DANH MỤC BẢNG VIẾT TẮT............................ Error! Bookmark not defined.
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ......................................................................... 3
1.1. Định nghĩa về lợi thế so sánh:......................................................................... 3
1.2. Giới thiệu lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo:................................. 3
1.3. Công thức RCA............................................................................................... 3
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG LÝ THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH VÀO MẶT HÀNG
MAY MẶC CỦA VIỆT NAM ................................................................................. 5
2.1 Chứng minh lợi thế so sánh của mặt hàng xuất khẩu may mặc....................... 5
2.2 Lợi thế về xuất khẩu hàng may mặc ở Việt Nam ........................................... 6
2.3 Các chính sách của Nhà nước trong hỗ trợ xuất khẩu hàng may mặc của Việt
Nam ........................................................................................................................ 7
CHƯƠNG 3: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC............................................................ 9
3.1. Thành tựu và cơ hội ........................................................................................ 9
3.2.Hạn chế và thách thức.................................................................................... 10
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................... 13
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lý thuyết thương mại quốc tế là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, phát triển từ
thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong các lý thuyết kinh tế thì lý thuyết
thương mại được coi là phát triển nhất và có tính hệ thống lô gíc với nhau. Lý
thuyết sau bao giờ cũng có sự kế thừa và phát triển của lý thuyết trước và mang
tính khoa học ngày càng cao, ngày càng sát với thực tiễn. Trải qua nhiều thế kỷ,
thực tiễn thường xuyên biến đổi, xã hội ngày càng hiện đại văn minh; nhưng các tư
tưởng của Chủ nghĩa Trọng thương, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith,
đặc biệt là lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo vẫn còn sống mãi, vẫn được
1.1. Định nghĩa về lợi thế so sánh:
Lợi thế so sánh là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế, khi các quốc
gia tập trung chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi những mặt hàng có bất lợi nhỏ
nhất hoặc những mặt hàng có lợi lớn nhất thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi.
1.2. Giới thiệu lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo:
Một học thuyết chủ đạo mà Ricardo đã phát triển ngày nay vẫn là những nền tảng
quan trọng là lý thuyết thương mại quốc tế (lợi thế so sánh):
Ricardo tập trung phân tích chi phí so sánh và tìm hiểu bằng cách nào để một quốc
gia thu lợi được từ thương mại khi chi phí thấp hơn tương đối. Ví dụ: thương mại
rượu vang và vải giữa Anh và Bồ Đào Nha. Ricardo chỉ ra rằng nếu một quốc gia
sản xuất hang hóa ở chi phí cơ hội thấp hơn, thì nên chuyên môn hóa vào đó. Và
tham gia trao đổi hang hóa quốc tế với quốc gia chuyên môn hóa ngành hàng khác.
Chẳng mấy khó khăn để nhận ra Bồ Đào Nha thì nên chuyên môn hóa ngành gì
trong lựa chọn rượu vang hay vải. Lý thuyết này vẫn đúng ngày nay. Nếu tất cả các
quốc gia đều chuyên môn hóa vào các lĩnh vực họ có lợi thế so sánh, mức phúc lợi
toàn cầu sẽ tăng lên đáng kể.
Thí dụ điển hình về lợi thế so sánh của Ricardo là thí dụ về trao đổi bông/rượu
Porto giữa Bồ Đào Nha và Anh. Nếu Bồ Đào Nha không thể sản xuất vải trong
những điều kiện thuận lời như ở Anh, nghĩa là nếu họ phải dành nhiều thời gian và
lao động hơn Anh, thì họ lại có lợi thế trong việc sản xuất rượu vang và họ dung
làm phương tiện trao đổi để mua vải bông ở Anh, nước này lại không thể sản xuất
rượu vang trong những điều kiện thuận lợi như ở Bồ Đào Nha.
1.3. Công thức RCA.
Balassa (1965) đã đưa ra công thức xác định lợi thế so sánh hiện hữu RCA. Công
thức được sử dụng khá phổ biến trong việc xác định lợi thế so sánh của từng mặt
hàng cụ thể trong từng thời kỳ nhất định. Công thức này là một trong công cụ được
sử dụng để xây dựng cơ sở dữ liệu về lợi thế so sánh của các thành viên trong Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO).
RCA= 100 (Xij/Xwj)/ (Xit/Xwt)
Trong đó:
13 211.7
2011
14 416.2
2012
17 933.4
2013
Sơ đồ số liệu:
Tốc độ tăng trưởng (%)
31.3
17.4
-0.6
23.54
23.54
25.38
18.7
Hình 2.1 Sơ đồ tình hình xuất khẩu ngành dệ may Việt Nam giai đoạn 20072009
Từ sơ đồ ta có thể thấy tình hình xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam tăng
trưởng khá tốt và ổn định (trừ năm 2009 do sức mua của thị trường giảm mạnh, hệ
5
quả từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, thế nhưng xuất khẩu của
ngành dệt may năm 2009 vẫn tương đối khả quan, là ngành duy nhất giữ vững
được kim ngạch xuất khẩu gần như năm 2008). Hàng dệt may Việt Nam đã được
xuất khẩu đi hơn 180 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới như thị trường Mỹ, Nhật
Bản, EU, các nước Đông Âu, các nước Trung Đông...Sự đón nhận của các thị
trường này chứng tỏ hàng dệt may của Việt Nam bước đầu đã có sự cạnh tranh về
giá cả và chất lượng sản phẩm trên thị trường quốc tế. Tỷ lệ đóng góp của ngành
6
xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, đặc biệt là Mỹ và Nhật với 31% các
mặt hàng quần áo, da giày được xuất sang khu vực này.
- Ngoài ra, lợi thế cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam còn nằm trong
mảng quần áo giá rẻ, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu và
đang trở thành địa điểm thu hút mới cho ngành may mặc giá rẻ như một lựa
chọn thay thế Trung Quốc.
- Cùng với nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là sự phát triển của
công nghệ kĩ thuật, đội ngũ lao động có tay nghề ngày càng chiếm tỉ lệ lớn
và sự ưu đãi từ các chính sách nhà nước, ngành dệt may đã thu được nhiều
kết quả đáng khích lệ, vừa tạo ra giá trị hàng hóa, vừa đảm bảo nhu cầu tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu.
- Bên cạnh đó, Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào, giá rẻ. Ước tính, Việt
Nam hiện có khoảng 2,5 triệu công nhân đang làm việc tại 6.000 nhà máy
trên toàn quốc. Số lượng nhân công trong ngành dệt may Việt Nam chạm
đỉnh vào năm 2015, trong khi ở quốc gia dệt may giá rẻ Bangladesh phải đến
năm 2030 mới chạm đỉnh, theo Ngân hàng Thế giới (WB).
2.3 Các chính sách của Nhà nước trong hỗ trợ xuất khẩu hàng may mặc của
Việt Nam
- Tháng 2/2013, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu Tập đoàn
Dệt May Việt Nam (VINATEX) giai đoạn 2013 - 2015. Mục tiêu nhằm bảo
đảm VINATEX tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính. Trên cơ
sở đó hình thành chuỗi cung ứng sợi - dệt - nhuộm - may; nâng cao giá trị
gia tăng trong sản phẩm dệt may, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh
tranh của VINATEX, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đồng
thời, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Công ty mẹ - Tập đoàn Dệt May Việt
Nam khẩn trương thực hiện cổ phần hóa trong năm 2014. Theo đó, sau khi
tái cơ cấu sẽ có 4 doanh nghiệp do Công ty mẹ - Tập đoàn nắm giữ 100%
tiêu chuẩn môi trường về nước thải. Song song đó, Chính phủ đã chỉ đạo các
ban ngành liên quan đẩy nhanh tiến độ đa dạng hóa thị trường nhập khẩu các
mặt hàng nguyên phụ liệu. Tại thị trường nội địa thực hiện đẩy mạnh kết nối
cung cầu trực tiếp giữa nhà sản xuất nguyên phụ liệu nước ngoài với DN sản
xuất hàng xuất khẩu.
Sự tồn vong của DN dệt may trên thị trường nội địa cũng như thị trường thế
giới phụ thuộc rất lớn vào sự chủ động cải cách hoạt động sản xuất và tận
dụng chính sách hỗ trợ từ phía nhà nước. Đặc biệt là trong bối cảnh số lượng
các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam đang gia
tăng nhanh chóng nhằm đón đầu các hiệp định thương mại tự do như TPP,
FTA Việt Nam - EU, FTA Việt Nam - Hàn Quốc…
8
CHƯƠNG 3: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
3.1. Thành tựu và cơ hội
Ngành công nghiệp may mặc xuất khẩu Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ
và được nhiều đơn vị, thành phần kinh tế tham gia. Thực tế cho thấy từ sau khi
Việt Nam gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế, ngành dệt may Việt Nam có cơ
hội tiếp cận công nghệ, thông tin, các dịch vụ cũng như có kinh nghiệm quản lý tốt
hơn và được bình đẳng về thuế quan giữa các nước thành viên. Với những lợi thế
riêng như ổn định chính trị, năng suất, chi phí nhân công thấp, đáp ứng được sự đa
dạng về các chủng loại hàng may mặc..., Dệt May Việt Nam đang ngày càng khẳng
định được uy tín trên thị trường thế giới và đứng trong top các nước xuất khẩu cao.
Theo nghiên cứu mới nhất của Tổ chức Xúc tiến xuất khẩu từ các nước đang phát
triển sang EU (CBI) thuộc Bộ Ngoại giao Hà Lan, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
hàng dệt may trong giai đoạn 2009 - 2013 của Việt Nam đạt mức cao nhất thế giới
với 32%, trong khi đó Trung Quốc đạt 15%, Ấn Độ 10%, các nước Thổ Nhĩ Kỳ,
Malaysia, Thái Lan đạt mức 7%.
đúng các tiêu chuẩn khách hàng quốc tế đặt ra như về lao động, môi trường sản
xuất, trách nhiệm xã hội… Các tổ chức phi chính phủ và khách hàng lớn của dệt
may Việt Nam đều đánh giá Việt Nam là một hình mẫu của ngành công nghiệp dệt
may lành mạnh, đi liền với luật lao động rõ ràng và mức lương công bằng. Giám
đốc chương trình của dự án Better Work tại Việt Nam thuộc Tổ chức Lao động
Quốc tế (ILO) nhận định: “Việt Nam xác định con đường cạnh tranh dài hạn là bên
cạnh việc cung cấp dịch vụ lao động giá thấp là tăng cường và cải thiện hệ thống
luật pháp. Trong thập kỷ vừa qua, các điều kiện làm việc trong nhiều nhà máy đã
được cải thiện và công nhân được tôn trọng. Các công ty này luôn sẵn lòng giữ lại
các lao động làm được việc và công nhân cũng được hưởng các lợi ích như đào tạo
chuyên môn, nơi ở và bữa ăn miễn phí”.
3.2.Hạn chế và thách thức
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu cũng như có được những lợi thế trong nước
tuy nhiên theo các chuyên gia kinh tế nghiên cứu ngành dệt may của việt nam vẫn
tồn tại những điểm yếu nhất định như sau:
May xuất khẩu phần lớn theo phương thức gia công, công tác thiết kế mẫu,
mốt chưa phát triển, tỷ lệ làm hàng theo phương thức FOB thấp, hiệu quả
sản xuất thấp.
* Phương thức FOB là khái niệm chỉ việc sản xuất theo đơn đặt hàng của khách
hàng với các đơn hàng cụ thể.
10
ngành dệt và công nghiệp phụ trợ còn yếu, phát triển chưa tương xứng với
ngành may, không đủ nguồn nguyên phụ liệu đạt chất lượng xuất khẩu để
cung cấp cho ngành may, do đó giá trị gia tăng không cao. theo các nhà kinh
tế đã phân tích, tính theo giá so sánh, giá trị sản phẩm của ngành dệt luôn
tăng chậm hơn so với giá trị sản phẩm của ngành may mặc, cho thấy sự phụ
thuộc của ngành may mặc đối với nguyên phụ liệu nhập khẩu.
KẾT LUẬN
Trong vài năm trở lại đây, Việt Nam đã và đang ký kết các hiệp định thương mại
tự do để hòa mình vào với sân chơi chung của quốc tế. Điều này mang lại nhiều lợi
thế cũng như không ít khó khăn cho các mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là may mặc.
Mặc dù giá trị gia tăng trong ngành dệt may là chưa cao nhưng những gì mà ngành
dệt may làm được trong những năm qua là không thể phủ nhận. Xu hướng thế giới
đang thay đổi trong việc nhập khẩu các mặt hàng dệt may đem lại cho nước ta
nguồn thu đáng kể. Những lợi thế sẵn có như ổn định chính trị, chi phí nhân công
thấp, đáp ứng được sự đa dạng về chủng loại hàng may mặc,… đã giúp cho ngành
dệt may có mức tăng trưởng ổn định và khả quan dù các thị trường trên thế giới có
những biến động bất lợi. Phát huy lợi thế sẵn có và hạn chế những yếu điểm của
ngành trong thời gian tới là cực kỳ quan trọng khi mà sức ép cạnh tranh ngành
càng tăng như hiện nay. Để làm được điều này, không chỉ cần tới sự hỗ trợ từ phía
nhà nước mà bản thân ngành dệt may cũng cần nâng cao chất lượng sản phẩm như
năng lực đáp ứng tốt các yêu cầu trong đơn hàng theo phương thức FOB, nâng cao
kỹ năng quản lý, kỹ năng của các cán bộ xúc tiến thương mại được nâng cao,…
Mọi giải pháp sẽ chỉ có thể thực hiện hiệu quả được nếu được thực hiện bởi đội
ngũ lãnh đạo có tầm nhìn, quyết tâm, đồng lòng và đội ngũ lao động lành nghề.
Con người vẫn là yếu tốt then chốt của sự phát triển.
Từ những phân tích và góp ý như trên, nhóm chúng em hy vọng đã làm rõ được
tình hình cũng như lợi thế xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam. Tuy nhiên, vốn kiến
thức và hiểu biết của chúng em vẫn còn hạn chế nên bài làm khó tránh khỏi những
thiếu sót rất mong được thầy phân tích, chỉ bảo thêm.
12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ái Vân, Xuất khẩu dệt may: Hoa Kỳ vấn là thị trường chính, Sài Gòn online,