Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ THỊ YẾN

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. BÙI ĐĂNG HIẾU

HÀ NỘI – 2013


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn “Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự - một số vấn
đề lý luận và thực tiễn” xin cam đoan:
- Đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tác giả;
- Luận văn được thực hiện độc lập dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Đăng Hiếu.
- Những thông tin, số liệu, bản án được trích dẫn trong luận văn đầy đủ, trung thực,
có nguồn gốc rõ ràng.
- Các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trong các luận văn
khác.



6. Kết cấu của luận văn

5

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

6

DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG.
1.1. Khái niệm hợp đồng dân sự và thực hiện hợp đồng dân sự

6

1.1.1. Khái niệm hợp đồng dân sự

6

1.1.2. Thực hiện hợp đồng dân sự

8

1.1.3. Trách nhiệm do vi phạm việc thực hiện hợp đồng

11

1.2. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi

14


22


nhiệm bồi thường thiệt hại
2.1.2. Những hình thái của hành vi vi phạm hợp đồng

24

2.2. Thiệt hại thực tế.

28

2.2.1. Những loại thiệt hại được bồi thường

28

2.2.2. Giá trị bồi thường thiệt hại

30

2.2.3. Nghĩa vụ chứng minh tổn thất và nghĩa vụ hạn chế tổn thất

34

2.3. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế.

36

2.4. Yếu tố lỗi



3.1.1.1. Khái niệm sự kiện bất khả kháng

43

3.1.1.2. Xác định sự kiện bất khả kháng trong thực tế.

45

3.1.2. Hành vi của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia.

47

3.1.3. Các bên có thỏa thuận trong hợp đồng.

48

3.1.4. Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan

51

nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm
giao kết hợp đồng.
3.2. Trường hợp giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng.

53


3.2.1. Các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

62

trong hợp đồng dân sự.
4.2.2. Kiến nghị hoàn thiện về các trường hợp miễn và giảm trừ trách

64

nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng dân sự.
PHẦN KẾT.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
PHỤ LỤC.

67


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS 1995 : Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1995
BLDS

: Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2005

LTM

: Luật thương mại 2005

Tr

: Trang


và giải quyết nhanh chóng các tranh chấp hợp đồng đồng thời tạo tâm lý an toàn để


2

thu hút các hoạt động đầu tư, giao kết hợp đồng là phù hợp với mong muốn của nhân
dân trong thời buổi kinh tế thị trường với xu hướng toàn cầu hóa. Do vậy, việc nghiên
cứu một cách toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự có vai trò quan trọng trong việc xác định chính
xác vai trò của nó là gì, sự can thiệp của pháp luật đến đâu, với mức độ như thế nào là
hợp lý. Có như vậy mới đảm bảo cho các giao dịch dân sự diễn ra trong môi trường
công bằng nhưng cũng không làm mất đi quyền tự do thỏa thuận giữa các chủ thể.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài về
“Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự - một số vấn đề lý luận và thực
tiễn”, tác giả hi vọng sẽ hệ thống lại và phân tích những vấn đề về lý luận, thực tiễn,
từ đó đóng góp một số giải pháp trong việc hoàn thiện pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, bao gồm cả bồi thường thiệt hại được quy
định chủ yếu trong Bộ luật dân sự 1995, Luật thương mại 1997, Bộ luật dân sự 2005
hiện nay, Luật thương mại 2005 hiện nay và trong một số văn bản quy phạm pháp
luật khác của nước ta. Cho đến thời điểm này, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
khoa học chất lượng, có giá trị tham khảo cao nghiên cứu chuyên sâu về bồi thường
thiệt hại nói riêng, hay thông qua chế định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng như:
 Luận văn thạc sỹ “Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng” (2006) của thạc sỹ
Đinh Hồng Ngân;
 Sách tham khảo “Giáo trình luật hợp đồng thương mại quốc tế” (2007) của
nhóm tác giả Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thọ, Dương Anh Sơn;
 Sách tham khảo “Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam” (2007)
của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh;
 Sách tham khảo “Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng

định của pháp luật về vấn đề này cũng như thực tiễn áp dụng chúng.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài.
- Mục đích nghiên cứu:
Hệ thống lại kiến thức lý luận về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân
sự cũng như trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói chung.


4

Trên cơ sở nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bồi
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, so sánh với các quy định của pháp luật thế giới
cũng như thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại hiện nay. Từ đó tác giả
làm rõ bản chất của bồi thường thiệt hại, làm rõ những điểm hạn chế không còn phù
hợp, những mâu thuẫn giữa các quy định và đề xuất một số kiến nghị để hoàn thiện
khung pháp lý điều chỉnh bồi thường thiệt hại.
- Đối tượng nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, tác giả tập trung vào đối tượng nghiên cứu là:
Thứ nhất: Các nguyên tắc và quy định của pháp luật Việt Nam về bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Thứ hai: Một số vấn đề thực tế hiện nay về việc thỏa thuận trong hợp đồng,
tranh chấp và giải quyết tranh chấp hợp đồng… có liên quan đến bồi thường thiệt hại
do vi phạm hợp đồng.
- Phạm vi nghiên cứu:
Với mục đích và đối tượng nghiên cứu như đã trình bày ở trên, trong phạm vi
đề tài nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung tìm hiểu và phân tích toàn bộ hệ thống
pháp luật Việt Nam cũng như thực tiễn về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Bên cạnh đó, tác giả cũng lưu ý đến các quy định có liên quan của pháp luật một số
quốc gia.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện việc nghiên cứu luận văn tác giả đã sử dụng các

luận.
Chương 1: Lý luận về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Chương 2: Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng – pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luật.
Chương 3 : Các trường hợp miễn và giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
vi phạm hợp đồng - pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luật
Chương 4: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại
do vi phạm hợp đồng.


6

CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM
HỢP ĐỒNG
1.1. Khái niệm hợp đồng dân sự và thực hiện hợp đồng dân sự
1.1.1. Khái niệm hợp đồng dân sự.
Trong đời sống xã hội, bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào cũng đều có những mối
quan hệ xã hội nhất định để tồn tại và phát triển. Để tham gia vào các quan hệ xã hội
thì con người phải có những đảm bảo về vật chất để đáp ứng nhu cầu của mình. Muốn
như vậy thì con người phải lao động tạo ra của cải vật chất. Tuy nhiên, một cá nhân
không thể tồn tại độc lập trong cộng đồng và càng không thể tự mình tạo ra mọi của
cải vật chất để đáp ứng nhu cầu đa dạng của mình. Vì vậy, đã xuất hiện sự trao đổi
vật chất giữa các bên để thỏa mãn nhu cầu của mình. Trong quan hệ này, bằng hành
vi có ý chí của mình các chủ thể chuyển giao cho nhau những lợi ích vật chất nhằm
đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Quan hệ này được gọi là hợp đồng.
“Nếu các bên chủ thể (hoặc ít nhất có một bên) của quan hệ tham gia hợp đồng với
mục đích thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng thì hợp đồng đó được xác định là hợp
đồng dân sự” (HĐDS) [49, tr. 94].
Theo quy định tại Điều 388 Bộ luật dân sự 2005 (BLDS) thì “hợp đồng dân sự

chủ thể đều có một mục đích nhất định khi tham gia quan hệ hợp đồng. Dù các bên
chủ thể được tự do thỏa thuận nhưng mục đích và nội dung của thỏa thuận đó phải
đáp ứng được nguyên tắc giao kết HĐDS. Theo đó, “tự do giao kết hợp đồng nhưng
không được trái pháp luật, đạo đức xã hội” (Điều 389 BLDS). Trái pháp luật (hành
vi không hợp pháp) là hành vi được thực hiện trái với những quy định của pháp luật
như không làm những việc mà pháp luật yêu cầu, làm những việc mà pháp luật cấm,
hoạt động quá phạm vi cho phép của pháp luật… [50, tr. 495], Và đạo đức xã hội là
những quy tắc, chuẩn mực ứng xử giữa người với người trong đời sống xã hội được
cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
Vì vậy, để cho các giao dịch dân sự ổn định, phát triển lành mạnh thì bên cạnh
việc ghi nhận quyền tự do thỏa thuận của các chủ thể trong hợp đồng thì Nhà nước
cũng đã đưa ra những nguyên tắc để hạn chế sự tự do này. Dù là loại hợp đồng nào thì
nó cũng chỉ có hiệu lực pháp luật khi ý chí của các bên phù hợp với ý chí của Nhà


8

Nước. Các bên được “tự do” thỏa thuận để thiết lập hợp đồng, nhưng sự tự do này
phải trong giới hạn. Nếu “tự do” vô hạn thì nó sẽ trở thành công cụ để xâm phạm đến
lợi ích của cá nhân khác, lợi ích chung của xã hội, trật tự công cộng. Tiêu chí để Nhà
nước giới hạn tự do hợp đồng là để bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế hơn, bảo vệ một
bên được xem là trung thực hơn và bảo vệ trật tự công cộng.
1.1.2. Thực hiện hợp đồng dân sự.
Sau khi các bên đã giao kết hợp đồng dưới một hình thức nhất định phù hợp
với pháp luật và hợp đồng đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật yêu cầu (quy
định tại Điều 122 BLDS) thì hợp đồng có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Nghĩa là
từ thời điểm đó, các bên trong hợp đồng bắt đầu có quyền và nghĩa vụ dân sự đối với
nhau. Theo nội dung của hợp đồng, các bên lần lượt tiến hành các hành vi mang tính
nghĩa vụ đúng với tính chất đối tượng, thời hạn, phương thức, địa điểm… mà nội dung
của hợp đồng đã xác định.

hợp đồng hướng tới. Các bên tham gia quan hệ hợp đồng vì muốn có đúng chủng loại
đối tượng đó. Nên bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng chủng loại đối tượng,
f) Thực hiện đúng điều khoản về thời hạn.
Thời hạn thực hiện hợp đồng có thể là thời hạn hoặc thời điểm nhất định do hai
bên thoả thuận trong hợp đồng. Vì việc giao nhận đối tượng trong hợp đồng đúng thời
gian là yếu tố rất quan trọng để các bên thực hiện kế hoạch của mình.
g) Thực hiện đúng điều khoản về phương thức.
Phương thức giao nhận là cách để các bên tiến hành giao nhận đối tượng hợp
đồng. Phương thức giao nhận do các bên thoả thuận sao cho có lợi cho các bên. Nếu
một trong các bên thực hiện không đúng điều khoản này thì coi như vi phạm hợp
đồng và phải chịu trách nhiệm tài sản đối với bên còn lại.
h) Thực hiện đúng điều khoản về địa điểm.
Địa điểm giao nhận hoặc kết quả công việc do các bên thỏa thuận với nhau
trong hợp đồng. Tùy từng loại hợp đồng cụ thể mà địa điểm thực hiện hợp đồng có
thể là điều khoản cơ bản hoặc không phải là điều khoản cơ bản. Do vậy, nếu trong
hợp đồng các bên không có thỏa thuận về địa điểm thực hiện hợp đồng thì theo quy
định của pháp luật.
i) Thực hiện bởi/cho đúng chủ thể.


10

Chủ thể của hợp đồng là các bên ký kết hợp đồng và có quyền lợi, nghĩa vụ
phát sinh trên cơ sở hợp đồng đã ký kết. Do đó, chính chủ thể đã ký kết hợp đồng
phải thực hiện hợp đồng đó. Trong một số trường hợp thì chủ thể thực hiện hợp đồng
không phải là chủ thể đã ký kết (ủy quyền).Vì vậy, thực hiện đúng chủ thể không phải
là điều khoản bắt buộc trong hợp đồng.
2. “Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho
các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau”;
Mỗi bên chủ thể khi tham gia quan hệ hợp đồng đều có những mục đích nhất

nhiệm pháp lý được chia ra thành: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách
nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm vật chất. Mỗi loại trách nhiệm pháp
lý được xây dựng theo những nguyên tắc pháp lý riêng biệt, đặc thù và có những
điểm khác nhau cơ bản. Những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý là: nó là một
hình thức cưỡng chế của Nhà nước, áp dụng đối với những chủ thể vi phạm pháp luật,
các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ sử dụng một số biện pháp chế tài nhất định
do luật định buộc người vi phạm pháp luật phải chịu hậu quả bất lợi.
Về trách nhiệm dân sự, có quan điểm cho rằng đó là một loại trách nhiệm pháp
lý do Tòa án hoặc các chủ thể khác được phép áp dụng đối với các chủ thể vi phạm
pháp luật dân sự. Tuy nhiên, đâu là khái niệm và những đặc trưng cho trách nhiệm
dân sự hiện nay vẫn còn gây tranh cãi trong giới nghiên cứu khoa học pháp lý. Nhưng
tựu chung lại, có thể hiểu trách nhiệm dân sự là hậu quả bất lợi về vật chất mà bên vi
phạm nghĩa vụ dân sự phải gánh chịu, là một chế tài dân sự mà căn cứ phát sinh của
nó là sự vi phạm một trong hai nội dung của quan hệ pháp luật dân sự (quyền hoặc
nghĩa vụ).
Trách nhiệm do vi phạm việc thực hiện hợp đồng là một loại trách nhiệm
dân sự nên có thể hiểu nó cũng là hậu quả bất lợi về vật chất mà bên vi phạm hợp
đồng phải chịu do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp
đồng đối với bên bị vi phạm. Do đó, nó có những đặc điểm chung của trách nhiệm
dân sự. Bên cạnh đó, trách nhiệm do vi phạm việc thực hiện hợp đồng còn có những
đặc điểm riêng:
-Thứ nhất, trách nhiệm do vi phạm việc thực hiện hợp đồng luôn gắn với sự
tồn tại của HĐDS và hợp đồng này phải có hiệu lực. Hợp đồng có hiệu lực này sẽ
được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.


13

-Thứ hai, trách nhiệm do vi phạm việc thực hiện hợp đồng chỉ phát sinh khi có
hành vi vi phạm việc thực hiện hợp đồng. Hành vi vi phạm có thể là không thực hiện


1.2. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng.
1.2.1. Khái niệm.
Bồi thường thiệt hại là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân
sự của các nước trong đó có Việt Nam nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị thiệt hại khi bị hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể khác xâm phạm. Ở
các nước khác nhau thì vấn đề bồi thường được quy định khác nhau.Tuy nhiên, hầu
hết các nước đều hướng tới một nguyên tắc thống nhất là người gây thiệt hại phải bồi
thường.
Điều 1382 Bộ luật dân sự Pháp quy định “bất cứ hành vi nào của một người
gây thiệt hại cho người khác thì người đã gây thiệt hại do lỗi của mình phải bồi
thường thiệt hại”.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì chưa có khái niệm rõ ràng
về bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm thấy quy định liên quan tại
một số văn bản. Theo từ điển Luật học thì bồi thường thiệt hại được hiểu là “hình
thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục
hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị
thiệt hại” [52, tr. 84]. Còn theo quy định tại Điều 307 BLDS thì:
1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần.
2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất
vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài
sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị
mất hoặc bị giảm sút.”
Hành vi vi phạm nghĩa vụ của một bên sẽ gây ra cho bên kia những thiệt hại
vật chất, do vậy bên vi phạm đó phải có trách nhiệm bù đắp những thiệt hại đó. Việc
bù đắp đó phải tuân thủ nguyên tắc: thiệt hại phải được bồi thường đầy đủ. Sự đầy đủ
ở đây phải tương xứng với thiệt hại và không vượt quá phạm vi cần thiết để khắc


trong hợp đồng gây ảnh hưởng đến quyền lợi và gây ra thiệt hại nhất định cho bên có
quyền. Khi đó, bên có hành hành vi phạm phải chịu trách nhiệm với hành vi của


16

mình. Như vậy, khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bồi thường
thiệt hại trong hợp đồng bắt buộc giữa các bên phải tồn tại một quan hệ hợp đồng và
quan hệ này là hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
- Nội dung của trách nhiệm phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên hoặc theo
quy định của pháp luật.
HĐDS là một quan hệ pháp luật dân sự được hình thành trên cơ sở sự thỏa
thuận thống nhất ý chí của các bên tham gia trong quan hệ đó nhằm thỏa mãn nhu cầu
của nhau. Từ sự thỏa thuận thống nhất ý chí đó các bên chủ thể đã thiết lập nội dung
của hợp đồng. Một trong những nội dung đó là trách nhiệm của các bên khi xảy ra
hành vi vi phạm hợp đồng. Theo quy định tại Điều 402 Khoản 6 BLDS thì tuỳ theo
từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về “trách nhiệm do vi phạm hợp đồng”.
Một trong những trách nhiệm đó là bồi thường thiệt hại.Do đó, nội dung của trách
nhiệm bồi thường thiệt hại phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên chủ thể trong hợp
đồng. Tuy nhiên, nếu trong trường hợp các bên trong hợp đồng không thỏa thuận thì
khi xảy ra vi phạm sẽ áp dụng theo quy định chung của pháp luật. Vì nội dung của
hợp đồng là do các bên tự do thỏa thuận nên nếu các bên không thỏa thuận thì đồng
nghĩa là tự từ bỏ đi quyền lợi của mình. Vì vậy, khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng
thì sẽ áp dụng quy định của pháp luật.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng chỉ giới hạn trong phạm vi
những thiệt hại thực tế và những thiệt hại có thể tiên liệu được vào thời điểm ký hợp
đồng.
Một trong những căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng đó là có thiệt hại thực tế xảy ra. Và việc bồi thường chỉ giới hạn trong phạm
vi những thiệt hại thực tế này, bên có quyền không có quyền yêu cầu bên kia bồi

trong hợp đồng là hình thức trách nhiệm phát sinh do không thực hiện hay thực hiện
không đúng nghĩa vụ hợp đồng. Theo đó, bên vi phạm bồi hoàn những tổn thất do
hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Khác với bồi thường thiệt hại
trong hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hiểu theo nghĩa chủ quan là sự
cưỡng chế của Nhà nước nhằm buộc bên có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây ra thiệt hại thì phải chịu trách
nhiệm bồi thường những thiệt hại mà mình đã gây ra và thực hiện những yêu cầu do
pháp luật quy định nhằm khôi phục lại các quyền và lợi ích đã bị xâm phạm. Hai loại


18

bồi thường thiệt hại này đều là một loại trách nhiệm dân sự. Do đó, hai loại bồi
thường này đều mang tính chất của một trách nhiệm dân sự là:
- Căn cứ phát sinh trách nhiệm là hành vi vi phạm pháp luật dân sự và chỉ áp
dụng với người thực hiện hành vi vi phạm đó;
- Tính chất của chế tài là hậu quả pháp lý bất lợi mang tính tài sản dành cho
người thực hiện hành vi vi phạm;
- Là một biện pháp cưỡng chế mang tính chất pháp lý, do đó được đảm bảo thi
hành bởi pháp luật và bộ máy cưỡng chế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Bên cạnh những điểm chung cơ bản đó, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có những điểm khác nhau như sau:
- Về nguồn gốc phát sinh:
Theo quy định pháp luật hiện hành, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
căn cứ dựa trên cơ sở thỏa thuận của các bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng. Nếu
các bên không có thỏa thuận thì theo quy định của pháp luật. Trách nhiệm này chỉ
phát sinh khi xuất hiện sự vi phạm một hay nhiều nghĩa vụ được quy định trong hợp
đồng. Điều này đồng nghĩa là phải tồn tại một hợp đồng có hiệu lực. Trong khi đó,
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh bên ngoài, không phụ thuộc vào hợp
đồng, mà chỉ cần tồn tại một hành vi vi phạm pháp luật dân sự, cố ý hay vô ý, gây

Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng phát sinh do lỗi cố ý hoặc vô ý của người
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng. Như vậy, những thiệt hại trong
hợp đồng bắt buộc phải có lỗi. Còn trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, việc
phân biệt lỗi cố ý và vô ý cũng có ý nghĩa nhưng bên cạnh đó thì người có hành vi vi
phạm có thể chịu trách nhiệm ngay cả khi không có lỗi trong trường hợp pháp luật có
quy định. Đó là các trường hợp: bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra (Điều 623 BLDS), bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường (Điều 624
BLDS).
- Về thời điểm xác định trách nhiệm:
Một trong những nội dung quan trọng để có thể xác định được đúng mức bồi
thường thiệt hại của bên vi phạm là xác định thời điểm chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phát sinh tại thời điểm xảy ra thiệt hại
hay tại thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên bị vi phạm, điều này tùy
thuộc vào tính chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Đối với bồi thường thiệt hại



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status