BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
TÓM TẮT LUẬN ÁN TỐT NGHIỆP TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC ĐẤT
MÃ NGÀNH: 62 62 01 03
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CUNG CẤP LÂN TRONG ĐẤT TRÊN
MỘT SỐ VÙNG TRỒNG RAU MÀU TRỌNG ĐIỂM Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
PHẠM THỊ PHƯƠNG THÚY
2015
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
…………………………………
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Mỹ Hoa
Phản biện 1:
..........................................................................................
Phản biện 2:
..........................................................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường
Họp tại …………………………………………………...
Vào hồi …… giờ ……… ngày …… tháng ….. năm …..
ĐBSCL đạt hiệu quả cao.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng sử dụng phân lân trên một số vùng trồng rau
màu trọng điểm ở ĐBSCL.
- Đánh giá hiện trạng chất lân và các thành phần lân trong đất.
- Khảo sát khả năng hấp phụ, phóng thích lân trong đất.
- Đánh giá sự đáp ứng của cây trồng đối với phân lân.
-1-
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đất nghiên cứu bao gồm 123 mẫu đất trồng rau màu thuộc nhóm
đất Fluvisols, Gleysols và Arenosols tại bốn tỉnh Cần Thơ, An Giang, Vĩnh
Long và Trà Vinh.
Nghiên cứu sử dụng bắp rau và bắp nếp để đánh giá khả năng
đáp ứng của cây trồng đối với phân lân ở các liều lượng khác nhau
trên các nhóm đất có hàm lượng lân dễ tiêu từ thấp đến cao.
1.4 Những điểm mới của luận án
Nghiên cứu đã phát hiện có tích lũy lân cao trên nhóm đất
Fluvisols, Gleysols và Arenosols tại các vùng trồng rau màu trọng điểm ở
ĐBSCL do bón nhiều phân lân, có 94,31% đất khảo sát có hàm lượng lân
dễ tiêu trung bình đến giàu theo phương pháp Bray1.
Nghiên cứu cũng khẳng định thành phần lân vô cơ trong các nhóm
đất trồng rau trọng điểm ở ĐBSCL chủ yếu là hợp chất lân sắt. Thành phần
lân bị hấp phụ hấp phụ trên bề mặt của các hợp chất oxide và hydroxide
sắt, nhôm và trên bề mặt ngoài của các phiến sét chiếm tỷ lệ cao và có mối
tương quan chặt với hàm lượng lân dễ tiêu trong đất. Do đó có khả năng
cung cấp lân cho cây trồng khi nguồn lân hữu dụng bị cạn kiệt.
trong canh tác rau màu là rất cao. Theo kết quả của Nguyễn Mỹ Hoa và
Đặng Duy Minh (2006) cũng cho thấy ở nhiều ruộng khảo sát trong vùng
trồng rau chuyên canh ở Tiền Giang, hàm lượng lân dễ tiêu (Bray1) đạt rất
cao (129 – 234,5 mgP/kg) do nông dân trong vùng khảo sát đã sử dụng
lượng phân lân rất cao (100 -150 kgP2O5/ha). Theo Phan Thị Công và ctv
(2005) một số loại đất vùng Đông Nam Bộ đã có hiện tượng phú dưỡng lân
trong đất. Kết quả nghiên cứu của Trần Minh Tiến và ctv (2013) về biến
động một số tính chất đất trồng lúa vùng ĐBSH và ĐBSCL cho thấy, hàm
lượng lân tổng số trên đất lúa đã tăng lên dao động từ 0,08 – 0,13 %P2O5
với lượng gia tăng tương ứng từ 0,02 – 0,06 %P2O5 giai đoạn từ năm 1975
đến năm 2005.
2.3 Khả năng hấp phụ và phóng thích lân trong đất
Zhou và Li (2001) đã tìm thấy trên đất trồng rau màu hàm lượng
lân hấp phụ tối đa theo Langmuir là 691-1.664 mgP/kg. Theo Võ Đình
Quang và ctv (1995), ở ĐBSCL đất phèn có hàm lượng lân hấp phụ tối đa
cao nhất là 1.134 – 2.656 mgP/kg, đế đến là đất phù sa từ 1.101 – 1.920
mgP/kg và thấp nhất là đất xám bạc màu từ 351 – 791 mgP/kg. Theo Penn
và ctv (2001) đất giàu vật liệu chứa canxi thì có khuynh hướng phóng thích
lân từ hợp chất Ca-P trong khi đất giàu vật liệu chứa nhôm, sắt thì có
khuynh hướng thúc đẩy sự hấp phụ lân. Nghiên cứu của Villapando và
Graetz (2001) cho rằng khả năng hấp phụ lân cũng chịu ảnh hưởng bởi
nhiều yếu tố như điều kiện yếm khí hay hiếu khí, hàm lượng nhôm trong
-3-
đất. Trong đó phản ứng hấp phụ bị ảnh hưởng rất lớn bởi nhôm chiếm
khoảng 60% tổng số lân hấp phụ. Kết quả nghiên cứu của Penn và ctv
(2005) cho thấy khoáng geothite có % hấp phụ cao nhất, kế đến là khoáng
Hematite, Gibbsite và thấp nhất là khoáng kaolinite. Nghiên cứu của Trần
Thị Tường Linh (2014) cũng tìm thấy khả năng hấp phụ lân tương quan
với phân lân và kali rất thấp. Theo Võ Thị Gương và ctv (2008) thí nghiệm
-4-
khảo sát bón kết hợp phân hữu cơ bã bùn mía với nhiều công thức phân
khác nhau, kết quả cho thấy năng suất và sinh khối của bắp giữa hai
nghiệm thức bón theo nông dân và bón theo khuyến cáo tương đương nhau
không có sự khác biệt lớn. Thí nghiệm của Nguyễn Đức Toàn (2008) khảo
sát hiệu quả của NPK và mật độ trồng trên sinh trưởng và năng suất của
bắp lai trên đất có hàm lượng lân dễ tiêu thấp ở Tân Châu – An Giang cho
thấy có sự giảm năng suất khoảng 10 – 15% khi không bón phân lân. Các
tham khảo về chất lân trong đất làm cơ sở khoa học cho việc lý giải và
quản lý chất lân trong đất chưa được thực hiện nhiều. Do đó, việc nghiên
cứu đánh giá về hiện trạng chất lân trong đất và khả năng cung cấp lân
trong đất đặc biệt là trên đất trồng màu ở ĐBSCL là cần thiết nhằm làm cơ
sở cho việc khuyến cáo liều lượng bón phân lân trên các nhóm đất có hàm
lượng lân dễ tiêu khác nhau.
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện trên đất trồng rau màu có hàm lượng
lân dễ tiêu từ trung bình đến cao thuộc nhóm đất Fluvisols, Gleysols và
Arenosols tại Thốt Nốt – Cần Thơ, Chợ Mới – An Giang, Bình Tân – Vĩnh
Long và Châu Thành – Trà Vinh. Luận án được thực hiện trên năm nội
dung nghiên cứu, thí nghiệm trong chậu và thí nghiệm ngoài đồng. Nội
dung nghiên cứu được tóm tắt trong sơ đồ ở Hình 3.1
Hình 3.1 Lược đồ các nội dung nghiên cứu
-5-
dịch 0,5M NH4F pH = 8,2, trích Fe-P bằng dung dịch 0,1M NaOH, trích
Ca-P bằng dung dịch 0,25M H2SO4. P hữu cơ được xác định là hiệu số
giữa P trong mẫu đất nung ở 5500C và mẫu đất không nung khi trích bằng
1N H2SO4 .
- Xác định thành phần lân theo Hedley (1982)
-6-
Thành phần Pi và Po được trích theo trình tự bởi các dung dịch có
sức ly trích tăng dần. Đối với mỗi bước trích, Pi trong dung dịch trích được
đo bằng phương pháp so màu (Murphy & Riley, 1962). Po được tính thông
qua hiệu của Pt – Pi. Trong đó Pt (tổng Pi và Po trong mỗi bước trích) của
dung dịch trích được đo bằng phương pháp so màu sau khi vô cơ dung dịch
trích bằng potassium persulfate K2S2O8 hay ammonium persulfate
(NH4)2S2O8 trong môi trường acid. H2O-Pi: trích bằng nước khử khoáng;
NaHCO3-Pi và NaHCO3-Po: Trích bằng dung dịch 0,5N NaHCO3 pH 8,5
sau khi trích bằng nước khử khoáng; NaOH-Pi và NaOH-Po: Trích bằng
0,1N NaOH; HCl-Pi: Trích bằng 1N HCl sau khi trích 0,1N NaOH và ResP: Trích được sau khi vô cơ hoá phần đất còn lại với H2SO4 đđ + H2O2 sau
khi trích P qua các bước trên.
2.2.3 Nghiên cứu 3: Xác định khả năng hấp phụ lân trong đất trồng
rau màu trọng điểm ở ĐBSCL
Nghiên cứu được thực hiện trên 19 mẫu đất có hàm lượng lân dễ
tiêu từ thấp đến cao cùng mẫu với đất thí nghiệm khảo sát thành phần lân
của nghiên cứu 2. Sự hấp phụ lân được xác định theo qui trình phân tích
của Houba et al (1995) và mối liên hệ giữa lượng lân hấp phụ và nồng độ
lân trong dung dịch đã cân bằng được mô tả bằng đường cong của phương
trình Langmuir.
C 1
1
Nghiên cứu được thực hiện trên 40 mẫu đất, mỗi tỉnh chọn 10 mẫu
có hàm lượng lân từ thấp đến cao. Thí nghiệm được thực hiện 5 vụ liên
tiếp trong nhà lưới của Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng – Trường
Đại học Cần Thơ từ tháng 1/2009 đến 9/2011. Giống nghiên cứu là giống
bắp rau có tên thương mại là Amazing (râu trắng) được bố trí thí nghiệm 3
vụ và giống bắp nếp lai đơn có tên thương mại là F1 MX10 được bố trí 2
vụ còn lại . Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu
nhiên 3 lần lặp lại. Các nhân tố thí nghiệm bao gồm: Có bón (90
kgP2O5/ha) và không bón lân. Phân N và K bón ở liều lượng 150 kgN/ha
và 60 kgK2O/ha. Các chỉ tiêu khảo sát gồm năng suất trái, hàm lượng lân
trong lá mang trái và tổng thu hút lân.
2.2.5.2 Nghiên cứu đồng ruộng sự đáp ứng của bắp đối với phân
Nghiên cứu được thực hiện trên 6 hộ dân tại xã Mỹ An huyện Chợ
Mới tỉnh An Giang được thực hiện từ từ tháng 1/2009 đến 9/2011 qua từ 1
đến 2 vụ canh tác trên mỗi điểm nghiên cứu. Đất nghiên cứu có hàm lượng
lân dễ tiêu trong đất từ thấp đến cao. Giống nghiên cứu cũng là giống bắp
rau và bắp nếp như thí nghiệm nhà lưới. Thí nghiệm được bố trí theo thể
thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm từ 3-4 nghiệm thức và 3 lần lặp lại.
Diện tích mỗi lô thí nghiệm từ 33 – 47 m2. Trên bắp rau thì các nghiệm
thức và liều lượng bón lân từ 45, 90, 130, 400 kgP2O5/ha tùy theo theo
từng mùa vụ. Đối với phân đạm và kali thì cố định ở liều lượng 180 kgN
và 60 kgK2O. Trên bắp nếp các nghiệm thức và liều lượng bón lân từ 45,
90, 130, 400 kgP2O5/ha tùy theo theo từng mùa vụ. Đối với phân đạm và
-8-
kali thì bón ở liều lượng 160 kgN và 90 kgK2O. Các chỉ tiêu khảo sát gồm
năng suất trái, hàm lượng lân trong lá mang trái và tổng thu hút lân.
2.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Phân tích thống kê bằng phần mềm Minitab: Phân tích Anova
– Cần Thơ
Lượng lân sử dụng (kg P2O5/ha)
TT Loại rau màu
Thấp nhất Số trung vị
Trung bình Cao nhất
1
Hẹ *
140
642,8
632,1
1533
2
Rau thơm
180
208,5
193,8
366,5
3
Rau cần
0
167
198,8
390
Ghi chú: Lượng lân nguyên chất bón cho hẹ được tính trong 1 năm canh tác (7 lần
cắt/năm) diện tích 1ha
Nhìn chung, nông dân trồng rau màu ở ĐBSCL đã sử dụng phân
lân cao hơn so với khuyến cáo từ 50 – 80% có thể do ngoài việc cung cấp
cho cây trồng, nông dân bón lân để hạ phèn bên cạnh đó triệu chứng thừa
lân trên cây trồng cũng rất khó phát hiện.
Đánh giá Phân bố các cấp lân (%)
Thốt Nốt Cân Thơ
0,074 ± 0,013
0,048 ± 0,004
-
Chợ Mới –
An Giang
0,074 ± 0,009
0,052 ± 0,004
0,030 ± 0,004
Giàu
Khá
Trung
bình
Giàu
Khá
Trung
bình
Giàu
65,63
34,38
-
Khá
54,84
9,68
26,67
60
20
20
4.2.1.2 Sự phân bố các cấp lân dễ tiêu và hàm lượng lân dễ tiêu trong
đất
Kết quả trình bày ở Bảng 4.3 và Bảng 4.4 cho thấy, đất trồng rau
màu ở ĐBSCL có hàm lượng lân dễ tiêu cao và cả 2 phương pháp đều
giống nhau là không tìm thấy mẫu đất có hàm lượng lân đạt ở mức rất thấp.
Nghiên cứu của Nguyễn Mỹ Hoa và Đặng Duy Minh (2006), Bộ môn
- 11 -
Nông học NCDA & CS (2007) cũng tìm thấy rất giàu lân dễ tiêu trong đất
nông nghiệp có thể do bón nhiều lân trong quá trình canh tác.
Bảng 4.3 Sự phân bố (%) các cấp đánh giá lân trong đất trồng rau tại 123
mẫu khảo sát
Đánh giá theo Bray 1
Đánh giá theo Olsen
Phương pháp
(% số mẫu khảo sát)
(% số mẫu khảo sát)
Cao
73,98 Rất cao
88,48
Khi phân tích tương quan 123 mẫu khảo sát với lân tổng số, kết
quả cũng đã tìm thấy mối tương quan chặt giữa hàm lượng lân tổng số với
hàm lượng lân Bray1 và Olsen với hệ số tương quan r = 0,65** và r =
0,64** theo tự và tương quan chặt giữa Bray1 và Olsen với r = 0,82**. Bên
cạnh đó, đất nghiên cứu có pHH2O < 7 dao động từ 4,91 – 6,99. Vì vậy,
nghiên cứu chọn phương pháp phân tích lân dễ tiêu Bray1 để đánh giá hàm
lượng lân dễ tiêu trong đất trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL và sử dụng
để phân tích tương quan và đáp ứng của cây trồng đối với phân lân trong
nghiên cứu này.
4.2.2 Khảo sát các thành phần lân trong đất trồng rau màu trọng điểm
ở ĐBSCL
4.2.2.1 Khảo sát thành phần lân trong đất trồng rau màu trọng điểm ở
ĐBSCL theo phương pháp Chang – Jackson
Kết quả trình bày ở Bảng 4.5 cho thấy, trên các nhóm đất nghiên
cứu Fluvisols, Gleysols và Arenosols có thành phần lân Fe-P và Al-P là
- 12 -
dạng lân chủ yếu chiếm tỷ lệ lần lượt là 40,7 và 13,2% và có mối tương
quan chặt với hàm lượng lân dễ tiêu Bray1 với hệ số tương quan lần lượt là
r = 0,64*** và r = 0,90***, thành phần lân Ca-P có tương quan yếu với lân
dễ tiêu với r = 0,38* và thành phần lân hữu cơ không tương quan với lân
dễ tiêu. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Trần Thành Lập
(1990) cho rằng đất ĐBSCL thành phần lân (Fe-P) nhiều hơn thành phần
lân (Al-P) và lân (Ca-P). Abolfazli et al (2012) cũng tìm thấy hàm lượng
Fe-P và Al-P cao trên đất chua trong khi hàm lượng Ca-P được tìm thấy
trên đất kiềm. Lacedar et al (2013) tìm thấy Al-P và Fe-P có mối tương
quan với P dễ tiêu trích bằng dung dịch kiềm (P Olsen) trong khi Ca-P có
mối tương quan với P trích bằng dung dịch acid (Mehlich 1 và citric acid).
Bảng 4.5 Sự phân bố thành phần lân theo phương pháp Chang-Jackson trên
146,6±43,7
0,89**
0,84*
- 0,36ns
- 0,44ns
0,63ns
3,7±4,2
59,5±42,9
219,1±102,9
88,9±57,4
187,5±94,1
0,82**
0,99**
0,88**
0,82**
4,9±3,4
36,9±23,9
145,3±81,0
66,9±50,0
101,5±78,8
ns
ns
ns
ns
0,78 ns
0,53
Hệ số tương quan (r)
TB CT
29,4±16,4
Hệ số (r)
0,61
Tỷ lệ (%)
0,90
0,64
0,16
Ghi chú: Kiểm định T-Test: ns,*, **, ***: không khác biệt, khác biệt mức ý nghĩa 5%,
1%, 0,1%.
r là hệ số tương quan của các thành phần lân với lân dễ tiêu
Tóm lại, thành phần lân sắt và nhôm chiếm tỷ lệ cao và có tương
quan với hàm lượng lân dễ tiêu trong đất, Thành phần lân hữu cơ không
tương quan nhưng chiếm tỷ lệ cao. Điều này có thể góp phần giải thích sự
không đáp ứng của cây trồng đối với phân lân trên một số đất có hàm
lượng lân dễ tiêu thấp nhưng có hàm lượng lân hữu cơ dễ phân hủy cao.
- 13 -
4.2.2.2 Khảo sát thành phần lân trong đất trồng rau màu trọng điểm ở
ĐBSCL theo phương pháp Hedley
a. Thành phần lân dễ tiêu trong đất trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL
theo phương pháp Hedley
Kết quả phân tích các thành phần lân dễ theo theo phương pháp
Hedley được trình bày ở Bảng 4.6 cho thấy, thành phần NaHCO3-Pi có
hàm lượng cao nhất, kế đến là lân H2O-P và thấp nhất là NaHCO3-Po,
trong đó lân H2O-P và lân NaHCO3-Pi chiếm khoảng 21,2% trong tổng các
thành phần lân và có mối tương quan chặt với hàm lượng lân dễ tiêu trong
đất với r=0,75** và r=0,89** theo thứ tự.
17,1
TN10
120,03
45,8
181,0
47,5
CM3
15,59
5,1
51,3
1,8
CM7
47,34
20,9
108,9
63,3
BT10
76,91
37,0
171,5
17,0
CT1
12,7
7,9
6,0
2,1
CT4
38,08
22,7
39,6
Hệ số tương quan (r)
b. Thành phần lân khó tiêu trong đất trồng rau màu ở ĐBSCL theo phương
pháp Hedley
Kết quả phân tích các thành phần lân dễ theo theo phương pháp
Hedley được trình bày ở Bảng 4.7 cho thấy:
- 14 -
Hàm lượng lân NaOH-Pi trong đất ở 4 tỉnh gia tăng với sự gia tăng
hàm lượng lân dễ tiêu trong đất và chiếm tỷ lệ cao nhất đạt 28,6% tổng lân
và có tương quan tuyến tích với hàm lượng lân dễ tiêu Bray1 trong đất với
r = 0,56**. Theo Zang et al (2004), sự lưu tồn phân lân trong đất sẽ làm gia
hàm lượng NaOH-Pi và có khả năng cung cấp lân từ từ cho cây trồng từ
các dạng này. Hàm lượng lân này đạt cao ở Thốt Nốt, Chợ Mới, Bình Tân
và đạt rất thấp ở Châu Thành có thể do đa số là đất pha cát nên khả năng
hấp phụ lân kém, do đó hàm lượng lân NaOH-Pi đạt thấp.
Bảng 4.7 Thành phần lân khó tiêu theo phương pháp Hedley trên các loại
đất trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL
Thành phần lân khó tiêu (mgP/kg)
Bray1
(mg/kg)
NaOH-Pi
NaOH-Po
120,03
277,5
3,0
67,3
CM3
15,59
136,8
25,2
CM7
47,34
119,7
45,3
5,6
213,6
120,2
341,8
5,1
20,1
121,7
BT10
CT1
CT4
76,91
12,7
38,08
216,6
35,0
65,5
0,7
57,5
41,4
39,1
59,6
18,9
62,3
359,4
1%,*** khác biệt mức ý nghĩa 0,1%.
Tóm lại, qua hai phương pháp trích lân thành phần theo ChangJackson và Hedley có thể nhận thấy thành phần lân tan trong nước, lân bị
hấp phụ bởi hydroxit sắt và nhôm có mối tương quan thuận với hàm lượng
lân dễ tiêu trong đất. Các thành phần lân hữu cơ, lân canxi, lân bị kết tủa
với Mg, Al, Fe, bị giữ chặt bên trong sesquioxide không có mối tương
quan với hàm lượng lân dễ tiêu trong đất. Kết quả này cho thấy việc bón
phân dạng vô cơ và dễ hòa tan có làm gia tăng hàm lượng dê tiêu cung cấp
- 15 -
cho cây trồng nhưng hàm lượng cũng làm gia tăng đáng kể các thành phần
lân ở dạng khó hòa tan hơn (Fe-P, Al-P).
4.3 NGHIÊN CỨU 3: SỰ HẤP PHỤ LÂN TRONG ĐẤT TRỒNG
RAU MÀU TRỌNG ĐIỂM Ở ĐBSCL
4.3.1 Khả năng hấp phụ lân
4.3.1.1 Phần trăm lân (%P) hấp phụ trong đất
Trên đất Thốt Nốt - Cần Thơ, Kết quả trình bày ở Bảng 4.8 cho
thấy %P hấp phụ ở các mẫu đất cao nhất ở nồng độ 3 - 6 mgP/kg, với 91,3
- 97,2% hấp phụ trên các đất có hàm lượng lân dễ tiêu trung bình và đạt từ
62,4 - 82,6% đất có hàm lượng lân dễ tiêu cao. Khi nồng độ lân thêm vào
càng tăng thì %P hấp phụ ở các mẫu đất giảm dần.
Tương tự trên đất Chợ Mới - An Giang, Bình Tân – Vĩnh Long và
Châu Thành – Trà Vinh, %P hấp phụ cũng giảm dần khi gia tăng nồng độ
lân thêm vào. Khi bón lân ở nồng độ thấp (3 - 6 mgP/kg) thì %P hấp phụ
cao nhất đạt 87,1 – 99,6% P hấp phụ ở các mẫu đất hàm lượng lân dễ tiêu
thấp và trung bình và đạt từ 17,4 – 94,3% mẫu đất có hàm lượng lân dễ
tiêu cao. Ở nồng độ lân thêm vào cao nhất 60 mgP/kg trên có lân thấp và
trung bình đạt từ 30,2 -58,9% còn trên đất có lân dễ tiêu cao %P hấp phụ
đạt thấp từ 11,3 – 37,1%.
TN8
(%)
TN9
(%)
TN10
(%)
97,2
96,0
82,6
62,4
70,9
68,1
288
91,3
93,0
74,4
81,7
62,1
56,6
52,0
59,3
18
360
864
65,1
72,8
48,5
40,5
40,6
44,7
24
17,3
32,1
60
1200
2.880 53,5 38,0 19,4 15,6 14,2
6,2
Ghi chú: Hàm lượng lân dễ tiêu trong đất TN1(13,1 mgP/kg), TN2(15,01 mgP/kg), TN5(54,07
mgP/kg), TN8(92,41 mgP/kg), TN9(104,89 mgP/kg), TN10(120,3 mgP/kg).
Nhìn chung %P hấp phụ ở 4 tỉnh khảo sát tương đối cao. Ở nồng độ
lân thấp 3 - 6 mgP/kg, thì các mẫu đất có hàm lượng lân dễ tiêu thấp và
- 16 -
trung bình có %P hấp phụ cao hơn các mẫu đất có hàm lượng lân dễ tiêu
cao có thể là do các ở các mẫu đất có lượng lân dễ tiêu cao thì các vị trí
hấp phụ lân đã giảm dần và gần như bão hòa. Điều này phù hợp với nghiên
cứu của Lê Văn Căn (1985) báo cáo cho rằng sự cố định lân thường xảy ra
nhanh ở nồng độ thấp và tùy thuộc vào đặc tính đất.
4.3.1.2 Sự hấp phụ lân theo phương trình Langmuir
Kết quả phân tích tương quan giữa hàm lượng lân hấp phụ và nồng
độ lân cân bằng theo phương trình Langmuir có hệ số xác định R2 cao từ
0,72 - 0,99 cho thấy các phương trình này có thể được sử dụng để tính giá
trị lân hấp phụ tối đa (qm ). Kết quả cho thấy, 19 mẫu đất đại diện cho 4
tỉnh trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL có hàm lượng P hấp phụ tối đa
đạt từ 200 – 714,28 mgP/kg. Trên đất có hàm lượng P dễ tiêu thấp thì hàm
lượng lân hấp phụ tối đa cao và ngược lại.
4.3.2 Mối tương quan giữa lượng lân hấp phụ tối đa với tính chất lý
- 0,46*
P tổng số (% P2O5)
- 0,037ns
P dễ tiêu Bray1 (mgP/kg)
- 0,74***
Sắt tự do (% Fe2O3)
0,45*
Sắt vô định hình (% Fe2O3)
0,54*
Chất hữu cơ (% CHC)
0,13ns
Ghi chú: ns, *, **,***: không khác biệt, khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, 1%, 0,1%.
4.3.3 Độ bão hoà lân (DPS)
Kết quả phân tích DPS cho thấy, trên nhóm đất lân dễ tiêu thấp và
trung bình có DPS dao động từ 0,63 – 4,27%. Trên nhóm đất hàm lượng
lân dễ tiêu cao có DPS dao động từ 1,74 – 11,15%. Vì vậy chưa ảnh hưởng
đến môi trường bởi việc dư thừa lân bởi theo Van der Zee et al (1990), khi
DPS > 25% được xem như dư thừa lân, không khuyến cáo bón lân.
Kết quả ở Bảng 4.11 về tương quan giữa DPS với các đặc tính lý
hoá hoá học đất và các thành phần lân trong đất trồng rau màu ở ĐBSCL
cho thấy, DPS có tương quan chặt chẽ với Pts, P oxalat, Fe-P, Al-P, Ca-P
và lân dễ tiêu Bray1 đầu vụ và không có tương quan với pH, % Sét, Fe tự
do, Fe vô định hình, CHC.
Bảng 4.10 Hệ số tương quan tuyến tính (r) giữa %DPS với các tính
chất lý hoá học đất và các thành phần lân trong đất trồng rau màu ở
ĐBSCL
Tính chất lý hoá học đất và các thành phần lân trong đất
Hệ số tương quan (r)
pHH2O
nhiều biến giữa độ bão hòa lân và các đặc tính của đất. Tuy nhiên khi phân
tích tương quan nhiều biến với các biến Pts, Bray1, Fe-P, Al-P và Ca-P thì
sự đóng góp của các biến này không có ý nghĩa thống kê trong mô hình, do
đó kết quả không được trình bày.
3.4 NGHIÊN CỨU 4: XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG PHÓNG THÍCH LÂN
TRONG ĐẤT TRỒNG RAU MÀU TRỌNG ĐIỂM Ở ĐBSCL
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng phóng thích đạt tối đa ở
tỷ lệ trích 1:240. Tuy nhiên có một số đất có hàm lượng lân dễ tiêu cao có
tốc độ phóng thích ở tỷ lệ 1:60 và 1:120 không khác nhiều so với tỷ lệ trích
1:240. Chứng tỏ có hiện tượng tái hấp thu khi ở tỷ lệ trích cao. Nghiên cứu
cũng cho thấy, tốc độ phóng thích có liên quan đến hàm lượng lân tổng số,
chất hữu cơ, lân Al-P và lân Fe-P tuy nhiên vẫn chưa được thể hiện rõ.
Hàm lượng lân phóng thích tối đa rất biến động và không gia tăng theo
hàm lượng lân dễ tiêu trong đất, trong đó trên nhóm đất lân thấp có hàm
lượng lân phóng thích đối đa dao động từ 1,2 - 6,2 mgP/kg, nhóm lân dễ
tiêu trung bình dao động từ 0,96- 42,48 mgP/kg và nhóm lân dễ tiêu cao
dao động từ 2,4 – 61,92 mgP/kg.
Tính chất hóa học và thành phần lân trong đất trồng rau màu trọng
điểm ở ĐBSCL có ảnh hưởng đến khả năng phóng thích lân trong đất. Kết
quả phân tích tương quan tuyến tính giữa lượng P phóng thích với tính chất
hóa học đất và các thành phần lân theo được trình bày Bảng 4.11:
Khả năng phóng thích lân có tương quan thuận với lân tổng số, lân
dễ tiêu, P dễ tan trong nước, lân Al-P, lân Fe-P, lân Ca-P, lân NaHCO3-Pi,
NaOH-Pi với hệ số tương quan là r = 0,48*, r = 0,98***, r = 0,91*** , r =
0,98*** , r = 0,93*** , r = 0,98*** , r = 0,58**, r = 0,68** , r = 0,74** và
r = 071** theo thứ tự.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy mối tương quan nghịch giữa
lượng P hấp phụ tối đa và lượng P phóng thích tối đa (r= - 0,51*) có nghĩa
là khả năng hấp phụ càng lớn thì khả năng phóng thích lân càng thấp.
Nghiên cứu của Trần Thị Tường Linh (2014) trên các nhóm đất trồng lúa ở
0,68**
Lân hữu cơ (mgP/kg)
0,16ns
3. Thành phần lân theo Hedley
H2O – Pi (mgP/kg)
0,65*
NaHCO3 – Pi (mgP/kg)
0,74**
NaHCO3 – Po (mgP/kg)
0,33ns
NaOH – Pi (mgP/kg)
0,71**
NaOH – Po (mgP/kg)
0,02ns
HCl – Pi (mgP/kg)
0,05ns
Res – P (mgP/kg)
- 0,4ns
** ***
Ghi chú: ns, *, , : không khác biệt, khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, 1%, 0,1%
Tóm lại, trong tính chất hóa học đất thì các yếu tố lân tổng số, lân
dễ tiêu, thành phần lân theo Chang – Jackson (lân dễ tan trong nước, lân
Al-P, lân Fe-P, lân Ca-P) và thành phần lân theo Hedley (H2O-Pi,
NaHCO3-Pi, NaOH-Pi) có hệ số tương quan chặt với khả năng phóng thích
P trong đất trồng rau màu trọng điểm ở ĐBSCL. Kết quả này cho thấy các
yếu như lân tổng số, lân dễ tiêu, thành phần dễ tan trong nước, lân Al-P,
lân Fe-P, lân Ca-P, lân H2O-Pi, lân NaHCO3-Pi, lân NaOH-Pi đều có ảnh
hưởng đến khả năng phóng thích P trong đất. Vì vậy, kết quả luận án sẽ
làm cơ sở cho việc lý giải khả năng cung cấp lân trong đất, đánh giá sự đáp
- 21 -
Hình 4.1 So sánh năng suất bắp rau và bắp nếp giữa nghiệm thức bón 90 kgP2O5/ha và nghiệm thức không bón lân qua 5 vụ trên
đất Thốt Nốt – Cần Thơ và đất Chợ Mới – An Giang.
Ghi chú: ns: không khác biệt, * khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, thanh sai số I: độ lệch chuẩn.
- 22 -
Hình 4.2 So sánh năng suất bắp rau và bắp nếp giữa nghiệm thức bón 90 kgP2O5/ha và nghiệm thức không bón lân qua 5 vụ trên
đất Bình Tân – Vĩnh Long và đất Châu Thành – Trà Vinh .
Ghi chú: ns: không khác biệt, * khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, thanh sai số I: độ lệch chuẩn
- 23 -