I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
HONG VN CN
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do vi phạm pháp luật giao thông đường bộ
- Qua thực tiễn xét xử TạI tỉnh Lạng Sơn
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
HONG VN CN
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do vi phạm pháp luật giao thông đường bộ
- Qua thực tiễn xét xử TạI tỉnh Lạng Sơn
Chuyờn ngnh: Lut Dõn s v t tng dõn s
Mó s: 60 38 01 03
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: TS. Lấ èNH NGH
H NI - 2015
Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
các vụ tai nạn giao thông đường bộ ............................................... 5
1.1.1.
Bản chất và trách nhiệm do con người và nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra thiệt hại ............................................................................. 5
1.1.2.
Khái niệm tai nạn giao thông đường bộ ............................................ 7
1.1.3.
Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ ....................................................................... 11
1.1.4.
Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ ....................................................................... 12
1.1.5.
Đặc thù trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao
thông đường bộ với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng khác và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng ....... 17
1.2.
Do chính người tham gia giao thông đường bộ ............................... 30
Do phương tiện tham gia giao thông đường bộ ............................... 32
1.3.3.
1.3.4.
Do kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ......................................... 33
Do quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông .......................... 34
1.3.5.
Do các nguyên nhân, điều kiện khác ............................................... 38
1.4.
Khái quát quá trình phát triển của pháp luật quy định về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng....................... 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ............................................................................. 44
Chương 2: ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH, XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI VÀ
CHỦ THỂ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA TRÁCH
NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI
NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ.......................................................45
2.1.
2.1.1.
2.1.2.
2.1.3.
2.1.4.
2.1.5.
2.3.2.
Người không phải là chủ sở hữu phương tiện giao thông
đường bộ ........................................................................................ 92
2.3.3.
Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm ................................................ 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ............................................................................. 95
Chương 3: THỰC TIỄN XÉT XỬ VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
CỦA TỈNH LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY
VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO
THÔNG ĐƯỜNG BỘ................................................................... 97
3.1.
Thực tiễn xét xử về bồi thường thiệt hại trong các vụ tai
nạn giao thông đường bộ ở tỉnh Lạng Sơn trong thời gian
gần đây .......................................................................................... 97
3.1.1.
Những kết quả đạt được trong thực tiễn xét xử về bồi thường
thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ ở tỉnh Lạng
Sơn trong thời gian gần đây ............................................................ 97
3.1.2.
GTVTĐB: Giao thông vận tải đường bộ
TAND:
Tòa án nhân dân
TNBTTH: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
TNDS:
Trách nhiệm dân sự
TNGT:
Tai nạn giao thông
TNGTĐB: Tai nạn giao thông đường bộ
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Giao thông vận tải nói chung, giao thông vận tải đường bộ nói riêng
đóng một vị trí quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, bảo
đảm an ninh quốc phòng của Nhà nước. Bên cạnh những lợi ích to lớn do giao
thông vận tải mang lại, thì trong quá trình sử dụng các phương tiện giao thông
vận tải cơ giới đường bộ đã có không ít vụ tai nạn xảy ra gây những thiệt hại
nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe con người và cải vật chất của xã hội.
Theo Báo cáo của Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia, trong 5 tháng
đầu năm 2013, cả nước xảy ra 12.052 vụ tai nạn giao thông làm chết 4.136
người, bị thương 12.171 người. So với cùng kỳ năm 2012, giảm hơn 2.000
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để xây dựng lý luận về khái
niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, từ đó đi sâu nghiên
cứu và làm rõ khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ.
- Tổng kết thực tiễn giải quyết bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ trong những năm qua trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn gắn với
lý luận, căn cứ vào các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và các quy
định khác của pháp luật, đưa ra những kiến nghị có căn cứ khoa học và thực
tiễn về việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho việc giải
quyết bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ.
- Đề xuất các biện pháp phòng ngừa các vụ tai nạn giao thông đường bộ
cũng như các biện pháp bảo đảm việc bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ.
2
1.3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
- Đây là luận văn thạc sĩ đầu tiên ở tỉnh Lạng Sơn khái quát một cách
có hệ thống cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
để từ đó nghiên cứu một loại trách nhiệm cụ thể: "Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm pháp luật giao thông đường bộ - Qua thực tiễn xét
xử tại tỉnh Lạng Sơn". Luận văn đóng góp vào lý luận trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do vi phạm pháp luật giao thông đường bộ; khái niệm tai nạn
giao thông đường bộ theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp; khái niệm trách
nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ. Luận
văn góp phần tìm ra những nguyên nhân, điều kiện của các vụ tai nạn giao
thông đường bộ, dự báo tình hình tai nạn giao thông đường bộ trong thời gian
tới. Đồng thời, luận văn góp phần giải quyết một cách có hệ thống những
vướng mắc xung quanh chế định bồi thường ngoài hợp đồng nói chung, bồi
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn ở một số vấn đề cơ bản
dưới góc độ điều tra xã hội học và Luật dân sự, như: làm rõ khái niệm trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ tai nạn giao thông
đường bộ, nguyên nhân điều kiện và tình hình của tai nạn giao thông đường
bộ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong khoảng thời gian 5 năm (2009 - 2014);
các nguyên tắc cơ bản và cơ sở pháp lý của việc bồi thường thiệt hại trong các
vụ tai nạn giao thông đường bộ; trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp cả về
mặt lý luận cả về mặt thực tiễn dưới góc độ của pháp luật dân sự.
2. Nội dung nghiên cứu
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1. Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các
vụ tai nạn giao thông đường bộ
1.1.1. Bản chất và trách nhiệm do con người và nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra thiệt hại
* Đối với con người gây ra
Trách nhiệm của người có hành vi trái pháp pháp luật gây ra thiệt hại
cho người khác là trách nhiệm pháp lý, người gây ra thiệt hại phải bồi thường
mà không phụ thuộc vào khả năng tạo lập tài sản của cá nhân đó.
Cá nhân phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định theo
tiêu chí: Mức độ năng lực của cá nhân chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
theo các mức độ năng lực hành vi dân sự khác nhau. Cụ thể:
- Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi có hành vi gây thiệt hại
cho người khác thì phải tự bồi thường bằng toàn bộ tài sản của mình.
khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ mà chỉ liệt kê các đối tượng được coi là
nguồn nguy hiểm cao độ. Tuy nhiên, qua quy định trên, ta có thể hiểu:
“Nguồn nguy hiểm cao độ là những vật chất nhất định do pháp luật quy định
luôn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho con người, con người không thể kiểm
soát được một cách tuyệt đối”.
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra là trách nhiệm của chủ sở hữu hoặc người chiếm
hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ và do hoạt động tự thân của
nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho người khác, phải bồi thường thiệt
hại kể cả trong trường hợp chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp nguồn
nguy hiểm cao độ không có lỗi.
6
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
cũng là một trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng. Do vậy mà các nguyên tắc trong trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cũng xuất phát từ những nguyên
tắc chung đó.
Chủ thể bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có thể
là cá nhân hoặc pháp nhân, tổ chức. Tuy nhiên Bộ luật dân sự chỉ quy định tại
Điều 606 về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân mà
không quy định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ
thể khác. Do vậy, có thể mặc nhiên hiểu các chủ thể khác gây thiệt hại sẽ
được coi là có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
1.1.2. Khái niệm tai nạn giao thông đường bộ
Phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ là nguồn nguy hiểm
cao độ. Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định phương tiện
GTVT cơ giới nói chung và phương tiện GTVT cơ giới đường bộ nói riêng là
hoặc là thiệt hại về tài sản.
Trong lĩnh vực pháp luật, chưa có một định nghĩa chính thức về tai nạn
nói chung. Tuy nhiên, trong một số quy phạm pháp luật của một số ngành luật
và trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học pháp lý, đã có một số khái niệm về tai
nạn trong từng lĩnh vực cụ thể.
Bộ luật Lao động năm 2012 quy định:
Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ
phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao
động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện
công việc, nhiệm vụ lao động.
Quy định này được áp dụng đối với cả người học nghề, tập
nghề và thử việc [13, Điều 142, Khoản 1].
8
Trong nghiên cứu khoa học thì khái niệm "tai nạn", khái niệm "tai nạn
giao thông đường bộ" đã được một số tác giả đề cập đến.
Theo tác giả Đào Công Hải, thì "Tai nạn giao thông là tai nạn xảy ra
khi các đối tượng tham gia trên đường giao thông công cộng gây nên: - Thiệt
hại về sức khỏe, tính mạng con người - Thiệt hại về tài sản hoặc thiệt hại đặc
biệt nghiêm trọng về tài sản" [1, tr.82].
Còn theo Thạc sĩ Đỗ Đình Hòa thì:
Tai nạn giao thông là sự kiện bất ngờ, nằm ngoài ý muốn
chủ quan của con người. Nó xảy ra khi các đối tượng tham gia
giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng,
đường chuyên dùng hoặc ở các địa bàn giao thông công cộng
nhưng do chủ quan, vi phạm các quy tắc về an toàn giao thông
hoặc do gặp phải các sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, đã gây
thiệt hại nhất định cho tính mạng, sức khỏe con người hoặc tài sản
Ví dụ: A đã dùng xe ô - tô phóng nhanh cố ý đâm vào B đang đi bộ trên
đường với mục đích giết B vì A có mâu thuẫn với B. Hậu quả là B chết. Trong
trường hợp này không thể gọi là TNGT mà đây là một vụ án giết người.
Từ sự phân tích trên chúng tôi đưa ra khái niệm chung về TNGTĐB
như sau: TNGTĐB là một sự kiện do hành vi của con người vi phạm các quy
định về an toàn giao thông đường bộ, do sự cố đột xuất hoặc do các trường
hợp bất khả kháng gây ra trong quá trình tham gia giao thông của con người
mà gây thiệt hại về: tính mạng, sức khỏe, tinh thần của con người hoặc thiệt
hại về tài sản.
Phạm vi nghiên cứu, mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ chế
định TNBTTH trong các vụ TNGTĐB; vì vậy, nếu khái niệm chung về
TNGTĐB như chúng tôi đã đưa ra trên đây thì không phải trong mọi trường
hợp đều phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng.
Theo quy định tại Điều 623 BLDS năm 2005, thì phương tiện GTVT
10
cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ và chủ sở hữu, người được chủ sở hữu
giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ chỉ không phải BTTH, nếu
thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; thiệt hại xảy ra
trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác. Như vậy, trong các trường hợp này nếu có TNGTĐB
xảy ra gây thiệt hại thì cũng không làm phát sinh TNBTTH.
Từ sự phân tích trên chúng tôi đưa ra khái niệm TNGTĐB làm phát
sinh TNBTTH ngoài hợp đồng như sau: TNGTĐB làm phát sinh TNBTTH
ngoài hợp đồng là một sự kiện do hành vi của con người vi phạm một cách cố
ý hoặc vô ý các quy định về an toàn giao thông đường bộ gây ra trong quá
trình tham gia giao thông của con người, gây thiệt hại về tính mạng, về sức
khỏe, về tinh thần của con người hoặc gây thiệt hại về tài sản.
đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người khác, xâm phạm đến tài sản của
Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân khác mà gây thiệt hại.
1.1.4. Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ
1.1.4.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao
thông đường bộ do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Tự bản thân nguồn nguy hiểm cao độ luôn tạo ra mối nguy
hiểm cho người xung quanh, mặc dù người chủ sở hữu, người
chiếm hữu, sử dụng nguồng nguy hiểm cao độ đã áp dụng các biện
pháp phòng ngừa nhưng không thể kiểm soát được một cách tuyệt
đối khả năng gây hại của nguồng nguy hiểm cao độ [16, tr.307].
Theo quy định tại Điều 623 BLDS thì phương tiện GTVT cơ giới là
nguồn nguy hiểm cao độ. Điều đó có nghĩa là phương tiện GTVT cơ giới
đường bộ là nguồn nguy hiểm cao độ, bởi nó là một trong những loại phương
tiện GTVT cơ giới nói chung. Theo chúng tôi, phương tiện GTVT cơ giới
đường bộ có những đặc điểm riêng hết sức phức tạp sau:
12
- Phương tiện GTVT cơ giới đường bộ là một loại tư liệu sản xuất hoạt
động được nhờ động cơ, có giá trị sử dụng cao và được sử dụng phổ biến
trong lĩnh vực vận tải - một ngành sản xuất vật chất đặc thù chiếm một vị trí
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Đồng thời là một loại phương tiện giao
thông chủ yếu đáp ứng nhu cầu đi lại của con người. Khi sử dụng phương tiện
GTVT cơ giới đường bộ đòi hỏi các điều kiện về người sử dụng, điều kiện an
toàn kỹ thuật.
- Phương tiện GTVT cơ giới đường bộ là một loại phương tiện khi cho
chúng vận hành, hoạt động thì có thể gây nguy hiểm cao độ; cụ thể là có thể
gây thiệt hại lớn về tính mạng, sức khỏe cho những người xung quanh cũng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS, phương tiện GTVT cơ giới
là nguồn nguy hiểm cao độ. Theo tinh thần của quy định này phương tiện
GTVT cơ giới bao gồm các phương tiện cơ giới hoạt động trên đường bộ,
đường sắt, đường thủy và đường hàng không dùng vào hoạt động giao thông
đi lại của con người và vận chuyển hàng hóa.
Theo quy định của Điều 167 BLDS: "Quyền sở hữu đối với bất động
sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký bất
động sản. Quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác" [11] nên việc quy định phương tiện GTVT cơ
giới đường bộ phải đăng ký là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong
việc bảo đảm trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp, tạo môi
trường thuận lợi an toàn để chủ sở hữu thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân
sự một cách tự do, đúng pháp luật; khuyến khích, huy động các nguồn lực đầu
tư mua phương tiện hoặc đưa các phương tiện hiện có vào kinh doanh nhằm
thu lợi, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, thực hiện công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
Đăng ký phương tiện cơ giới đường bộ là "Việc chủ phương tiện cơ
14
giới đường bộ kê khai, xuất trình các giấy tờ liên quan đến việc sản xuất, mua
bán phương tiện cơ giới đó để cơ quan cảnh sát giao thông kiểm tra và xác
nhận quyền sở hữu hợp pháp của chủ phương tiện cơ giới” [20, tr.141]. Dưới
góc độ chung nhất là việc cơ quan có thẩm quyền chính thức ghi vào văn bản
những thông tin cần thiết một sự kiện là cơ sở phát sinh, thay đổi hay chấm
dứt những quan hệ pháp lý nhất định; là bằng chứng công nhận sự bắt đầu,
tồn tại hoặc chấm dứt một sự kiện, hiện tượng. Như vậy, có thể hiểu "đăng
ký" là một sự kiện pháp lý. Đối với phương tiện GTVT cơ giới đường bộ khi
"đăng ký" đồng thời với việc xác lập quyền sở hữu cũng đã dự liệu việc phát
cơ giới đường bộ như sau:
Phương tiện GTVT cơ giới đường bộ là các thiết bị chuyển động được
trên đường bộ nhờ động cơ của chính nó và do con người điều khiển tuân
theo những điều kiện an toàn, được dùng trong các hoạt động giao thông, vận
tải, thi công đường bộ nhưng có thể gây nguy hiểm cao độ đối với tính mạng,
sức khỏe của con người, cũng như có thể gây thiệt hại lớn đối với tài sản của
nhà nước, tổ chức và cá nhân.
Như vậy, phương tiện GTVT cơ giới đường bộ có đủ các điều kiện của
nguồn nguy hiểm cao độ và chúng ta có kết luận "phương tiện GTVT cơ giới
đường bộ là nguồn nguy hiểm cao độ".
1.1.4.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao
thông đường bộ do hành vi trái pháp luật của con người gây ra
Khi có thiệt hại xảy ra và xác định trách nhiệm thuộc về ai, cần xem xét
thiệt hại đó do nguyên nhân nào gây ra? Nguyên nhân đó do đâu mà có? Nếu
không xác định chính xác mối quan hệ nhân quả thì sẽ dẫn đến những sai lầm
khi xác định trách nhiệm bồi thường. Xe ô tô tự dưng nổ lốp gây tai nạn là
nguyên nhân gây thiệt hại sẽ khác với trường hợp người lái xe phóng nhanh,
vượt ẩu là nguyên nhân (hành vi của con người) gây tai nạn... Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ được áp dụng khi
16
thiệt hại là kết quả của sự tác động tự thân của nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra. Hay nói cách khác, hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ là nguyên nhân
tất yếu, nguyên nhân có ý nghĩa quyết định dẫn đến thiệt hại và thiệt hại xảy
ra là kết quả của hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ.
Sự khác nhau trong mối quan hệ nhân quả giữa bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra so với bồi thường thiệt hại do hành vi của
con người gây ra thể hiện ở chỗ: Nếu trong bồi thường thiệt hại do nguồn
pháp luật và gây thiệt hại, có nghĩa là phát sinh dưới sự tác động trực tiếp của
các quy phạm pháp luật, không có sự thỏa thuận trước của các chủ thể. Sự
thỏa thuận chỉ có thể có sau khi đã phát sinh TNBTTH.
Khi một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến tính mạng,
sức khỏe, tài sản cho người khác thì người thực hiện hành vi đó phải chịu
trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình. Hành vi đó có thể bị xử lý theo
pháp luật hành chính nếu xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật hành
chính bảo vệ; có thể bị xử lý theo pháp luật hình sự nếu có đủ yếu tố cấu
thành tội phạm; có thể chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo pháp luật dân sự.
Tuy nhiên, trong mọi trường hợp nếu hành vi đó gây thiệt hại thì người thực
hiện hành vi đó, phải chịu trách nhiệm bồi thường dù rằng họ đã phải chịu
trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự. Hậu quả bất lợi là việc
người gây thiệt hại buộc phải dùng tài sản của mình để bồi thường, bù đắp
những tổn thất mà mình đã gây ra cho người khác. Mức độ bồi thường đến
đâu phải căn cứ vào khối lượng của sự thiệt hại. Nếu mức độ tổn thất càng lớn
thì giá trị bồi thường càng nhiều.
Xuất phát từ cơ sở phát sinh như đã phân tích trên, TNBTTH trong
TNGTĐB, TNBTTH ngoài hợp đồng khác và TNBTTH do vi phạm hợp đồng
có một số điểm khác nhau như sau:
Thứ nhất, cơ sở phát sinh: TNBTTH do vi phạm hợp đồng là các bên
có quan hệ hợp đồng và một trong các bên không thực hiện hoặc thực hiện
18