cập, thậm chí
vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật và sự quản lý của nhà nước, đe doạ đến trật tự
quản lý kinh tế và quyền lợi của các thương nhân làm ăn chân chính và người tiêu
dùng. Tình hình đó có nguyên nhân từ những quy định bất cập của pháp luật, cộng
với sự lung túng, buông lỏng quản lý của các cơ quan có thẩm quyển. Xuất phát từ
lý do đó, tác giả đã chọn đề tài "Pháp luật về các hình thức khuyến mại và thực
tiễn thi hành trên địa bàn thành phố Hà Nội" để làm Luận văn thạc sỹ Luật học
của mình, với mong muốn góp phần làm sáng tỏ những cơ sở lý luận và thực tiễn,
những bất cập của pháp luật thực định về các hình thức khuyến mại và thực tiễn thi
hành trên địa bàn một trong những trung tâm kinh tế của cả nước. Từ đó đưa ra
những kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý cũng như nâng cao năng lực thực
thi pháp luật về khuyến mại trên địa bàn Hà Nội và cả nước nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về các hình thức khuyến mại là một vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận
và thực tiễn, do vậy đã thu thút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả, nhà khoa
học, nhà quản lý và các sinh viên. Thời gian qua đã có một số công trình nghiên
cứu, bài viết về đề tài này được công bố như: TS. Nguyễn Thị Dung (2007), Pháp
luật về khuyến mại – Một số vướng mắc về lý luận và thực tiễn, Tạp chí Luật học
số7/2007; Bùi Thị Keng (2008), Những hình thức pháp lý để xúc tiến thương mại,
Luận văn thạc sĩ luật học; Nguyễn Thanh Tú (2009), Tìm hiểu pháp luật khuyến mại
ở Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến những vấn đề lý luận và
thực tiễn pháp lý về các hình thức khuyến mại, nhưng ở bình diện chung nhất mà

2


5. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống lý luận pháp lý; các quy định
của pháp luật hiện hành về các hình thức khuyến mại và thực tiễn thi hành pháp luật
về các hình thức khuyến mại trên địa bàn thành phố Hà Nội.
6. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Những vấn đề lý luận pháp lý về cá hình thức khuyến mại dưới góc độ khoa
học pháp lý các nước và Việt Nam;
- Hệ thống pháp luật thực định về các hình thức khuyến mại được quy định
trongLuật thương mại năm 2005, Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 của
Chính phủ quy định chi tiết luật Luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại,
Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2008 quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong hoạt động thương mại;
- Thực tiễn thi hành pháp luật về các hình thức khuyến mại trên địa bàn Hà
Nội kể từ khi Luật Thương mại 2005 được ban hành cho đến nay.
7. Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, hệ thống các quan điểm, học
thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quan
điểm, chính sách về thương mại nói chung, về hoạt động khuyến mại nói riêng của
Đảng và Nhà nước ta được thể hiện trong các văn kiện của Đảng và hệ thống
phápluật của Nhà nước.
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, Luận văn sử dụng các phương pháp:
phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, lý thuyết hệ thống, quy nạp, diễn dịch,
lôgic,... kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn. Các phương pháp được sử
dụng nhằm làm rõ nội dung cơ bản của đề tài nghiên cứu, bảo đảm tính khoa học và

4



Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về các hình thức khuyến mại trên địa
bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu lực thi hành
pháp luật về các hình thức khuyến mại

6


CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI VÀ
PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI

1.1. Lịch sử hình thành, phát triển của hoạt động khuyến mại và pháp luật về
khuyến mại
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất, hàng hóa được đưa ra thị trường với
một khối lượng lớn và ngày càng đa dạng, phong phú, hoạt động thương mại ngày
càng trở nên sôi động, cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn làm cho vấn đề tiêu thụ
hàng hóa trở thành vấn đề sống còn và là mối quan tâm hàng đầu đối với các thương
nhân. Hoạt động xúc tiến thương mại chỉ hình thành trong cơ chế thị trường khi mà
có nhiều thương nhân cùng có khả năng cung cấp một loại hàng hóa, dịch vụ còn
người tiêu dùng có quyền lựa chọn để mua hàng hoá hoặc dịch vụ phù hợp với nhu
cầu của mình.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thông qua các chỉ tiêu kế hoạch,
Nhà nước là người quyết định cả ba khâu: Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và
sản xuất cho ai. Trong lĩnh vực thương mại, hoạt động mua bán sản phẩm (bao gồm
cả việc mua sắm các yếu tố đầu vào cho sản xuất), việc tiêu thụ sản phẩm sản xuất
và vấn đề giá cả của sản phẩm, dịch vụ đều do Nhà nước quy định và được diễn ra
theo kế hoạch. Tuy nhiên, trong bối cảnh Nhà nước độc quyền về thương mại, việc
mua bán theo chỉ tiêu và địa chỉ định sẵn, việc hạch toán kinh doanh chỉ là hình
thức và tính chủ động, sáng tạo của doanh nghiệp bị triệt tiêu. Khi mà người sản

hiện dưới nhiều hình thức như là giới thiệu sản phẩm, tặng hàng mẫu, giảm giá sản
phẩm, mua hàng có thưởng...
Nói tóm lại, khuyến mại luôn là một hoạt động ưu tiên trong chiến lược kinh
doanh của các thương nhân và đó chính là xu thế phổ biến hiện nay trong cộng đồng
các thương nhân bất kể tính đặc thù của các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác
nhau.

8


Cùng với sự phát triển đa dạng của các loại hình kinh doanh, kéo theo sự gia
tăng mạnh mẽ số lượng các thương nhân tạo ra ngày càng nhiều hàng hóa, dịch vụ
trên thị trường đưa ra nhiều lựa chọn cho người tiêu dùng. Trong bối cảnh đó, pháp
luật thương mại nói chung và pháp luật khuyến mại nói riêng trở nên có vị trí quan
trọng. Văn bản đầu tiên điều chỉnh về hoạt động xúc tiến thương mại được ban hành
ngày 01/8/1994 là Quyết định số 390/TTg ban hành quy chế về hội chợ, triển lãm
thương mại. Tiếp đó là Nghị định số 194/CP ngày 31/12/1994 quy định về hoạt
động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, những văn bản này đều là
những văn bản dưới luật và chưa điều chỉnh hết các hành vi xúc tiến thương mại.
Tiếp theo là Nghị định số 194/CP ngày 31/12/1994 quy định về hoạt động quảng
cáo trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, những văn bản này đều là những văn bản
dưới luật và chưa điều chỉnh hết tất cả hành vi xúc tiến thương mại, hoạt động đang
diễn ra mạnh mẽ và có nhiều hình thức đa dạng trong môi trường kinh doanh. Luật
Thương mại năm 1997 ra đời đánh dấu sự phát triển cao hơn vì nó đã bổ sung thêm
nhiều hình thức hoạt động xúc tiến thương mại, đặc biệt là hình thức khuyến mại
được đưa vào điều chỉnh ở một văn bản pháp lý cao hơn. Nhằm đáp ứng nhu cầu
điều chỉnh của hoạt động thương mại, ngày 05/5/1999 Chính phủ ban hành Nghị
định số 32/1999/NĐ-CP về hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại và hội
chợ triển lãm thương mại. Khi các quan hệ thương mại diễn ra ngày càng mạnh mẽ
và phức tạp thì lúc này các văn bản hiện hành không còn phù hợp để điều chỉnh các

Khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại 2005 đưa ra định nghĩa về khuyến mại
như sau:“Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc
tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng
những lợi ích nhất định”.
Như vậy, khuyến mại là cách thức, biện pháp thu hút sự quan tâm của khách
hàng đối với hàng hoá, dịch vụ do thương nhân cung cấp thông qua việc dành cho
khách hàng những lợi ích nhất định, bao gồm lợi ích vật chất (tiền, hàng hóa) hoặc
lợi ích phi vật chất (được cung ứng dịch vụ miễn phí). Thông qua việc dành tặng
các lợi ích cho khách hàng sẽ tác động đến tâm lý, nhu cầu và quyết định mua hàng,
sử dụng dịch vụ của khách hàng nhằm giúp thương nhân tiêu thụ được hàng hóa,
10


dịch vụ của mình. Dấu hiệu dành cho khách hàng những lợi ích vật chất nhất định
để tác động tới thái độ và hành vi mua bán của họ là đặc trưng của khuyến mại để
phân biệt với các hình thức xúc tiến thương mại khác.
1.2.2. Đặc điểm pháp lý của khuyến mại
1.2.2.1. Về chủ thể:
Chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại phải là thương nhân. Theo quy định
của Luật Thương mại 2005, mọi thương nhân được phép tự mình tổ chức thực hiện
việc khuyến mại để tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ do mình cung cấp. Ngoài ra, thương
nhân cũng có thể thực hiện dịch vụ khuyến mại đối với hàng hoá, dịch vụ do thương
nhân khác cung cấp thông qua hợp đồng dịch vụ khuyến mại giữa thương nhân có
nhu cầu khuyến mại và thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại. Trong trường
hợp này, thương nhân thực diện dịch vụ khuyến mại cho thương nhân khác phải đáp
ứng những điều kiện nhất định do pháp luật quy định.
1.2.2.2 Về cách thức xúc tiến thương mại:
Thương nhân sẽ đạt được mục đích kích thích nhu cầu mua sắm, sử dụng
dịch vụ của khách hàng bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định.
Tùy thuộc vào mục tiêu của đợt khuyến mại, tùy thuộc vào trạng thái cạnh tranh,

Theo quy định tại Điều 7 Nghị định 37/2006/NĐ-CP, hàng mẫu đưa cho
khách hàng, dịch vụ mẫu cung ứng cho khách hàng dùng thử phải là hàng hoá, dịch
vụ được kinh doanh hợp pháp mà thương nhân đang hoặc sẽ bán, cung ứng trên thị
trường. Khi nhận hàng mẫu, dịch vụ mẫu, khách hàng không phải thực hiện bất kỳ
nghĩa vụ thanh toán nào. Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại theo
hình thức đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu phải chịu trách nhiệm về chất lượng
của hàng mẫu, dịch vụ mẫu và phải thông báo cho khách hàng đầy đủ thông tin liên
quan đến việc sử dụng hàng mẫu, dịch vụ mẫu. Khi phát hàng mẫu, cung ứng dịch
vụ mẫu cho khách hàng thì phải phát kèm với những chỉ dẫn sử dụng, những tính
năng, công dụng, khuyến cáo từ nhà sản xuất để không gây nhầm lẫn dẫn đến nguy
hiểm cho người tiêu dùng, làm mất hình tượng tốt về sản phẩm cũng như thiệt hại
cho nhà sản xuất.
12


Hàng mẫu là phiên bản nhỏ hơn sản phẩm thực tế, chưa một lượng vừa đủ
để người tiêu dùng có thể đánh giá được các tính chất của sản phẩm. Thông thường
hàng mẫu có khối lượng nhỏ hơn so với khối lượng thực tế của sản phẩm, ví dụ: sữa
rửa mặt, dầu gội đầu, kem đánh răng... Nhưng đối với những loại sản phẩm có kích
thước và khối lượng nhỏ như: nước giải khát, xà phòng cục, cà phê hòa tan, mì ăn
liền.... thì thương nhân có thể sử dụng chính sản phẩm thực tế do mình cung cấp để
làm hàng mẫu khuyến mại.
Về phương thức thực hiện khuyến mại, hàng mẫu có thể được phát cho mọi
khách hàng tại địa điểm công cộng như tại các hội chợ, triển lãm… Hàng mẫu cũng
có thể được trao đến tận tay các khách hàng mục tiêu mà thương nhân nhắm tới.
Thậm chí hàng mẫu còn được thương nhân phát cho khách hàng của đối thủ cạnh
tranh để họ so sánh với các sản phẩm cạnh tranh mà họ đang sử dụng.
Việc đưa hàng mẫu, dịch vụ mẫu cho khách hàng dùng thử là cách thức
khuyến mại đem lại hiệu quả cao, nhưng cũng là hình thức khuyến mại có chi phí
tốn kém. Do vậy, khi sử dụng hình thức khuyến mại này đòi hòi thương nhân phải

Hạn mức tối đa về giá trị quà tặng hàng hóa, giá trị dịch vụ mà thương nhân
dành cho khách hàng không bị hạn chế. Nhưng theo Khoản 2 Điều 5 Nghị định
37/2006/NĐ-CP thì tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại mà
thương nhân thực hiện trong một chương trình khuyến mại không được vượt quá
50% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại. Quy định này có mục đích
vừa bảo đảm tính chủ động cho thương nhân thực hiện khuyến mại, vừa ngăn ngừa
hành vi bán phá giá nhằm cạnh tranh không lành mạnh thông qua việc tặng hàng
hóa cho khách hàng.
Về phương thức thực hiện của hình thức khuyến mại này cũng rất đa dạng,
phong phú. Hình thức tặng hàng hóa, quà tặng kèm là hình thức khi khách hàng
mua một sản phẩm được tặng kèm thêm một món hàng nhưng giá không đổi. Ví dụ:
mua dầu gội đầu được tặng kèm dầu xả tóc, mua bột giặt được tặng kèm nước xả
quần áo, mua kem đánh răng tặng ly, mua (đổi) bình ga được tặng tạp dề nấu bếp....

14


Dưới đây là một ví dụ về khuyến mại bằng hình thức tặng quà:
Từ ngày 04/05/2015 đến 31/07/2015, Công ty Việt Nam Suzuki dành nhiều
quà hấp dẫn cho tất cả các khách hàng mua xe Suzuki tại đại lý chính thức của
Công ty Việt Nam Suzuki trên toàn quốc. Mua xe Suzuki Impulse 125Fi và xe Suzuki
Axelo 125 được hỗ trợ 500.000 VNĐ tiền lệ phí trước bạ và tặng áo thun GP, mua
xe Suzuki Raider R150 được tặng 01 nón bảo hiểm thể thao và áo thun GP, mua các
dòng xe khác được tặng áo thun....1.
Ngoài ra, việc triển khai các dịch vụ hậu mãi, dịch vụ chăm sóc khách hàng
cũng là một phương thức khuyến mại được các thương nhân quan tâm áp dụng.
Dịch vụ hậu mãi là các hoạt động sau bán hàng để xử lý các vấn đề phát sinh liên
quan đến sản phẩm, qua đó đảm bảo sự hài lòng của khách hàng trong việc tiêu
dùng sản phẩm. Các dịch vụ hậu mãi tương đối đa dạng, bao gồm hướng dẫn sử
dụng, lắp đặt, kiểm tra miễn phí, bảo hành, bảo dưỡng, đại tu và sửa chữa sản phẩm

tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền không kèm theo
việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
1.3.1.3. Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng
dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông
báo hay còn gọi là hình thức giảm giá.
Giảm giá là việc bán hàng, cung ứng dịch vụ trong thời gian khuyến mại với
giá thấp hơn giá bán, giá cung ứng dịch vụ bình thường trước đó được áp dụng
trong thời gian khuyến mại mà thương nhân đã đăng ký hoặc thông báo. Đây là một
hình thức xúc tiến thương mại khá phổ biến, thường được tổ chức nhân dịp khai
trương, sinh nhật cửa hàng, siêu thị hay những ngày lễ lớn trong năm. Tùy theo
doanh nghiệp thực hiện khuyến mại mà mức giảm giá có thể là giảm theo tỷ lệ phần
trăm hay giảm theo một giá trị nhất định. Chẳng hạn, nhân dịp khuyến mại sản
phẩm giảm 20%, các sản phẩm khác giảm 30% so với các sản phẩm trước đó; tất cả
các sản phẩm đều đồng loạt giảm 500.000 đồng trong một thời gian nhất định...
2

Chương trình khuyến mại "Ngày hội Tân trang", http://hkbike.com.vn/hkbike-trien-khai-ngay-hoi-tan-trangquy-i2015-2015013002163886.html), truy cập ngày 17/7/2015.

16


Hình thức khuyến mại giảm giá có tác dụng thúc đẩy sự tiêu thụ đối với mặt hàng
hóa cần tăng doanh số hoặc hàng hóa tồn đọng. Trong trường hợp này, thương nhân
chấp nhận hy sinh một phần lợi nhuận bằng việc giảm giá bán để kích thích sức
mua của khác hàng đối với mặt hàng này. Đây là hình thức hấp dẫn khách hàng vì
nó đánh vào tâm lý tiêu thụ của họ, khách hàng có thể nhận thấy lợi ích bằng cách
so sánh giá cả chênh lệch trước và trong thời gian khuyến mại.
Dưới đây là một ví dụ về khuyến mại bán hàng giảm giá:
Từ ngày 18/7 đến 19/7/2015, khi tới tham quan và mua sắm tại các gian
hàng Nine West , khách hàng sẽ được giảm 50% một số sản phẩm trong BST hè

được phát phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất, cung
ứng dịch vụ phát hành nhằm khuyến khích mua hàng, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ
một cách thường xuyên với số lượng lớn. Phiếu mua hàng tạo cho người tiêu dùng
có cơ hội mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ với giá ưu đãi; phiếu mua hàng, phiếu
dịch vụ chỉ có giá trị thanh toán không thể quy đổi thành tiền.
Dưới đây là một ví dụ về khuyến mại bằng hình thức bán hàng hoá, cung cấp
dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng:
Với mục đích tri ân khách hàng nhân dịp khai trương siêu thị thứ 8 Trần Anh
Thanh Xuân, Trần Anh gửi tặng 500.000 phiếu mua hàng trị giá lên đến
3,000,000đ. Chương trình áp dụng: Cho tất cả các khách hàng có hóa đơn mua
hàng và được nhận phiếu mua hàng tại hệ thống siêu thị Điện máy Trần Anh từ
ngày 19/7 đến 31/8/2013, Đơn hàng dưới 1,000,000đ: Mỗi đơn hàng tặng kèm 1
phiếu mua hàng. Đơn hàng trên 1,000,000đ: Số phiếu mua hàng tặng kèm được
tính theo phương thức sau: Đơn hàng trên 1,000,000đ đến 2,000,000đ tặng 2 phiếu.
Đơn hàng 2,000,000đ tặng kèm 2 phiếu. Đơn hàng trên 2,000,000đ đến 3,000,000đ
tặng 3 phiếu…. Phát miễn phí số lượng không hạn chế phiếu mua hàng cho khách
hàng thăm quan Trần Anh Thanh Xuân từ 9-10h từ ngày 26/7 đến 2/8. Quý khách
hàng có thể sử dụng phiếu ưu đãi để mua hàng tại hệ thống siêu thị Điện máy-Máy

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status