MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước
phát triển đột phá. Các doanh nghiệp kinh doanh được chủ động sản xuất,
kinh doanh, và tự do cạnh tranh. Tuy nhiên để đảm bảo sự phát triển nền kinh
tế thị trường có sự định hướng của nhà nước thì chúng ta đã xây dựng một hệ
thống pháp luật tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động và là
cơ sở để nhà nước tiến hành hoạt động quản lý. Sự phát triển kinh tế thể hiện
qua hàng hoá, dịch vụ ngày càng được cung cấp đầy đủ, đa dạng hơn, đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. Đó là một thuận lợi rất lớn cho
NTD có thể lựa chọn hàng hóa, dịch vụ thích hợp với nhu cầu của mình. Tuy
nhiên bên cạnh những thuận lợi đó, NTD cũng gặp phải rất nhiều khó khăn
việc lựa chọn hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho mục đích tiêu dùng của mình.
Bởi sự đa dạng của chủng loại hàng hoá, dịch vụ đòi hỏi NTD phải có những
kiến thức tiêu dùng nhất định; ngoài ra một số loại hàng hoá, dịch vụ còn đòi
hỏi phải có kiến thức chuyên sâu mới có thể thẩm định về chất lượng của
chúng và sự quản lý, kiểm định chặt chẽ của nhà nước. Điều này thì không
phải mọi người tiêu dùng đều có thể đáp ứng, mặt khác điều kiện của nước ta
- xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp khi bước sang phát triển theo nền kinh
tế thị trường nên kỹ năng quản lý còn yếu kém. Lợi dụng điều đó, nhiều nhà
sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đã chạy theo lợi nhuận mà không tuân
thủ các quy định của nhà nước trong quá trình sản xuất và cung ứng ra thị
trường để cung cấp cho người tiêu dùng những hàng hoá không đảm bảo chất
lượng…và gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Vì vậy nhu cầu cần có một hệ
thống pháp lý để bảo vệ quyền lợi NTD nói chung và quyền được bồi thường
thiệt hại của NTD nói riêng là một nhu cầu cấp bách tồn tại song song vơi sự
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
1
xâm phạm. Theo quy định của pháp luật hiện hành khi quyền lợi của NTD
dùng bị xâm hại do việc sử dụng hàng hoá dịch vụ của nhà sản xuất, kinh
doanh họ có thể yêu cầu nhà sản xuất, kinh doanh hàng hoá BTTH cho mình
nếu hai bên không thể thoả thuận được cách bồi thường và mức bồi thường thì
NTD có thể khởi kiện ra toà. Và khi quyền và lợi ích của NTD bị xâm phạm
việc BTTH có thể giải quyết theo quy định pháp luật theo hợp đồng hoặc theo
quy định ngoài hợp đồng. Tuy nhiên nếu như các quy định của pháp luật về
BTTH cho NTD do vi phạm quyền lợi của họ trong hợp đồng khá chi tiết và
cụ thể thì quy định về BTTH cho NTD ngoài hợp lại rất chung chung và còn
nhiều bất cập. Hơn nữa việc BTTH cho NTD từ phía các doanh nghiệp là rất
hạn chế, một số các doanh nghiệp vì uy tín họ đền bù nhưng phần lớn thì lại
chây lì khi BTTH cho NTD. Vì vậy việc nghiên cứu vấn đề này không chỉ có
ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Chính vì vậy nhóm nghiên
cứu chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu là: "BTTH do vi phạm quyền lợi
NTD". Qua đó muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiện các quy
định của pháp luật về bảo vệ NTD.
2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
TNBTTH do vi phạm quyền lợi NTD là một đề tài rộng, được nhiều
ngành luật điều chỉnh như hình sự, hành chính, dân sự. Dưới góc độ luật hình
sự các nhà làm luật quan tâm tới hành vi vi phạm quyền lợi NTD gây ra các
hậu qủa nghiêm trọng cho xã hội và phải chịu TNHS, còn ở góc độ luật hành
chính các nhà làm luật quan tâm tới hành vi vi phạm quyền lợi NTD đó đã
làm trái các quy định gì của nhà nước về trật tự quản lý sản xuất, kinh doanh
còn trong luật dân sự thì quan tâm tới TNDS của nhà sản xuất, kinh doanh đối
với NTD đã bị thiệt hại do sử dụng hàng hoá, dịch vụ đó. Vì vậy trong phạm
vi có hạn của mình, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu và giải quyết một số vấn
đề chính liên quan đến vấn đề TNBTTH hại do vi phạm quyền lợi NTD như
cơ sở lý luận của TNBTTH ngoài hợp đồng và cơ sở lý luận của TNBTTH do
CHƯƠNG 1
NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BTTH DO VI PHẠM QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG
1.Nhận diện về TNBTTH ngoài hợp đồng, TNBTTH do vi phạm
quyền lợi người tiêu dùng ( NTD)
1.1.Nhận diện về TNBTTH ngoài hợp đồng
“TNBTTH ngoài hợp đồng” là những chế định quan trọng của luật
dân sự. Vấn đề này đã được các nhà luật học đề cập từ rất sớm để bảo vệ các
quyền cơ bản của con người như: quyền bất khả xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ, danh dự nhân phẩm,…quyền sở hữu tài sản. Vì vậy việc nghiên cứu sự
hình thành và phát triển của các khái niệm này từ đó hiểu và áp dụng thống
nhất các khái niệm này có ý nghĩa không chỉ về mặt lý luận mà cả về mặt thực
tiễn.
1.1.1.Khái niệm thiệt hại
Ngay từ thời La Mã cổ đại khái niệm về “thiệt hại” đã được các luật
gia La Mã đề cập tới và cho rằng khái niệm này được cấu thành bởi hai thành
phần. Thành phần thứ nhất là Damnumemrgens-sự thiệt hại, sự mất mát của
một bộ phận tài sản cụ thể. Thành phần thứ hai là Lucrum cessans-bỏ mất lợi
tức, sự mất mát tài sản có thể có nếu hoàn cảnh diễn ra bình thường
(1)
. Như
vậy về cơ bản thì luật La Mã xác định thiệt hại là những tổn thất mất mát về
tài sản đang có và sẽ có trong tương lai -thiệt hại mang tính tài sản. Chẳng
hạn, theo luật gia Gaius ông đã đưa ra một ví dụ: một nô lệ thuộc một nhóm
nhạc công nếu nô lệ này bị giết, thì khi xét BTTH phải lưu ý tới tình trạng cả
nhóm nhạc công nô lệ bị giảm giá trị do nguời nô lệ đó bị giết (2). Qua ví dụ
trường hợp bị phạt tù giam thì người bị thiệt hại cũng có quyền yêu cầu bồi
thường bằng tiền đối với những tài sản không mang tính tài sản.
2.Người phụ nữ cũng có quyền yêu cầu tương tự nếu người này bì
thiệt hại trong các trường hợp vi phạm đạo đức nghiêm trọng hoặc bị cưỡng
bức quan hệ tình dục ngoài hôn nhân bằng âm mưu thâm độc, bị đe doạ hoặc
lạm dụng mối quan hệ phụ thuộc.
Theo nghĩa hiểu thông thường thì “thiệt hại là những mất mát, hư
hỏng nặng nề về người và của”(2).
1()
2
Bộ luật Dân sự PHáp l999, Nxb chính trị Quốc Gia Hà Nội
Nguyễn Như Ý, Nxb.Thông tin Hà Nội, Đại Từ Điển Tiếng Việt, sđ d.tr 1570
6
Theo quan điểm pháp lý của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam thì:
“thiệt hại là tổn thất về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của cá
nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ”(3).
Ở Việt Nam thì truớc khi có bộ luật Dân sự chính thức quy định về
vấn đề này thì tồn tại hai quan điểm trái ngược về xác định thiệt hại phi tài
sản-thiệt hại về tinh thần…Quan điểm thứ nhất cho rằng thiệt hại tinh thần
không thể bồi thường vì tính mạng, tình cảm của con người là vô giá; do đó
không có căn cứ để xác định mức thiệt hại. Quan điểm thứ hai cho rằng thiệt
hại cả về vật chất và tinh thần đểu phải bồi thường vì mọi tính toán chỉ mang
tính tương đối, mà bản chất của BTTH đều là nhằm khắc phục hậu quả của
thiệt hại đã xảy ra. Quan điểm này đã được thừa nhận chính thức và được ghi
nhận trong Thông tư của Toà án Nhân dân Tối cao số 173/1972/TT-UBTP
ngày 23 tháng 03 năm 1972 hướng dẫn xét xử về BTTH ngoài hợp đồng (sau
bố một chân lý: “Tự do có nghĩa là có thể làm tất cả những gì mà không làm
thiệt hại đến người khác”.Tư tưởng ấy đã được áp dụng vào hoạt động lập
pháp của nhiều quốc gia sau này. Chẳng hạn Điều 4 của Tuyên ngôn nhân
quyền và dân quyền của nước Cộng hoà Pháp năm 1789 đã trích dẫn tư tưởng
này: “Tự do bao gồm quyền làm mọi điều không gây hại cho người khác. Như
vậy việc thực hành các quyền tự nhiên của mỗi người chỉ bị giới hạn trong
việc bảo đảm cho các thành viên của xã hội được hưởng các quyền đó. Các
giới hạn này chỉ có thể do pháp luật quy định”(1).Tư tưởng này khẳng định
việc thực hiện các quyền tự nhiên của mỗi người là “tự do”. Nhưng quyền tự
do này chỉ có thể được đảm bảo thực hiện và được thực hiện khi từng thành
viên trong xã hội thực hiện quyền của mình trên cơ sở đảm bảo cho các thành
viên khác cũng có được quyền này có nghĩa là không có tự do tuyệt đối mà
việc thực hiện quyền tự do của một thành viên bất kỳ trong xã hội phải bảo
đảm không xâm phạm đến tự do của các thành viên xã hội còn lại hay tự do
của họ có những giới hạn nhất định và giới hạn này phải do nhà nước-thông
qua pháp luật quy định nhằm đảm bảo sức mạnh cưỡng chế với tất cả mọi
người.
1
Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp
8
Trên thực tế ta cũng thấy rằng, việc thực hiện các quyền của từng cá
nhân này luôn chứa đựng những nguy cơ gây ảnh hưởng, tổn thất thậm chí
còn có thể gây thiệt hại cho người khác. Vì vậy việc được hưởng các quyền tự
do của con người là một nhu cầu khách quan thì cũng tồn tại song hành khả
năng xâm phạm đến quyền lợi của người khác. Vì vậy nó cần có một quy
bằng tài sản hay còn gọi là chế độ phục kim, có lợi cho người bị thiệt hại. Lúc
đầu thì việc phạt tài sản do người bị thiệt hại quy định với tính chất là sự
cưỡng chế cá nhân sau dần là hình thức phạt tiền BTTH do Pháp quan thay
mặt Nhà nước áp dụng theo quy định và trình tự tố tụng nhất định (2). Vào thế
kỷ thứ V và thứ VI sau công nguyên, có một bộ luật rất điển hình là Bộ luật
Xalic (Lox Salica) của quốc gia Frăng được ban hành và đầu thế kỷ thứ VI,
quy định bảo vệ những gia súc lớn, người gây thiệt hại phải bồi thường những
thiệt hại cụ thể về tài sản như người ăn trộm chó săn bị phạt 15 xôlit
(3)
, ăn
trộm bê sữa bị phạt 3 xôlit….Bộ luật này còn quy định TNBTTH về sức khoẻ,
tính mạng, danh dự của người khác khi bị xâm phạm.Chẳng hạn, trong trường
hợp giết một người Frăng tự do, họ hàng của anh ta chia nhau chịu một nửa
vecghen (tiền phạt về tội giết người)(4). Như vậy ta thấy việc BTTH được quy
định trong các bộ luật cổ là rất nghiêm khắc và thường mang tính trừng phạt
nặng nề hơn là tính khắc phục hậu quả như luật ngày nay.
Ở Việt Nam thời kỳ trước, trách nhiệm dân sự do hành vi gây thiệt hại
về tài sản, sức khoẻ, tính mạng cũng được pháp luật quy định từ rất sớm, như
ở trong Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ. Tuy nhiên những quy định về
chế định BTTH cũng mang nặng tính trừng phạt; Điều 579 của Quốc triều
hình luật có quy định: trong trường hợp người nhận giữ súc vật hoặc của cải
khác mà đem dùng hay tiêu đi thì phải bồi thường số tài sản đã tổn thất và
người gây hại còn phải phạt 80 trượng tính những của cải ấy trả cho người
có nợ, còn thừa thì trả cho người mắc nợ.Hay Điều 134 bộ luật Gia Long
cũng cấm các chủ nợ không được tự tiện bắt gia súc hay tài sản của con nợ và
không được bắt thân nhân của con nợ làm nô tì. Người gây thiệt hại có thể
1
và giữ nguyên giá trị khi được quy định lại tại Điều 307 bộ luật Dân sự 2005:
Trách nhiệm BTTH
1.Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường
thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bội thường thiệt hại bù đắp tổn thất về tinh
thần.
2.Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp
tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao
gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt
hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
3. Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến
tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc
5
Xem. Quốc Triều Hình Luật
11
chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường
một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại.
Như vậy ta có thể nêu ra định nghĩa về BTTH ngoài hợp đồng:“BTTH
ngoài hợp đồng là một HTTNDS nhằm buộc bên có hành vi gây thiệt hại
phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn
thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại.1
Điều kiện phát sinh TNBTTH: Qua nghiên cứu cho thấy hiện nay có
nhiều quan điểm khác nhau về điều kiện phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng.
Không chỉ giữa các luật gia của các quốc gia khác nhau trên thế giới có các
quan điểm khác nhau về điều kiện phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng mà các
luật gia trong nước ở các giai đoạn lịch sử khác nhau cũng có quan điểm khác
nhau về điều kiện phát sịnh TNBTTH ngoài hợp đồng. Theo bộ luật Dân sự
có quy định: “người nào gây thiệt hại đến ai bởi lỗi của mình thì người đó
buộc phải đền sự thiệt hại”(2) ( Điều 712, Bộ Dân luật Bắc kỳ, năm 1931).
Theo quy định này thì TNBTTH ngoài hợp đồng phát sinh khi có đủ ba điều
kiện: có thiệt hại xảy ra trên thực tế, có lỗi, và có mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi của người gây thiệt hại và hậu quả thiệt hại xảy ra trên thực tế. Như
vậy theo quy định này thì một người khi gây thiệt hại trong trường hợp hợp
pháp cũng phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Chẳng hạn một người
trong trường hợp phòng vệ chính đáng: để bảo vệ lợi ích của bản thân mình,
chống trả lại hành vi của người khác đang làm tổn hại đến lợi ích của mình
như để chống lại người đang có hành vi tấn công mình thì gây ra một thiệt hại
với lỗi cố ý, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả,
có thiệt hại xảy ra trên thực tế. Theo sách Dân luật tu trị, xuất bản tại Sài Gòn
1961, tác giả Phan Văn Thiết đã đưa ra năm điều kiện phát sinh TNBTTH
ngoài hợp đồng bao gồm: lỗi, sự thiệt hại, sự liên quan giữa thiệt hại và lỗi, sự
bắt chịu trách nhiệm, xác định lỗi của người bị thiệt hại. Theo đó thì ba điều
kiện đầu cũng giống với quy định của pháp luật nước ta hiện nay tuy nhiên nó
còn được hiểu ở mức độ sơ sài hơn (3). Điều kiện thứ tư nói rằng nếu tự do làm
1
Theo Ts Nguyễn Thanh Hồng trong LA Tiến sĩ luật học 2001, về TNBTTH trong các vụ tai nạn GTĐB thì
thực chất chúng là TNBTTH ngoài hợp đồng
2
Xem bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931
3
Nguyễn Thanh Hồng, Luận án Tiến sĩ Luật học, TNBTTH trong các vụ tai nạn GTĐB, sd d.tr21
13
mới phải chịu trách nhiệm còn nếu là ngẫu nhiên hay bất khả kháng thì không
trường hợp cần thiết do luật pháp quy định mà gây thiệt hại, thì không coi là
trái pháp luật. Nhưng nếu hành vi của người đó vượt quá giới hạn luật pháp
quy định, thì lại coi là trái pháp luật.
3- Phải có quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.
Thiệt hại xảy ra phải đúng là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật; hay
ngược lại, hành vi trái pháp luật thực sự là nguyên nhân trực tiếp, hoặc là
nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại đã xảy ra. Có trường hợp,
tuy hành vi trái pháp luật không phải là nguyên nhân trực tiếp của thiệt hại
xảy ra, nhưng lại có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại và được coi là quan
hệ nhân quả với thiệt hại.
4- Phải có lỗi của người gây thiệt hại. Người gây thiệt hại phải nhận
thức hoặc có thể nhận thức được rằng hành vi của mình là trái pháp luật và có
thể gây ra thiệt hại cho người khác: cố ý hay vô ý đều là có lỗi.
Đây là cơ sở của việc xét xử khi chưa có bộ luật dân sự. Khi bộ luật
dân sự ra đời thì tư tưởng này tiếp tục được kế thừa. Các nhà luật gia Việt
Nam hiện nay thừa nhận điều kiện phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng bao
gồm bốn điều kiện: có thiệt hại xảy ra; có hành vi trái pháp luật, có lỗi của
chủ thể gây thiệt hại và có quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu
quả xảy ra. Các yếu tố này sẽ được phân tích kỹ trong phần xác định điều
kiện phát sinh TNBTTH do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng. Ngoài ra thì
pháp luật Dân sự Việt Nam cũng đưa ra một số trường hợp ngoại lệ, trong đó
không có lỗi thì chủ thể gây thiệt hại cũng phải bồi thường thiệt hại như
trường hhợp bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
(Điều623) và bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường (Điều 624, Bộ
luật Dân sự năm 2005).
1.2. Nhận diện về TNBTTH do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng
15
Nxb. Từ điển tiếng Việt, 2000, sđ d.tr 990
Điều 1, Pháp lệnh bảo vệ NTD số 13/1999/PL-UBTVQH
16
tư cách là tập hợp các cá nhân và sử dụng vì mục đích không phải là kinh
doanh, vì mục đích lợi nhuận cũng không được coi là NTD. Khi họ sử dụng
hàng hoá dịch vụ vì mục đích sinh hoạt mà bị thiệt hại thì áp dụng quy định
nào để BTTH cho họ; khi họ không sử dụng hàng hoá, dịch vụ với mục đích
kinh doanh, vì lợi nhuận.
Theo Luật Tiêu dùng của Cộng hoà Liên Bang Đức, NTD là người sử
dụng hàng hoá, dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của cá nhân hoặc của gia
đình, nói cách khác đó là NTD cuối cùng.
Theo Luật tiêu dùng của Cộng hoà Pháp thì NTD được hiểu không là
chủ doanh nghiệp, tức là thể nhân mua các sản phẩm và dùng các dịch vụ
không nhằm mục đích hoạt động nghề nghiệp, kiếm lợi nhuận để phục vụ cho
gia đình hoặc bản thân.
Theo Luật BVNTD của Đài Loan thì “NTD là người tham gia vào các
giao dịch, sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng” (Khoản 1,
Điều 2, Luật BVNTD của Đài Loan).(1)
Tóm lại tuy cách định nghĩa về thuật ngữ “NTD” của các nước khác
nhau có sự khác nhau nhưng đều thống nhất ở một điểm, và ta có thể định
nghĩa NTD phải là những người sử dụng hàng hoá dịch vụ vì mục đích tiêu
dùng cho cuộc sống cá nhân, không vì mục đích lợi nhuận.
1.2.2.Quyền lợi người tiêu dùng
Pháp luật bảo vệ NTD Việt Nam đã công nhận các quyền của NTD mà
Liên Hợp Quốc đã công nhận cho toàn thể NTD trên thế giới.Và được cụ thể
hoá qua các quy định của pháp luật.Bao gồm các quyền sau:
Điều 8
hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.
Người tiêu dùng trực tiếp hoặc thông qua đại diện để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình.1
Tóm lại khi tham gia vào quá trình tiêu dùng NTD được hưởng 8
quyền sau:
1
Xem pháp lệnh số 13/1999/PL-UBTVQH về bảo vệ quyền lợi NTD
18
Một là quyền được thoả mãn các nhu cầu cơ bản là quyền có được
những hàng hoá dịch vụ thiết yếu, nơi ở, chăm sóc sức khoẻ, nhu cầu tinh
thần… với giá cả hợp lý;
Hai là quyền được bảo đảm an toàn có nghĩa là quyền có được các
hàng hoá, dịch vụ an toàn, không gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ cả
trước mắt và lâu dài;
Ba là quyền được cung cấp thông tin có nghĩa là NTD được cung cấp
các thông tin trung thực, chính xác và đầy đủ về các hàng hoá, dịch vụ để có
thể lựa chọn hàng hoá dịch vụ một cách khách quan, chính xác. Quyền này
còn bao gồm cả việc được bảo vệ chống lại các thủ đoạn dối trá, lừa đảo, các
quảng cáo lừa dối;
Bốn là quyền được lựa chọn tức là quyền của NTD được lựa chọn các
loại hàng hoá, dịch vụ mình cần một cách trung thực, không bị ép buộc, lừa
dối hoặc làm lạc hướng với chất lượng phù hợp với giá cả;
Năm là quyền được lắng nghe hay còn gọi là quyền được được đại
diện, quyền được bày tỏ ý kiến của NTD. Quyền được lắng nghe là quyền
được bày tỏ ý kiến của NTD đối với việc hoạch định chủ trương chính sách có
dạng của hàng hoá, dịch vụ và khả năng quản lý còn hạn chế của Nhà nước
nên nhiều nhà sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thiếu đứng đắn, bất
chấp đạo đức nghề nghiệp để chạy theo lợi nhuận; họ đã không tuân thủ đầy
đủ các quy định của pháp luật và xâm phạm đến lợi ích của người tiêu dùng.
Cụ thể:
Hành vi gian lận về tiêu chuẩn đo lường, về chất lượng hàng hoá, giá
cả…
Hành vi sản xuất hàng giả, hàng nhái;
Hành vi sản xuất những sản phẩm có thể gây nguy hại trực tiếp đến
tính mạng, sức khoẻ….của NTD;
Hành vi lừa dối NTD: có thông tin, quảng cáo thiếu chính xác, sai sự
thật về hàng hoá, dịch vụ gây phương hại đến lợi ích của NTD- tính mạng,
sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín….
20
Như vậy hành vi xâm phạm quyền lợi NTD là: các hành vi vi phạm
pháp luật không đáp ứng đầy đủ các quyền lợi của NTD theo quy định của
pháp luật và có thể gây phương hại đến quyền lợi của NTD.
1.2.4. TNBTTH do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng
Trong nền kinh tế thị trường và đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc
tế ngày nay thì nhu cầu của NTD ngày càng được đáp ứng tốt hơn với các mặt
hàng hoá và dịch vụ ngày càng đa dạng, phong phú. Đồng thời nó cũng chứa
đựng sự phức tạp và khả năng bị xâm phạm quyền lợi lớn hơn khi mà năng
lực quản lý của nhà nước còn nhiều hạn chế. Vì vậy khi quyền lợi NTD bị
xâm phạm thì cần có khung pháp lý để đòi lại quyền lợi của họ và nó cũng
tạo ra chế tài thích đáng cho các nhà sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho NTD. Như vậy TNBTTH do vi
phạm quyền lợi NTD là một trách nhiệm pháp lý do nhà nước trực tiếp điều
quan hệ với nhau qua một hợp đồng, các chủ thể này đã dự liệu và thoả thuận
trước về những thiệt hại và mức BTTH các biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ bồi thường (điều 401 Bộ luật Dân sự 1995, Điều 402 bộ Luật Dân sự
năm2005). Còn đối với TNBTTH ngoài hợp đồng thì giữa các chủ thể của
quan hệ pháp luật này trước đó chưa hề có quan hệ hợp đồng với nhau hoặc
nếu có quan hệ thông qua một hợp đồng thì nội dung của hợp đồng này không
liên quan đến thiệt hại phát sinh và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ở đây.
Việc xảy ra thiệt hại là ngoài ý chí của các chủ thể. Vì vậy hai bên chỉ đặt ra
vấn đề thoả thuận về BTTH và mức BTHH khi sự kiện gây thiệt hại đã xảy ra.
Đây là đặc điểm có tính tiên quyết đến các đặc điểm khác của hai hình thức
BTTH này. Ví dụ: Chị B là chủ một cửa hàng bán thực phẩm đông lạnh. Cửa
hàng chị luôn cam kết với mọi khách hàng hàng là bán hàng hoá đảm bảo chất
lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm. Bà B là một khách hàng quen của cửa
hàng chị B, tin tưởng vào uy tín của chị. Ngày 02/02/2009 bà đã mua 1kg tôm
sú đông lạnh tại cửa hàng chị B. Khi về bỏ ra chế biến thì phát hiện tôm đã bị
22
rữa ở bên trong. Như vậy theo thoả thuận của hợp đồng mua bán giữa bà B và
chị A thì bà B có quyền yêu cầu chị A đổi sản phẩm khác đảm bảo chất lượng,
yêu cầu BTTH nếu có…theo thoả thuận của hợp đồng mua bán đã giao kết.
Tuy nhiên trong trường hợp nếu bà B không phát hiện ra tôm bị hỏng, vẫn
chế biến cho cả nhà ăn và cả gia đình bà đều có dấu hiệu bị ngộ độc thực
phẩm và phải vào bệnh viện cấp cứu. Xét nghiệm cho thấy gia đình bà B ăn
phải thực phẩm bị biến chất và bị nhiểm khuẩn. Khi đó, không phát sinh
TNBTTH theo hợp đồng mà phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng do chị A đã
bảo quản tôm không tốt, để quá hạn sử dụng….dẫn đến gây thiệt hại cho gia
đình bà B. Do đó chị A phải có TNBTTH toàn bộ chi phí: viện phí, tiền
thuốc… để chữa trị cho gia đình bà B.Qua ví dụ này ta thấy giữa bà B và chị
không cần có lỗi, tức là việc gây thiệt hại có thể do hành vi của người khác
nếu các bên trong hợp đồng có sự thoả thuân về TNBTTH khi có thiệt hại xảy
ra; còn TNBTTH do vi phạm quyền lợi NTD ngoài hợp đồng chỉ xuất hiện
khi chủ thể gây thiệt hại có lỗi.
Đặc điểm khác biệt thứ tư mà ta có thể phân biệt được hai hình thức
TNBTTH này là thời điểm phát sinh TNBTTH. Trong việc TNBTTH do vi
phạm hợp đồng thì thời điểm xác định nghĩa vụ và thời điểm phát sinh
TNBTTH là khác nhau ( thời điểm phát sinh nghĩa vụ là thời điểm hợp đồng
có hiệu lực, còn thời điểm phát sinh TNBTTH là thời điểm xảy ra sự vi phạm
các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng và gây thiệt hại cho chủ thể kia);
còn đối với TNBTTH ngoài hợp đồng thì hai thời điểm này dường như xuất
hiện đồng thời. Khi quyền lợi của NTD bị xâm phạm và dẫn đến có thiệt hại
xảy ra trên thực tế thì phát sinh TNBTTH của các tổ chức, cá nhân sản xuất,
kinh doanh đã có hành vi xâm hại đó.
Ngoài ra còn có một số điểm khác biệt giữa hai hình thức này đó là
mức tiền bồi thường, hình thức bồi thường… chẳng hạn đối với trường hợp vi
phạm hợp đồng ngoài tiền bồi thường thiệt hại hai bên còn có thể quy định
mức tiền phạt vi phạm mà không cần căn cứ vào thiệt hại thực tế xảy ra, còn
đối với TNBTTH ngoài hợp đồng thì không có chế định này.
24
1.4. Ý nghĩa các quy định của pháp luật về TNBTTH do vi phạm
quyền lợi NTD
Tiêu dùng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh tế xã hội. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường thì thị trường được điều tiết bởi
chính tiêu dùng. Nó là mục đích cuối cùng của mọi hoạt động đó là đáp ứng
ngày càng tốt hơn nhu cầu của con người cả về vất chất và tinh thần. Tuy
nhiên do nước ta mới bước và nền kinh tế thị trường, mở cửa nền kinh tế để
hội nhập với thế giới; mặt khác nước ta xuất phát điểm từ một nước nông