Nuôi tôm sinh thái ở đồng bằng sông Cửu Long
Thiều L
Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2
I. GIớI THIệU
Nuôi tôm sinh thái nhằm đạt đợc các mục tiêu là tạo ra đợc sản phẩm sạch và không
gây ô nhiễm môi trờng. Để đạt đợc các mục tiêu trên, kỹ thuật nuôi không cho phép sử
dụng thuốc kháng sinh để phòng trừ bệnh và hóa chất để xử lý môi trờng. Thức ăn tự nhiên
là nguồn thức ăn chủ yếu trong các ao, đầm nuôi tôm. Trong hệ thống nuôi sinh thái chỉ sử
dụng phân hữu cơ để tạo thức ăn tự nhiên trong ao nuôi. Tuy nhiên có thể sử dụng chế phẩm
sinh học để xử lý môi trờng nớc và tạo thêm nhiều thức ăn tự nhiên trong ao nuôi tôm.
Nuôi tôm sinh thái là đề tài nghiên cứu đã đợc Bộ Thủy sản quan tâm đặc biệt với hy
vọng đa ra quy trình nuôi để áp dụng vào sản xuất hạn chế sự ô nhiễm môi trờng nớc nuôi
tạo ra sản phẩm sạch, bền vững phục vụ cho tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.
II. PHơNG PHáP NGHIêN CứU
1. Xây dựng mô hình nuôi tôm
Xây dựng 4 mô hình nuôi ở các vùng khác nhau:
- Một mô hình tôm - lúa vùng nội đồng, mặt nớc nuôi tôm có độ mặn không cao trong
mùa khô và hoàn toàn ngọt trong mùa ma. Địa điểm thí nghiệm tại huyện Phớc Long tỉnh
Bạc Liêu với diện tích ao thí nghiệm là 2,5ha.
- Một mô hình tôm - lúa có độ mặn cao trong mùa khô và ngọt trong mùa ma. Địa
điểm thí nghiệm tại huyện Cái Nớc tỉnh Cà Mau với diện tích ao thí nghiệm là 2ha.
- Một mô hình nuôi tôm quảng canh ở Bạc Liêu, đầm nuôi tôm có nguồn gốc chuyển
đổi từ diện tích canh tác tôm - lúa. Đầm nuôi có độ mặn cao trong mùa khô và thấp trong mùa
ma. Địa điểm thí nghiệm tại đầm nuôi tôm huyện Đông Hải tỉnh Bạc Liêu với diện tích đầm
là 2ha.
- Một mô hình nuôi tôm quảng canh ở huyện Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau, đầm nuôi tôm
có nguồn gốc từ diện tích canh tác tôm - rừng. Đầm nuôi có độ mặn cao trong mùa khô và lợ
trong mùa ma, diện tích đầm nuôi tôm thí nghiệm là 2ha.
2. Giải pháp kỹ thuật
- Thiết kế đầm ruộng nuôi: Đầm và ruộng nuôi có dạng chữ nhật hoặc vuông (tùy theo
1. Các yếu tố môi trờng nớc ảnh hởng đến sinh trởng của tôm
Điểm 1: Mô hình nuôi tôm - lúa ở Phớc Long (Bạc Liêu), thả giống ngày 30/3/2003.
Điểm 2: Mô hình nuôi tôm - lúa ở Cái Nớc (Cà Mau), thả giống ngày 20/1/2003.
Điểm 3: Mô hình đầm nuôi quảng canh ở Đông Hải (Bạc Liêu), thả giống ngày 8/3/2003.
Điểm 4: Mô hình đầm nuôi quảng canh ở Ngọc Hiển (Cà Mau), thả giống ngày 7/1/2003.
* Độ mặn trong thời gian nuôi () :
Ngày nuôi Điểm 1 Điểm 2 Điểm 3 Điểm 4
1 20 15 37 20
10 25 17 37 20
20 27 18 35 21
30 25 19 35 22
40 21 20 35 23
50 16 22 34 25
60 13 23 30 26
70 14 25 30 25
80 15 25 25 26
90 13 26 20 26
100 11 27 18 27
110 3 28 15 27
120 2 34 10 27
Độ mặn chỉ thay đổi theo mùa vụ:
ở điểm 1 thời điểm thả giống vào cuối tháng 3 lúc này độ mặn chỉ ở mức cao trong 20
ngày đầu và sau đó giảm dần đến khi thu hoạch. Sau khi thu hoạch tôm, độ mặn đã xuống
thấp đến mức phù hợp cho việc gieo sạ lúa.
ở điểm 2 thả giống sau mùa lúa (đầu mùa khô) nên độ mặn tăng dần từ khi thả tôm giống
đến khi thu hoạch.
ở điểm 3 thả giống vào giữa mùa khô nên độ mặn tăng và sau đó giảm đến khi thu hoạch.
ở điểm 4 thả giống đầu mùa khô, độ mặn tăng dần đến thời điểm thu hoạch tôm.
* pH trong thời gian nuôi:
Ngày nuôi Điểm 1 Điểm 2 Điểm 3 Điểm 4
2. Các yếu tố gây ô nhiễm môi trờng
Điểm
Nuôi
Tháng Hàm lợng
NH
3
(mg/l) PO
4
(mg/l)
COD (mg/l) TSS (g/l)
1
1
2
3
4
0,03
0,06
0,03
0,05
0,5
0,4
0,5
1,1
12
13
10
7,8
0,3
0,27
0,05
0,05
0,1
0,3
0,4
0,5
12
15
18
19
0,2
0,23
0,27
0,24
4
1
2
3
4
0,05
0,04
0,08
0,06
0,4
0,45
0,5
0,5
13
17
18
Ngành tảo
T1 T2 T3 T4 T1 T2 T3 T4
Bacillariophyta 15 16 6 3 20 18 14 9
Chlorophyta 1 3 0 0 1 1 2 0
Euglenophyta 0 0 1 3 0 0 0 0
Cyanophyta 1 3 1 0 3 2 0 1
Pyrophyta 0 0 0 0 1 0 0 1
Tổng cộng 17 22 8 10 25 21 16 11
Nhìn chung thành phần loài phù du thực vật ở đầm và ruộng nuôi đều thấp. Số loài ở mỗi
đầm đều dới 30 loài. Trong đó tảo silic luôn luôn chiếm u thế.
* Sinh lợng phù du thực vật các điểm tôm - lúa (tế bào/lít):
Điểm 1 Điểm 2
Ngành tảo
T1 T2 T3 T4 T1 T2 T3 T4
Bacillariophyta 12240
(95%)
50167
(67%)
6300
(88%)
1900
(2%)
38080
(96%)
3287
(65%)
4620
(42%)
145200
(70%)
(2%)
1257
(25%)
6023
(55%)
7333
(4%)
Pyrophyta 0 0 0 0 0 483
(10%)
0 0
Tổng cộng 12840 75250 7200 106400 39667 5027 10890 206800
* Sinh lợng phù du thực vật các điểm nuôi quảng canh (tế bào/lít):
Điểm 3 Điểm 4
Ngành tảo
T1 T2 T3 T4 T1 T2 T3 T4
Bacillariophyta 20133
(98%)
11577
(69%)
887
(78%)
1680
(90%)
45260
(97%)
2787
(86%)
2275
(98%)
3053
0 0 93
(3%)
Tổng cộng 20400 16714 1141 1867 46720 3227 2310 3239
Sinh lợng phù du thực vật ở các điểm nuôi thay đổi khác nhau ở các đầm và ruộng
nuôi. Mặc dù có sử dụng phân hữu cơ (phân gà khô và phân ba lá xanh) gây màu nớc khi
thấy sinh lợng phù du thực vật thấp, tuy nhiên trong quá trình nuôi do phải thêm nớc và
khi cần phải thay nớc nên sinh lợng ở các điểm thờng dới 50.000 tế bào/lít. Trong
trờng hợp đầm và ruộng có tôm chết là do tảo lam phát triển mạnh gây ô nhiễm môi
trờng nớc (nh ở điểm 1 vào tháng thứ 4).
4. Thu hoạch
Sau thời gian 3,5 tháng, các điểm đợc thu hoạch tỉa (chỉ thu tôm cỡ 30 - 35con/kg). Sử
dụng lú để thu tỉa. Kết quả thu tôm ở 4 điểm thu nh sau:
Điểm 1: Thu 450kg, năng suất 180kg/ha. Tỷ lệ sống đạt 27%.
Điểm 2: Thu 303kg/ha, năng suất 151,5kg/ha. Tỷ lệ sống đạt 20%.
Điểm 3: Thu 235kg/ha, năng suất 117,5kg/ha/vụ. Tỷ lệ sống 13%.
Điểm 4: Thu 224kg/ha, năng suất thu 112kg/ha/vụ. Tỷ lệ sống 12,7%.
Nhìn chung trong mô hình tôm - lúa sinh thái, năng suất thờng cao hơn một vụ trong mô
hình nuôi đầm quảng canh. Nguyên nhân chính là trong vụ lúa ngời ta đã bón phân cho lúa
làm cho đất màu mỡ hơn.
IV. KếT LUậN
Nuôi tôm sinh thái chủ yếu dựa vào thức ăn tự nhiên nên không thể thả tôm nuôi với mật
độ dày. Mật độ tơng đối phù hợp cho mô hình tôm - lúa là 2,5con/m
2
và mô hình tôm đầm
quảng canh là 3con/m
2
1vụ nuôi.
Nuôi tôm sinh thái sử dụng thức ăn tự nhiên, sử dụng ít phân hữu cơ gây màu cha làm ô
nhiễm môi trờng. Do đó không cần xử lý nớc thải ra.