chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại - Pdf 21

LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy, cô đã giảng
dạy và giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường để em tích luỹ được vốn
kiến thức cần thiết cho công viêc mai sau.
Đặc biệt, em xin tỏ lòng biết ơn đến cô giáo, thạc sĩ Trần Bảo Ánh –
Giảng viên khoa Pháp luật Kinh tế, trường Đại học Luật Hà Nội, đã tận tình
chỉ bảo và hướng dẫn em hoàn thành Khoá luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2012

LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là một đơn
vị sản xuất hàng hoá độc lập, họ phải lo cả đầu vào và đầu ra của quá trình sản
xuất. Dưới sự tác động và chi phối của các quy luật kinh tế khách quan trong
nền kinh tế thị trường, các đơn vị kinh tế phải tự hạch toán kinh doanh, lấy
thu bù chi, đảm bảo có lãi để tồn tại và phát triển nếu không muốn bị phá sản.
Để sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nào cũng phải mua sắm trang thiết bị,
máy móc, nguyên liệu và sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp khác thông
qua hợp đồng mua bán và hợp đồng dịch vụ. Vì vậy, mỗi ngày có thể có hàng
ngàn hợp đồng được kí kết. Khi hợp đồng đã được kí kết và có hiệu lực pháp
luật, các doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thực hiện đúng các nghĩa vụ phát sinh
từ hợp đồng. Nếu bên nào không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ hợp đồng gây thiệt hại cho bên đối tác thì phải chịu trách nhiệm bồi
thường. Bồi thường thiệt hại là một chế tài pháp luật phổ biến đã có từ lâu
trong hệ thống pháp luật của nước ta cũng như của các nước trên thế giới. Có
thể nói chế tài pháp luật này “xưa như trái đất” nhưng không phải vì thế mà
việc nghiên cứu về chế tài này kém đi tính thời sự của nó. Bởi vì các quy
định pháp luật về chế tài bồi thường thiệt hại trong Luật thương mại vẫn còn

thần cho người bị thiệt hại
[12, tr.84]
. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm
trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt
hại về tinh thần. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là việc người vi
phạm phải gánh chịu những hậu quả vật chất bất lợi do hành vi vi phạm của
mình gây ra cho người khác. Người vi phạm phải lấy tài sản, tiền bạc của
mình bù đắp những tổn thất về vật chất mà mình gây ra cho người bị vi phạm.
Những tổn thất về vật chất này phải tính được thành tiền, bao gồm tổn thất về
tài sản, chi phí ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, thu nhập thực tế bi mất, bị giảm
sút, chi phí cứu chữa, …. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần là
trách nhiệm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai và có thể
còn phải bồi thường khoản tiền nhất định cho người bị thiệt hại.
Bồi thường thiệt hại có thể phát sinh trong cả lĩnh vực công pháp
và tư pháp.
Trong lĩnh vực công pháp, chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại có thể là các cơ quan công quyền khi các cơ quan này thực hiện
4
không đúng chức năng, nhiệm vụ, vi phạm pháp luật làm tổn hại đến lợi ích
của công dân và các cơ quan, tổ chức khác.
Khi thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, các cơ quan công quyền
có trách nhiệm phải tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân. Nếu làm không đúng chức năng nhiệm vụ của mình, vi phạm pháp luật,
gây thiệt hại cho công dân thì phải có trách nhiệm bồi thường. Để khôi phục
quyền, lợi ích hợp pháp của người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự,
nâng cao trách nhiệm của người có thẩm quyền trong hoạt động khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban
hành Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 về
bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố
tụng hình sự gây ra.

oan sai, ngày 18 tháng 6 năm 2009, Quốc hội khoá 12 kì họp thứ 5 đã ban
hành Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước. Điều 1 Luật trách nhiệm bồi
thường Nhà nước quy định rõ: Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho các
cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động
quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án. Cụ thể là theo các Điều 31, 32, 33
Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009, Viện kiểm sát nhân dân có
trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự khi không
thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng; Toà án nhân dân có trách nhiệm bồi
thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, dân sự, hành chính, thương
mại,…. Khi người thi hành công vụ thực hiện không đúng chức năng, nhiệm
vụ, vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho các tổ chức và cá nhân thì trước hết
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho các tổ chức, cá nhân này. Người thi
hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà
nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo
quyết định của cơ quan có thẩm quyền (xem Điều 56 Luật trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước 2009).
6
Gần đây, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao vừa có văn bản đề nghị Bộ
Tài chính cấp hơn 990 triệu đồng theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước để Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình bồi thường cho một giám đốc
doanh nghiệp là bà Phùng Thị Thu, nguyên giám đốc Xí nghiệp May xuất
khẩu Thành Công, tỉnh Thái Bình vi vụ việc sau đây:
Quá trình điều tra xác định, năm 1998 bà Thu ký hợp đồng may gia
công với Công ty Hungsen (Đài Loan). Để thực hiện hợp đồng, bà Thu đem
nguyên liệu nhận hợp đồng gia công cho Công ty Hungsen đi bán để gán nợ.
Đến thời hạn giao hàng, doanh nghiệp của bà Thu chưa thực hiện đủ hợp
đồng, gây tổn hại kinh tế cho công ty này. Đầu tháng 10/1998, công an tỉnh
Thái Bình đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với bà
Thu về các tội danh như lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và bắt tạm
giam. Trong quá trình điều tra vụ án, cảnh sát còn phát hiện một quả lựu đạn

dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải
bồi thường”.
Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những
quy định của pháp luật (quy định những hậu quả pháp lý ngoài mong muốn
của chủ thể) không có sự thoả thuận trước của các bên và được phát sinh chỉ
trên cơ sở hành vi bất hợp pháp do lỗi cố ý hoặc vô ý. Các quyền và nghĩa vụ
pháp lí hoàn toàn do pháp luật quy định, trước thời điểm phát sinh trách
nhiệm các bên trong quan hệ pháp luật này không có quan hệ với nhau. Trong
các trường hợp có quan hệ hợp đồng nhưng nếu có việc gây thiệt hại không
liên quan gì đến việc thực hiện hợp đồng thì đó cũng là trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng phát sinh khi một
trong các bên tham gia kí kết hợp đồng có hành vi vi phạm nghĩa vụ đã cam
kết của mình và gây thiệt hại cho bên kia. Khi hợp đồng đã được kí kết và có
hiệu lực pháp luật, hợp đồng được coi là luật của các bên kí kết và các bên có
nghĩa vụ phải thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó. Nếu bên nào
8
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì sẽ phải
chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình, tức là phải gánh chịu những
hậu quả pháp lý nhất định do hành vi vi phạm đó gây ra. Một trong những hậu
quả pháp lý đó là bồi thường thiệt hại trong hợp đồng.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng được quy định tại Chương VIII
Bộ luật Lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất. Cụ thể, trách
nhiệm bồi thường thiệt hại trong lao động được quy định như sau:
Thứ nhất là các quy định về trách nhiệm của người lao động
Theo Điều 89, “người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có
hành vi khác gây thiệt hại cho tài sản của doanh nghiệp thì phải bồi thường
theo quy định của pháp luật về thiệt hại đã gây ra. Nếu gây thiệt hại không
nghiêm trọng do sơ suất, thì phải bồi thường nhiều nhất ba tháng lương và bị
khấu trừ dần vào lương theo quy định tại Điều 60 của Bộ luật này”. Điều 90

Chế tài là một trong ba bộ phận cấu thành và là bộ phận không thể
thiếu trong quy phạm pháp luật. Đó là bộ phận xác định các hình thức trách
nhiệm pháp lí khi có hành vi vi phạm những quy tắc xử sự chung được ghi
trong phần giả định và quy định của quy phạm pháp luật. Căn cứ vào tính
chất của các nhóm quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, chế tài được
phân chia thành nhiều loại: chế tài hành chính, chế tài hình sự, chế tài dân sự,
chế tài thương mại…. Việc áp dụng các chế tài không những phụ thuộc vào
những đặc điểm của lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ mà còn phải căn cứ vào
tính chất của hành vi phạm pháp, mức độ thiệt hại và những vấn đề khác có
liên quan. Chế tài gồm có các hình thức: chế tài trừng trị (trong lĩnh vực hình
sự), chế tài khôi phục trạng thái pháp lí ban đầu (trong lĩnh vực hành chính,
dân sự), ….
10
Sở dĩ chế tài được coi là một bộ phận không thể thiếu của quy phạm
pháp luật là vì nó đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm trật tự
và an toàn xã hội. Chế tài thể hiện thái độ của Nhà nước đối với những hành
vi vi phạm pháp luật và có tác dụng phòng ngừa, giáo dục để đảm bảo việc
tuân thủ pháp luật, góp phần thực hiện mục đích của Nhà nước trong mọi lĩnh
vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh… trong từng giai
đoạn cách mạng cụ thể.
Với tư cách là một chế tài, cũng như những chế tài khác, chế tài bồi
thường thiệt hại cũng có những chức năng chung của pháp luật. Cụ thể là
những chức năng sau:
Thứ nhất, chức năng khôi phục, bù đắp những tổn thất cho người bị
thiệt hại
Như chúng ta đã biết, bồi thường thiệt hại là việc người có hành vi vi
phạm, có lỗi trong việc gây ra thiệt hại về vật chất, tinh thần phải bồi hoàn
cho người bị thiệt hại nhằm phục hồi tình trạng tài sản, bù đắp tổn thất tinh
thần cho người bị thiệt hại. Điều đó có nghĩa là người có hành vi vi phạm phải
khôi phục lại tình trạng tài sản hoặc tình trạng tinh thần cho người bị thiệt hại

trọng pháp luật cũng như không cố gắng thực hiện những cam kết trong hợp
đồng. Nếu vậy thì xã hội sẽ trở nên vô cùng hỗn loạn, quyền và lợi ích hợp
pháp của con người sẽ không được đảm bảo. Qua đây chúng ta thấy, chế tài
nói chung và chế tài bồi thường thiệt hại nói riêng có vai trò rất quan trọng
trong việc nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa các hành vi vi
phạm.
Thứ ba, chức năng giáo dục
Việc bị áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại luôn mang lại hậu quả
pháp lí bất lợi đối với người có hành vi vi phạm. Người gây thiệt hại phải chịu
12
trách nhiệm đền bù tổn thất cho những thiệt hại mà họ đã gây ra. Họ không
những có thể mất đi những lợi ích nhất định về kinh tế mà còn có thể bị giảm
sút về uy tín. Việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại không những buộc
chủ thể có hành vi gây tổn thất cho cá nhân, tổ chức khác phải chịu trách
nhiệm về hành vi của mình mà còn giúp họ rút ra bài học kinh nghiệm, từ đó
nâng cao tinh thần trách nhiệm cũng như ý thức của những chủ thể này khi
tham gia vào các quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ hợp đồng nói riêng.
Như vậy, chế tài bồi thường thiệt hại có chức năng vô cùng quan trọng.
Nó không chỉ nhằm bảo đảm việc đền bù tổn thất mà bên vi phạm gây ra cho
bên bị vi phạm mà còn có chức năng giáo dục về ý thức tuân thủ pháp luật,
bảo vệ tài sản công dân, tài sản xã hội chủ nghĩa đối với những người có hành
vi vi phạm nói riêng và toàn xã hội nói chung.
1.3 Bồi thường thiệt hại – một chế tài phổ biến trong Luật
Dân sự, Luật Thương mại của các nước trên thế giới và pháp luật
thương mại Quốc tế
Trong pháp luật dân sự, thương mại nước ta, có hai hình thức chế tài
vật chất, đó là bồi thường thiệt hại và phạt hợp đồng
[10, tr.329]
(về mối quan hệ
giữa bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng sẽ được phân tích kĩ ở

bao gồm giá trị số tài sản mất mát, hư hỏng, số chi phí để ngăn chặn và hạn
chế thiệt hại do vi phạm gây ra; tiền phạt vi phạm hợp đồng và tiền bồi
thường thiệt hại mà bên bị vi phạm đã phải trả cho bên thứ ba là hậu quả trực
tiếp của sự vi phạm này gây ra. Luật thương mại hiện hành cho phép các bên
thoả thuận chế tài phạt hợp đồng trong hợp đồng. Chế tài phạt hợp đồng chỉ
được áp dụng khi các bên có thoả thuận. Mức phạt vi phạm do các bên tự
thoả thuận trong hợp đồng nhưng không được quá 8% giá trị phần hợp đồng
bị vi phạm (Điều 301 Luật thương mại 2005). Bên vi phạm có nghĩa vụ nộp
phạt theo thoả thuận, bất luận hành vi vi phạm có gây ra thiệt hại hay không.
Điều này có vẻ không hợp lý cho lắm vì trong quan hệ hợp tác làm ăn thì
không nên có biện pháp trừng phạt như vậy. Thực tế xét xử các vụ án kinh tế
14
cũng đã chứng minh, chế tài phạt vi phạm hầu như không được áp dụng mà
chủ yếu là áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại.
Không chỉ Luật hợp đồng của Hoa Kỳ không có chế tài phạt hợp đồng
mà Luật dân sự, thương mại của Cộng hoà liên bang Đức, của Nhật Bản cũng
không có quy định về chế tài này. Khi vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp
đồng, bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm. Suy cho
cùng, bên bị vi phạm có thể đòi được bên vi phạm bồi thường thiệt hại cho
mình đã là quá tốt.
Đối với hợp đồng thương mại quốc tế, khi xảy ra hành vi vi phạm hợp
đồng, một trong những chế tài được áp dụng phổ biến cũng là bồi thường thiệt
hại. Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước CISG)
cũng dành Mục II Chương 5 Điều 74 đến Điều 77 cho chế tài bồi thường thiệt
hại, mà không có quy định nào về phạt hợp đồng. Bộ nguyên tắc của Unidroit
về hợp đồng thương mại quốc tế dành Mục 4 Chương 7 để thống nhất các vấn
đề về bồi thường thiệt hại.
15
CHƯƠNG II
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG

đồng trong Luật thương mại như sau: hợp đồng thương mại là sự thoả thuận
chủ yếu giữa các thương nhân về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại.
Theo Điều 6 khoản 1 Luật thương mại hiện hành, “thương nhân bao
gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại
một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.”. Như vậy, chủ
thể của hợp đồng thương mại phải là các tổ chức kinh tế được thành lập hợp
pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có
đăng kí kinh doanh. Các chủ thể này khi tham gia quan hệ hợp đồng thương
mại mà vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng gây thiệt hại cho bên đối tác
thì sẽ phải bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, theo Điều 1 khoản 3 Luật thương
mại thì: “Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao
dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục
đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này.”. Điều đó có nghĩa là bên không phải
là thương nhân mà kí kết hợp đồng với thương nhân và chọn Luật thương mại
để áp dụng cho quan hệ hợp đồng đó thì khi vi phạm hợp đồng và gây thiệt
hại cho bên kia cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo những
quy định về bồi thường thiệt hại của Luật thương mại, bởi vì hợp đồng này
cũng được coi là hợp đồng thương mại.
Như vậy, chủ thể có thể bị áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng thương mại chỉ có thể là các chủ thể tham gia giao kết hợp
đồng thương mại.
17
2.2 Căn cứ phát sinh chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng thương mại
Như chúng ta đã biết, khi hợp đồng nói chung và hợp đồng thương mại
nói riêng được kí kết và có hiệu lực pháp luật, các bên có trách nhiệm thực
hiện nghĩa vụ của mình. Nếu bên nào không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng thì phải chịu trách nhiệm trước bên kia. Một trong những hình thức chế

vẫn có nghĩa vụ phải bảo hành nếu có quy định của pháp luật về bảo hành sản
phẩm đó.
Theo Điều 3 Khoản 12, Luật Thương mại, hành vi vi phạm hợp đồng
là hành vi “không thực hiện”, “thực hiện không đầy đủ” hoặc “thực hiện
không đúng” hợp đồng.
“Không thực hiện hợp đồng” là việc một bên trong quan hệ hợp đồng
hoàn toàn không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào phát sinh từ hợp đồng đã
cam kết. Ví dụ Công ty sản xuất xi măng A bán xi măng cho Công ty xây
dựng B. Theo thỏa thuận công ty A phải giao cho công ty B 100 tấn xi măng.
Đến ngày giao hàng, công ty A đã không giao xi măng cho công ty B và
thông báo cho công ty B là không có xi măng để giao. Như vậy, A đã vi phạm
hợp đồng vì không thực hiện hợp đồng theo thỏa thuận.
“Thực hiện không đúng” hợp đồng là việc bên có nghĩa vụ trong quan
hệ hợp đồng không thực hiện đúng những điều khoản đã thỏa thuận. Ví dụ:
Bên bán giao hàng không đúng chất lượng, không đúng số lượng, không đồng
bộ, không đúng thời gian giao hàng. Yêu cầu đặt ra là phải thực hiện đúng
thời hạn hợp đồng, giao hàng trước hoặc giao hàng sau, đều là vi phạm hợp
đồng.
Ngoài hai hình thức vi phạm hợp đồng nêu trên, Điều 3 Khoản 12 còn
cho rằng vi phạm hợp đồng bao gồm cả trường hợp “thực hiện không đầy đủ”
19
hợp đồng nhưng “thực hiện không đầy đủ” cũng có nghĩa là “thực hiện không
đúng” hợp đồng. Ví dụ: Công ty A phải giao 100 tấn xi măng cho công ty B,
nhưng công ty A chỉ giao 80 tấn. Như vậy, công ty A giao “không đầy đủ” số
lượng cũng tức là “không đúng” số lượng. Quy định như vậy có lẽ là không
cần thiết, chỉ cần quy định: “vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực
hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo
quy định của luật này” là đã bao quát hết các hành vi vi phạm. Vì điều luật
trên quy định cả trường hợp “thực hiện không đầy đủ” nên đã có câu hỏi đặt
ra “thực hiện chậm” có là một “vi phạm” hợp đồng theo Điều 3 Khoản 12

Hay nói một cách khác, bên bị vi phạm chỉ có thể yêu cầu bên có hành vi vi
phạm bồi thường thiệt hại khi chứng minh có thiệt hại thực tế do hành vi vi
phạm hợp đồng của bên vi phạm gây ra.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 302 Luật thương mại 2005, khoản thiệt
hại do vi phạm hợp đồng bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị
vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi
phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.
Thiệt hại thực tế ở đây phải là thiệt hại về tài sản, có thể tính toán, xác
định được. Thiệt hại thực tế được chia làm hai loại: thiệt hại trực tiếp và thiệt
hại gián tiếp. Trong đó, thiệt hại trực tiếp là những thiệt hại là những thiệt hại
xảy ra trên thực tế, có thể tính toán một cách dễ dàng và chính xác, ví dụ như
tài sản bị mất mát, hư hỏng hay những chi phí cần thiết để ngăn chặn, hạn chế
thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra…; còn thiệt hại gián tiếp là
những thiệt hại chỉ có thể xác định được dựa trên sự suy đoán khoa học, vi dụ
như thu nhập thực tế bị mất, giảm sút….
[14, tr.60]
Về nguyên tắc, bên bị vi phạm chỉ có thể yêu cầu bên vi phạm bồi
thường khoản thiệt hại trong phạm vi do pháp luật quy định. Bên vi phạm hợp
đồng chỉ phải bồi thường cho bên bị vi phạm nếu hành vi vi phạm của mình
gây ra thiệt hại thực tế cho bên bị vi phạm và chỉ phải bồi thường phần thiệt
hại thực tế đó. Bên bị vi phạm có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại, tức là chứng
minh giá trị thực tế tổn thất thực tế, trực tiếp, mức độ tổn thất do hành vi vi
21
phạm của bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng
lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm (Xem Điều 304 Luật thương
mại 2005). Để có cơ sở cho việc yêu cầu bồi thường thiệt hại, bên bị thiệt hại
phải xuất trình được các tài liệu để chứng minh. Đây là chứng cứ pháp lí quan
trọng để bên gây thiệt hại xem xét nếu việc bồi thường thiệt hại được giải
quyết thông qua con đường đàm phán, thương lượng.
Nếu như việc bồi thường thiệt hại được giải quyết thông qua con

thanh toán chậm mà vì sự thanh toán chậm này bên bị vi phạm phải trả lãi quá
hạn cho ngân hàng thì số “tiền lãi quá hạn” đó rõ ràng là tổn thất thực tế của
bên bị vi phạm do hành vi vi phạm gây ra. Còn trong trường hợp bên bị vi
phạm không nợ ngân hàng, do đó mà việc chậm thanh toán không gây thiệt
hại gì cho bên bị vi phạm thì tiền lãi trên số tiền chậm trả có thể được coi là
khoản lợi nhuận trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không
có hành vi vi phạm. Ví dụ: nếu được thanh toán tiền hàng hay thù lao dịch vụ
đúng hạn thì bên được nhận tiền có thể mang số tiền này đi gửi ngân hàng
hoặc cho người khác vay và sẽ được hưởng lãi từ số tiền đó. Có lẽ vì thế mà
quyền yêu cầu trả tiền lãi do chậm thanh toán được Luật thương mại quy định
ở một điều riêng.
2.2.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và
thiệt hại
Quan hệ nhân quả là mối quan hệ biện chứng, nội tại giữa nguyên nhân
và kết quả, trong đó nguyên nhân phải có trước kết quả. Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại nói chung và trách nhiệm nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng thương mại nói riêng đòi hỏi giữa hành vi vi phạm và thiệt
hại phải có mối quan hệ nhân quả. Hành vi vi phạm là nguyên nhân và thiệt
23
hại là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm đó. Nếu không có vi phạm thì thiệt
hại không thể phát sinh.
Xác định quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại
là xác định cơ sở khách quan của trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bên có
hành vi phạm hợp đồng chỉ phải bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra là kết
quả tất yếu của hành vi vi phạm hợp đồng. Trong thực tế có thể có trường hợp
hợp đồng bị vi phạm nhưng không trực tiếp gây ra thiệt hại cho bên bị vi
phạm thì bên vi phạm không phải bồi thường thiệt hại. Ví dụ: Công ty chế
biến lương thực A bán bột mì cho Công ty bánh kẹo B. Đến ngày giao hàng,
công ty A không có bột mì để giao cho công ty B, cũng vào thời điểm này,
dây chuyền sản xuất bánh kẹo của công ty B bị hỏng, Công ty B không sản

Về nguyên tắc, một người chỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi vi
phạm của mình nếu có lỗi.
Mặc dù Luật Thương mại không quy định về lỗi của bên vi phạm
nhưng lại quy định các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm.
Theo Điều 294 Khoản 1 bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong
trường hợp sau đây: (i) xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã
thỏa thuận; (ii) xảy ra sự kiện bất khả kháng; (iii) hành vi vi phạm của một
bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; (iv) hành vi vi phạm của một bên do thực
hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể
biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
Từ những trường hợp miễn trách nhiệm này, có thể suy luận rằng bên vi
phạm chỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình khi có lỗi. Nếu
xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng
thì bên vi phạm đương nhiên không phải chịu trách nhiệm. Còn nếu rơi vào
trường hợp bất khả kháng hoặc hành vi vi phạm là do lỗi của bên kia hay bên
vi phạm phải thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status