TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
GIÁO TRÌNH
CÔN TRÙNG NÔNG NGHIỆP. PHẦN B:
CÔN TRÙNG GÂY HẠI CÂY TRỒNG CHÍNH
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Biên soạn:
PGS. NGUYỄN VĂN HUỲNH
Ph. D. Côn trùng học
và
LÊ THỊ SEN
Tiến sĩ Côn trùng học
của mỗi loài sâu hại được trình theo thứ tự: tình hình phân bố, phổ cây ký chủ,
đặc tính sinh học bao gồm hình thái, vòng đời, tập quán sinh sống và gây hại, đặc
tính sinh thái với đặc biệt là diễn tiến mật số cho từng mùa, vụ và giai đoạn sinh
trưởng của cây trồng, và cuối cùng là các biện pháp phòng trị theo thứ tự của quy
trình IPM (phòng trị tổng hợp). Mục lụ
c chi tiết đến từng loài sâu hại được trình
bày ở ngay phần đầu của giáo trình để giúp cho người đọc có thể tra cứu dễ dàng
mà không cần phải có danh lục ở phía sau. Các loài thiên địch quan trọng hoặc
nhóm thuốc trừ sâu hữu hiệu của mỗi loài sâu hại cũng được trình bày tóm tắt
trong biện pháp phòng trị mặc dù không thể đi vào chi tiết (thuộc các giáo trình
chuyên ngành khác).
Trong giáo trình này tác giả đã tham khảo rất nhiều tài liệu chuyên ngành
và trích dẫn nhiều hình
ảnh minh hoạ đã được xuất bản hoặc công bố. Chúng tôi
xin thành thật cám ơn các tác giả và nhà xuất bản. Cuối cùng, chúng tôi mong
được sự góp ý của các đồng nghiệp và sinh viên có cơ hội sử dụng hoặc tham
khảo giáo trình này để có thể cập nhật và hoàn thiện hơn.
Các tác giả: Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen
THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ
PHẠM VI VA ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG
CỦA GIÁO TRÌNH
1. THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ
Họ và tên: NGUYỄN VĂN HUỲNH
Sinh năm: 1944
Cơ quan côngtác:
- Sâu phao: Nymphula depunctalis (Guenée) 3
- Sâu phao mới đục bẹ 5
- Bù lạch: Stenchaetothrips oryzae (Bagnal) 9
- Muỗi hành: Orseolia oryzae (Wood-Mason) 11
- Sâu keo: Spodoptera mauritia (Boisduval) 14
- Cào cào xanh: Oxya chinensis (Thunberg) 16
- Sâu cuốn lá nhỏ: Cnaphlocrosis medinalis Guenée 17
- Các loài sâu đục thân: 19
. Sâu màu vàng: Tryporyza incertulas (Walker) 18
. Sâu sọc nâu đầu đen: Chilo polychrysus Walker 19
. Sâu sọc nâu đầu nâu: Chilo suppressalis Walker 19
. Sâu màu hồng: Sesamia inferens Walker 20
- Bọ xít đen: Scotinophara coartata (Fabricius) 27
- Bọ gai: Dicladispa armigera (Oliver) 29
- Sâu sừng: Melanitis leda ismene (Cramer) 30
- Sâu cu
ốn lá lớn: Parnara guttata Bremer & Grey 31
- Rầy nâu: Nilaparvata lugens (Stal) 33
- Rầy lưng trắng: Sogatella furcifera (Horvath) 39
- Các loài rầy xanh: Nephotettix spp. 41
- Rầy zigzag: Recilia dorsalis (Motschulsky) 45
B. Sâu hại từ giai đoạn trổ đến chín 46
- Bọ xít hôi: Leptocorisa acuta Thunberg 46
- Nhện gié: Steneotarsonemus spinky (Smiley) 48
- Ốc bươu vàng: Pomacea canaliculata (Lamarck) 50
- Chuột đồng: Rattus argentiventer (F) 52
SÂU HẠI CÂY BẮP 55
A. Sâu hại cây con 55
- Kiến lữa: Solenopsis geminata (Fabricius) 55
. Lamprosoma indica Linnaeus 86
. Homona coffearia Nietner 87
. Dichocrosis chlorophanta Butler 88
- Các loài rầy mềm: 90
. Aphis glycines Matsumura 90
. Aphis craccivora Koch 90
C. Sâu hại trái 92
- Các loài sâu đục trái: 92
. Etiella zinckenella Treitschke 92
. Maruca testulalis (Geyer) 94
- Nhóm bọ xít: 95
. Bọ xít xanh: Nezara viridula (Linnaeus) 95
. Bọ xít xanh vai hồng: Piezodorus rubrofasciatus 97
. Bọ xít dài: Riptortus pilosus Thunberg 98
. Bọ xít dài: Riptortus linearis (Fabricius) 99 SÂU HẠI RAU CẢI 102
- Sâu tơ: Plutella xylostella Curtis 105
- Dế nhủi: Gryllotalpa africana Pal de Beauvois 106
- Bọ nhảy: Phyllotreta striolata Fabricius 107
- Các loài rầy mềm: 107
. Myzus persicae Sulzer 108
. Rhipalosiphum pseudobrassicae Davis 108
. Brevicoryne brassicae Davis 109
- Sâu ăn đọt cải: 110
. Hellula undalis Fabricius 110
. Crocidolomia binotalis Zeller 111
ii
- Bọ xít xanh: Rhynchocoris poseidon Kirkaldy 140
- Các loài bướm chích trái: 142
. Ophideres fullonia Clerck 142
. Eudocima salaminia Fabricius 143
. Artena dotata Fabricius 144
. Anua coronata Fabricius 144
- Các loài nhện nhỏ: 145
. Nhện đỏ: Panonychus citri Mc Gregor 146
. Nhện vàng: Phyllocoptruta oleivora (Ashmead) 146
. Nhện trắng: Polyphagotarsonemus latus (Blanks) 146
- Bù lạch: Scirtothrips citri Moulton 148
- Sâu đục vỏ trái: Prays endocarpa Meyrick 149
- Sâu đục trái: Cipestis sagittiferella Moore 150
SÂU HẠI CÂY XOÀI 152
iii
A. Sâu hại lá 152
- Câu cấu xanh: Hypomeces squamosus Fabricius 152
- Bọ cắt lá: Deporaus marginatus Pascoe 153
- Sâu nái: Parasa lepida (Cramer) 154
B. Sâu hại bông 155
- Rầy bông xoài: Idiocerus niveosparsus Lethierry 155
C. Sâu hại thân, cành, trái 157
- Xén tóc đục thân: Batocera rufomaculata De Geer 157
- Sâu đục cành: Chlumetia transversa Walker 158
- Mọt đầu dài đục cành (đang theo dõi0
- Sâu đục (hột) trái: Deanolis albizonalis (Hampson) 159
- Ruồi đục trái: Batrocera dorsalis Hendel 161
- Bọ ăn lá dừa non: Bronstispa longissima Gestro 190
- Rệp dính: Aspidiotus destructor Signoret 195
iv
- Sâu sừng: Amathusia phidippus Linnaeus 194
- Sâu đục bông: Tirathaba rufivena (Walker) 195
- Bọ xít: Emblypelta sp. 196
- Các loài chuột 197
SÂU HẠI CÂY MÍA 201
- Sâu đục ngọn: Scirpophaga nivella Fabricius 201
- Sâu đục thân: Proceras venosatus Walker 203
- Sùng đục gốc: Alissonotum impressicolle Arrow 205
SÂU HẠI CÂY ĐAY 208
- Sâu đo xanh ăn lá: Anomis flava Fabricius 208
- Rầy xanh: Empoasca fabae Risso 209
- Sâu xanh: Earias vitella Fabricius 210
- Bọ xít đỏ: Dysdercus cingulatus (Fabricius) 212
SÂU HẠI CÂY CÀ PHÊ 213
- Xén tóc đục thân: Xylotrechus quadripes Chevrolat 213
- Mọt đục cành: Xyleborus morstatti Hazed 215
- Mọt đục trái: Stephanoderes hampei Ferrary 217
TÀI LIỆU THAM KHẢO 220
v
Chương I Sâu hại cây lương thực – lúa, bắp, khoai
Dòi có cơ thể hình trụ, dài từ 6-7 mm, mới nở màu trắng sữa, dần dần chuyển
sang màu vàng nh
ạt; dòi có 3 tuổi, phát triển trong thời gian từ 10-14 ngày.
Nhộng dài từ 3-4 mm, màu nâu nhạt, hình trụ, có 2 gai nhọn ở cuối bụng. Nhộng phát
triển từ 7-10 ngày.
4. Tập quán sinh sống và cách gây hại
Thành trùng hoạt động vào ban ngày và thường đậu trên những lá lúa gần mặt
nước, không bị thu hút bởi ánh sáng đèn, nhưng bị thu hút nhiều bởi ruộng lúa mới
cấy. Thành trùng thích đẻ trứng trên ruộng lúa còn nhỏ, khoảng 30 ngày sau khi cấy.
Trứng được đẻ từng cái trên phiến những lá gần mặt nước, nhiều nhất trên lúa cấy.
Ấu trùng khi nở ra sẽ nhờ sương di chuyển dần xuống các chồi non, tấn công
trên lá non còn cuốn lạ
i của cây lúa bằng cách dùng móc nhọn ở miệng chích hút lá
non nhất. Do đo, khi lá mở ra sẽ có những vết màu vàng lợt hoặc bị lủng thành một
hàng ngang hoặc làm đứt ngang phiến lá. Lá non bị hư và khô, cây lúa bị lùn và phát
triển kém, cho ít chồi.
Ruồi thường tấn công lúa non 2 tháng tuổi trở lại, nhất là gây hại nặng cho lúa
vừa mới cấy. Lúa cấy bị hại nhiều hơn lúa sạ do thành trùng phát hiện cây lúa nhờ
bóng cây lúa phản chiếu từ m
ặt nước xuống ruộng. Ruộng lúa do ruồi tấn công có thể
hồi phục nếu sau đó không có loài sâu nào tấn công liên tiếp theo, nhưng có thể chín
muộn khoảng từ 7 - 10 ngày.
5. Biện pháp phòng trị
- Nếu có điều kiện nên rút nước định kỳ khỏi ruộng trong vòng 30 ngày sau khi
cấy, mỗi lần rút nước khoảng 3 - 4 ngày.
- Sử dụng thuốc hóa học nếu ruồi có mật số cao bằng 3 cách sau:
*. Nhúng rễ mạ vào dung dịch thuốc lưu dẫn một đêm trước khi cấy.
*. Sử dụng thuốc hột có tác dụng lưu dẫn rải vào ruộng.
vòng đời, bướm và ấu
trùng sống trong phao
(Reissig vaì
ctv., 1995)3
Chương I Sâu hại cây lương thực – lúa, bắp, khoai Sâu mới nở màu trắng, dài khoảng 1,2 mm, đầu màu vàng nhạt. Từ tuổi 2, mình
sâu chuyển thành màu xanh lục, trong suốt. Sâu có 5 tuổi, phát triển từ 15 đến 25
ngày. Sâu có 6 đôi mang giả (gills) ở dọc 2 bên cơ thể, do đó sâu không thở bằng khí
khẩu mà thở bằng mang giả để lấy oxy từ nước chứa trong ống phao. Khi lớn đủ sức
sâu dài khoảng 20 mm. Nhộng phát triển trong thời gian từ 4-7 ngày.
Vòng đời sâu phao từ 29-37 ngày tuỳ theo điều kiệ
n thời tiết và dinh dưỡng
4. Tập quán sinh sống và cách gây hại
Bướm thường vũ hóa về ban đêm bằng cách chui qua một lỗ ở đầu trên của
phao và ẩn dưới lá lúa vào ban ngày, đẻ trứng vào ban đêm. Bướm bị thu hút nhiều bởi
ánh đèn và vào đèn nhiều lúc trăng còn nhỏ. Bướm có khả năng bay xa độ 1 km.
Sau khi nở, sâu cạp mặt dưới lá để ăn, khoảng 2-3 ngày sau sâu bắt đầu cuốn lá
thành phao. Đầu tiên ấu trùng bò lên đầu ngọn lá non, cắn đứt ngang một đoạn, xong
nhả tơ cuốn lá lại thành ống, sau đó cắn đứt phần cuối để ống rời khỏi lá và dùng tơ
kết bao lá lại. Sâu ở trong ống, khi ăn thì chui ra ngoài, sâu cạp phần xanh lá lúa để
ăn, chừa lại những vệt dài màu trắng ở đầu lá. Đôi khi sâu buông mình cho phao rơi
xuống mặt nước để lấy nước vào phao hoặc cho phao trôi từ bụi lúa này sang bụi lúa
khác, vì vậy loài sâu này ưa thích ruộng có nhiều nước.
Ban ngày sâu
1. Phán bố và ký chủ
Trong vài năm gần đây, trên đồng ruộng thuộc các tỉnh ĐBSCL có xuất hiện
một loài sâu hại mới, có nhiều đặc điểm vừa gần giống với sâu phao, vừa gần giống
với sâu đục thân, nên tạm gọi là "sâu phao mới" (SPM). Đây là đối tượng có đặc tính
thích nghi rất rộng, vừa có thể tấn công trên phiến lá lúa, vừa có thể đục vào bẹ của
thân cây lúa, nên đã gây thiệt hại rất nhi
ều cho nông dân. Đa số nông dân chưa biết
được các đặc tính sinh học, cách gây hại và nhất là biện pháp phòng trừ hữu hiệu,
đồng thời cũng chưa có nghiên cứu chính thức nào về đối tượng gây hại mới này.
Ngoài cây lúa, SPM còn có thể gây hại được một số loài cỏ như cỏ đuôi phụng,
cỏ lông công, cỏ túc, cỏ cú, đặc biệt là trên lúa rài, lúa chét và lúa cỏ.
2. Chu kỳ sinh trưởng và tập quán sinh hoạt
SPM vừa gây hại cho phiến lá lúa, vừa đục vào bẹ lá làm cho bụi lúa chậm phát
triển và chết nhanh sau đó vài ngày. SPM có thể chui mình xuống nước để đục vào
thân cây lúa nên rất khó phát hiện. Vụ Đông-Xuân bị thiệt hại nặng hơn (30%) so với
vụ Hè-Thu và Thu-Đông (5%).
Kết quả điều tra cho thấy SPM có thể gây hại cho cây lúa quanh năm, nhưng
thường gây thiệt hại nặng vào vụ lúa Đông-Xuân khi điều kiện trên đồng có nhiề
u
nước. SPM thường xuất hiện và tấn công cây lúa ở giai đoạn mạ và khi đó khả năng
gây hại sẽ rất cao, đặc biệt là sâu thường xuất hiện ở những ruộng nhiều nước.
Do SPM xuất hiện và gây hại rất sớm, nên nó thường kết thúc lứa sâu thứ nhất
khi lúa được 30-35 ngày tuổi và sau đó cũng có thể xuất hiện thêm lứa sâu thứ hai trên
cùng một ruộng. Tuy nhiên trường hợ
p này ít xảy ra và lứa sâu thứ hai thường có mật
số thấp. Khi lúa được trên 50 ngày tuổi thì không còn phát hiện thấy SPM gây hại.
thời gian tuổi 4 từ 3-5 ngày. Tuổi 5, đầu có màu đen, mình vàng sậm, mập mạp, cứng
chắt có chiều dài từ 16-18mm, thờ
i gian tuổi 5 từ 4-5 ngày.
Sau khi phát triển đầy đủ, sâu bò xuống sát gốc lúa, nhả tơ dán chặt một đầu
phao lại để làm nhộng. Nhộng có chiều dài từ 10-12mm, rộng 4mm, lúc đầu có màu
6
Chương I Sâu hại cây lương thực – lúa, bắp, khoai
trắng ngà, khi sắp vũ hóa thì chuyển sang màu nâu sậm. Thời gian làm nhộng từ 6-7
ngày.
Thành trùng là loài bướm nhỏ, màu vàng nâu gần giống như sâu cuốn lá nhỏ,
giữa cánh có 2 đốm nâu lớn, cuối cánh có rìa nâu đen viền trắng. Con cái có màu nâu
nhạt dài từ 11-12mm và thường có kích thước lớn hơn con đực. Con đực có màu đậm,
dài từ 7-8mm và có nhiều vân trắng chay ngoằn ngoèo trên cánh. Bướm thường đậu ở
mặt dưới của phiến lá, cánh xếp dạng hình tam giác đều, đặc bi
ệt là đầu luôn quay
ngược xuống phía dưới. Các kết quả này cho thấy SPM thuộc họ Pyralidae
(Lepidoptera) và chưa thể định danh tới loài do chưa có tài liệu nào công bố.
3.2 Tập quán sinh sống và cách gây hại
Thành trùng thường đậu ở mặt dưới tán của bụi lúa. Thành trùng sẽ bắt cặp sau
khi vũ hóa từ 1-2 ngày. Từ 2-3 ngày sau khi bắt cặp thành trùng sẽ đẻ trứng. Trứng
được đẻ thành hàng trên phần bẹ lá lúa. Phao của sâu non là 2 mảnh ghép lại, dẹp và
không ch
ứa nước trong phao như loài Nymphula depunctalis.
Sâu non tuổi 1-2 chỉ ăn lá là chủ yếu, nhưng từ tuổi 3 trở đi thì vừa ăn lá vừa
đục vào thân cây lúa, làm lúa chậm phát triển và chết nhanh sau đó.
Sâu thường tấn công rất sớm trên những ruộng bị ngập nước.
Sâu tuổi nhỏ cạp nhu mô và cắn thủng lá lúa nhiều chổ làm lá lúa bị rách răng
Chương I Sâu hại cây lương thực – lúa, bắp, khoai
dần hoá nhộng.
Diễn biến mật số SPM (con/m2) trong ruộng lúa có điều chỉnh mực nước khác nhau.
Vĩnh Long, 2002*.
Mật số sâu hại vào các ngày sau khi sạ (NSKS) Mực nước ruộng
17 20 23 26 29
Xăm xắp nước
2-3 cm
5-10 cm
> 10 cm
Ruộng nông dân
35,80
36,30
38,30
35,20
37,00
22,80 a
34,93 b
36,80 b
36,40 b
36,00 b
6,87 a
32,93 b
38,20 b
37,60 b
33,90 b
Xăm xắp nước
2-3 cm
5-10 cm
> 10 cm
Ruộng nông dân
21,0
20,4
20,3
23,8
23,1
15,7 a
27,4 b
46,1 c
48,6 c
43,4 c
3,3 a
41,3 b
63,7 c
72,9 c
63,9 c
0,0 a
44,7 b
73,7 c
88,4 c
67,6 c
0, 0 a
35,1 b
63,5 c
71,1 c
hữu cơ như Pace 75SP hay Vibasu 40ND. Tuy nhiên, đây là những loại thuốc có độc
tính cao, có thể tiêu diệt cả các loài thiên địch có ích cũng như các loài thủy sản trên
ruộng.
BÙ LẠCH (BỌ TRĨ)
- Tên khoa học: Stenchaetothrips oryzae (Bagnall),
còn có tên là Thrips oryzae (Matsumura) hay Baliothrips biformis (Bagnall)
- Họ Thripidae, Bộ Thysanoptera
1. Phân bố
Bù lạch xuất hiện ở Afghanistan, Ấn Độ, Burma, Campuchea, Đại Hàn,
Indonesia, Lào, Malaysia, miền Nam nước Nhật, Philippines, Sri - Lanka, Thái Lan và
Việt Nam.
2. Ký chủ
Ngoài lúa, bù lạch còn gây hại cây bắp, cỏ Phalaris, Imperata và nhiều loại cỏ
lá hẹp khác.
3. Đặc điểm hình thái và sinh học
Bù lạch rất nhỏ, dài từ 1-1,5 mm, màu nâu đen hoặc màu nâu đỏ. Hai đôi cánh
hẹp, mang nhiều lông như lông chim trĩ nên còn có tên là "bọ trĩ", xếp dọc trên lưng
khi nghỉ. Thành trùng cái đẻ khoảng 12-14 trứng, nhiều nhất là 25-30 trứng. Đa số bù
lạch sinh sản theo phương thức đơn tính, tỉ lệ cái/đực thường rất lớn (trên 95%). Tuổi
thọ của thành trùng cái từ 15-30 ngày.
Trứng hình bầu dục, dài từ 0,20-0,25 mm, màu trắng trong, chuyển sang vàng
khi s
ắp nở, thời gian ủ trứng từ 3-5 ngày.
Ấu trùng có màu vàng nhạt, lớn đủ sức dài khoảng 1 mm, hình dạng giống thành
trùng nhưng không cánh. Ấu trùng có 4 tuổi, phát triển từ 6-14 ngày. Trước khi hóa
lạch gây hại thường có sọc trắng bạc dọc theo gân, chóp bị cuốn lại và bù lạch sống
bên trong chóp lá cuốn lại, trời mát mới bò ra ngoài.
Với đặc tính sinh sống là thườ
ng ẩn mình trong chóp lá cuốn lại nên bù lạch chỉ
thích tấn công trên các ruộng lúa bị khô, lá lúa cuốn lại; nếu ruộng đầy đủ nước, lá lúa
mở ra, bù lạch không còn chỗ trú ẩn nên dễ bị chết.
5. Biện pháp phòng trị
a/ Biện pháp canh tác. Cho ruộng ngập nước cao hơn ngọn lá lúa khoảng 2
ngày, sau đó bón thêm phân, cây lúa sẽ vượt qua được.
b/ Biện pháp hóa học:
- Áp dụng thuốc dạng dung dịch vào buổi chiều.
- Có thể sử dụng thuốc lưu dẫn dạng hạt rải vào ruộng. 10
Chương I Sâu hại cây lương thực – lúa, bắp, khoai MUỖI HÀNH (MUỖI NĂN, LÚA NĂN)
-Tên khoa học: Orseolia oryzae (Wood-Mason),
còn có tên là Pachidiplosis oryzae (Wood-Mason)
- Họ Muỗi Năn (Cecidomyiidae), Bộ Hai Cánh (Diptera)
1. Phân bố
Trên thế giới, muỗi hành gây hại trầm trọng ở các vùng trồng lúa thuộc Nam và
Đông Nam Á châu, đặc biệt ở Ấn Độ, Indonesia, Miến Điện, Sri-lanka, Thái Lan và
Trung Quốc.
Ở Việt Nam, trước đây Muỗi Hành gây hại nặng ở Bình Trị Thiên, Quảng Nam,
Đà Nẵng và một số tỉnh ở miền Bắc. Năm 1983 Muỗi Hành được ghi nhận xuất hiện
từng nhóm từ 3-4 cái ở mặt dưới lá, gần chân của phiến lá. Mới đẻ trứng màu trắng
bóng, sắp nở chuyển sang màu đỏ tím bóng. Thời gian ủ trứng từ 3-5 ngày.
Ấu trùng mới nở dài khoảng 1 mm, lớn đủ sức dài khoảng 3 mm, cơ thể màu hồng
nhạt, có từ 3-4 tuổi, phát triển trong thời gian từ 13-15 ngày.
Nhộng dài từ 2-3 mm màu h
ồng nhạt khi mới hình thành và chuyển sang màu
hồng sậm khi sắp vũ hoá, có nhiều hàng gai ngược trên thân mình. Thời gian nhộng từ
6-8 ngày.
Vòng đời muỗi hành từ 26-35 ngày.
4. Tập quán sinh sống và cách gây hại
Thành trùng vũ hóa vào đầu mùa mưa, thường là ban đêm, có thể bắt cặp ngay
và đẻ trứng vài giờ sau đó và thích hoạt động vào ban đêm, ban ngày thường đậu trong
khóm lúa, gần mặt nước hay cỏ dại ở bờ ruộng. Thành trùng ăn các giọt sương đêm để
sống và bị thu hút nhiều bởi ánh sáng đèn và vào đèn nhiều lúc trăng tròn.
Trứng cần ẩm độ cao (80-90%) để phát triển và nở và thường nở vào buổi sáng.
Ấu trùng nhờ sương trên lá bò dần xuống giữa bẹ và thân đến đọt non hay chồi
phụ và ăn đỉnh sinh trưởng của cây lúa. Trong khi chích hút đỉnh sinh trưởng của cây
12
Chương I Sâu hại cây lương thực – lúa, bắp, khoai
lúa, ấu trùng tiết ra nước bọt kích thích làm cho bẹ của lá non nhất mọc dài ra thành
ống tròn màu xanh lá cây nhạt, còn phiến lá chỉ là một mảnh nhỏ ở đầu ống. Ông này
dài khoảng 10-30 cm và có đường kính từ 1 đến 2 mm. Trong mỗi ống chỉ có một ấu
trùng. Khoảng 7 ngày sau khi bị tấn công, ống lúa sẽ mọc dài ra và tròn giống như
cọng hành và rất dễ nhìn thấy vì ống có màu xanh lá cây nhạt. Lúc đó ấu trùng bên
trong đã đủ lớn hoặc đã làm nh
ộng. Nhộng có thể di chuyển lên xuống trong ống lúa
nhờ các gai ngược trên thân. Trời mưa hay râm mát nhộng di chuyển lên phía trên ống
- Nhện nhỏ thuộc họ
Phytoseiidae ăn trứng và nhện lớn ăn thịt thành trùng.
6. Biện pháp phòng trị
a/ Biện pháp canh tác:
- Diệt cỏ xung quanh ruộng lúa.
- Diệt lúa rài, lúa chét và gieo cấy sớm rất cần thiết để giảm mật số Muỗi Hành trên
đồng ruộng.
- Trồng giống lúa nhảy chồi nhiều.
- Không bón nhiều phân N.
- Thăm ruộng thường xuyên từ giai đoạn mạ đến lúc cây lúa nhảy chồi tối đa.
13
Chương I Sâu hại cây lương thực – lúa, bắp, khoai
b/ Biện pháp hóa học:
- Nhúng rễ mạ vào dung dịch thuốc trừ sâu lưu dẫn trong 1 đêm trước khi cấy.
- Áp dụng thuốc nước để diệt thành trùng hoặc ấu trùng vừa nở ra.
- Rãi thuốc hột khi ruộng chủ động nước. SÂU ĐÀN (SÂU KEO, SÂU CẮN CHẺN)
Tên khoa học: Spodoptera mauritia (Boisduval)
Họ Ngài Đêm (Noctuidae), Bộ Cánh Vảy (Lepidoptera)
1. Phân bố
Sâu xuất hiện ở khắp các vùng trồng lúa trên thế giới, nhiều nhất là Ấn Độ,
Australia, Ceylon, Bangladesh, Indonesia, Kampuchea, Malaysia, Lào, Pakistan,
Philippines, Sri Lanka, Thái Lan, miền Nam nước Nhật, Trung Quốc, Triều Tiên. Ở
Việt Nam sâu thường gây hại nhiều ở miền Nam.
4. Tập quán sinh sống và cách gây hại
Bướm hoạt động về đêm, nhất là đầu đêm và bị thu hút nhiều bởi ánh sáng đèn.
Ban ngày bướm thường trốn ở mặt dưới lá hoặc trong cỏ ven bờ ruộng.
Vì sâu tuổi nhỏ có màu xanh giống như màu xanh của lá lúa và hay trốn trong
lá non hay ở mặt dưới lá vào ban ngày nên khó phát hiện. Khi lớn sâu có màu đậm và
vết ăn đứt phiến lá rất rõ nên dễ thấy. Sâu có tập quán sống tập trung thành từng đàn,
sức phá hạ
i rất nhiều và ăn lá lúa rất mạnh. Lúc nhỏ sâu chỉ ăn khuyết phiến lá từ
ngoài vào, khi lớn sâu cắn đứt cả phiến lá, do đó sâu thường bị thiếu thức ăn và phải di
chuyển từ ruộng này sang ruộng khác thành từng đàn lớn nên có tên là "sâu đàn". Sâu
có tập quán cuộn tròn mình khi đụng đến. Sâu thường ăn lá lúa vào ban đêm, hay ban
ngày nếu trời âm u, có mưa nhỏ, làm hư phiến lá, giảm khả năng quang hợp c
ủa cây.
Cây lúa non bị sâu tấn công nhiều sẽ trụi hết lá, phát triển không tốt và chết. Sâu làm
nhộng dưới đất. Ở đồng bằng sông Cửu Long sâu xuất hiện theo sự xuất hiện của lúa,
thường là ở giai đoạn đầu của cây lúa, ít khi thấy mật số cao khi lúa trổ.
5. Biện pháp phòng trị
a/ Biện pháp canh tác.
- Làm sạch cỏ quanh ruộng.
- Làm nương mạ xa nơi có cỏ.
b/ Biện pháp sinh học.
- Vì sâu có kích thước lớn và xuất hiện thành đàn nên dễ bị chim, chuột, cá và
các loại thiên địch khác tấn công nên tương đối dễ phòng trị. Nếu sâu xuất hiện với
mật số cao có thể thả vịt con vào ruộng để ăn hoặc cho nước vào ngập lá lúa trong
ruộng để sâu bị trôi đi.
- Trứng của loài này th
ường bị ký sinh bởi ong thuộc các họ Scelionidae,
ng từ 2 - 3 tháng và đẻ từ
2-3 ổ trứng, trung bình từ 20-100 trứng trong
một ổ.
Trứng màu vàng đậm, hình ống, hơi cong ở giữa, một đầu nở to. Ổ trứng hình
túi, trong đó trứng được xếp xiên thành 2 hàng. Thời gian ủ trứng khoảng 6 tuần, đôi
khi lâu hơn.
Ấu trùng màu xanh, râu hình sợi chỉ. Mảnh lưng ngực trước dài hơn đầu. Mầm
cánh kéo dài tới đốt thứ ba của bụng. Ấu trùng thay da t
ừ 5-9 lần. Thời gian phát triển
trong mỗi giai đoạn tuổi từ 10-16 ngày. Ấu trùng phát triển trong thời gian từ 6-10
tuần.
3. Tập quán sinh sống và cách gây hại
Sau khi vũ hoá từ 5-40 ngày, tuỳ theo điều kiện thời tiết và nguồn thức ăn thì
thành trùng bắt đầu giao phối, sau đó khoảng 10-40 ngày thì bắt đầu đẻ trứng.
Trứng được đẻ thành từng ổ trong đất, nơi bờ ruộng hay bãi cỏ hoang. Cào cào
thường thích đẻ trứng nơi đất ẩm, có pha cát hơn là đất sét nặng, thích nơi có nhiều cỏ
dại và nhiều nắng.
Thành trùng gây hại mạnh vào buổ
i sáng và chiều mát và có xu tính bay vào
ánh lửa hoặc đèn tia tử ngoại và có thể bơi khi nhảy xuống nước. Thời kỳ mạ hay lúa
non, cả thành trùng và ấu trùng đều ăn khuyết lá, đôi khi chỉ còn gân chính. Khi lúa trổ
bông hay chín, thành trùng và ấu trùng có thể cắn đứt cuống bông làm bông bị lép. 16
Chương I Sâu hại cây lương thực – lúa, bắp, khoai
4. Biện pháp phòng trị
- Trước khi gieo cấy cần dọn sạch cỏ ở bờ ruộng.
vàng rơm, bìa cánh có 1 đường viền màu nâu đậm, giữa cánh có 3 sọc màu nâu, 2 sọc
bìa dài và sọc giữa ngắn. Bướm sống từ 5-10 ngày. Một bướm cái có thể đẻ đến 300
trứng. Trứng được đẻ rải rác hay thành từng nhóm dọc gân chính của lá, mỗi nhóm từ
10-12 trứng ở cả hai mặt lá, nhưng mặt trên có nhiều trứng hơn.
Trứng hình bầu dục dài khoả
ng 0,5 mm, màu trắng, chuyển sang màu vàng nhạt
khi sắp nở. Giai đoạn trứng từ 3-7 ngày.
Sâu non mới nở màu trắng sữa, có lông nâu phủ khắp mình. Sâu lớn đủ sức dài
khoảng 19-22 mm, màu xanh lá mạ, thân chia đốt rất rõ ràng. Sâu có từ 5-6 tuổi, phát
triển trong thời gian từ 15-28 ngày.
Nhộng dài từ 7-10 mm màu nâu, thời gian nhộng từ 6-10 ngày.
17