Ảnh hưởng của tannin chiết xuất từ thân và lá chè kết hợp với biochar bổ sung vào khẩu phần cơ sở đến tiêu hóa dạ cỏ và lượng methane thải ra trong điều kiện in vitro - Pdf 39

Ảnh hưởng của tannin chiết xuất từ thân và lá chè kết hợp với biochar bổ sung vào khẩu phần cơ
sở đến tiêu hóa dạ cỏ và lượng methane thải ra trong điều kiện in vitro
10.1. Ngoài nước (phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài trên thế giới,
liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài được trích dẫn khi đánh
giá tổng quan)
Chăn nuôi đóng góp khoảng 16% tổng khí methan của hành tinh, đứng sau nhiên liệu hóa thạch và
đất ngập nước (Johnson & Johnson, 1995), và khoảng 74% khí methan từ chăn nuôi là do chăn nuôi
gia súc nhai lại gây ra (Tamminga và cs., 1992). Chiến lược chủ yếu giảm thải khí methan từ bò sữa là
cải tiến chất lượng khẩu phần và tăng hiệu quả sản xuất sữa (Bell và cs., 2008). Cải tiến chất lượng
khẩu phần là giải pháp ngắn hạn, còn tăng hiệu quả sản xuất sữa là giải pháp chiến lược. Methane
thải ra từ bò sữa có thể giảm theo một hàm mũ nếu tăng năng suất sữa/bò sữa/năm (Garnsworthy,
2004). Giảm đầu con, tăng năng suất sữa/bò/năm là một cách để giảm khí thải methan từ chăn nuôi
bò sữa (O’Mara và cs. 2008). Cũng theo O’Mara và cs., (2008) nếu năng suất gia súc tăng lên thông
qua dinh dưỡng tốt hơn, năng lượng cần cho duy trì tính theo tỷ lệ phần trăm của tổng nhu cầu năng
lượng sẽ giảm đi, và CH4 đi cùng với nhu cầu duy trì giảm, vì vậy CH4/kg sữa hoặc thịt cũng giảm.
Tương tự như vậy, nếu năng suất gia súc được cải thiện, thì thời gian đạt khối lượng giết mổ giảm
nên tổng CH4 cho một đời gia súc cũng sẽ giảm (O’Mara và cs., 2008). Tuy nhiên, khi tăng năng suất
gia súc, tuổi đời của gia súc giảm, phải nuôi nhiều gia súc thay thế hơn nên CH 4 có khi lại tăng lên
(O’Mara và cs., 2008). Chiến lược giảm CH 4phải dựa trên toàn bộ chu kỳ sản xuất của một gia súc
(O’Mara và cs., 2008).
Chiến lược giảm CH4 ở dạ cỏ vì thế là tìm cách giảm tạo ra hydro, ngăn chăn và hạn chế quá trình
hình thành CH4, đưa hydro vào các sản phẩm trao đổi chất khác hoặc tạo ra các bể chứa hydro khác
(O’Mara và cs, 2008). Chiến lược dinh dưỡng giảm thiểu CH 4 là dựa trên cơ sở các nguyên lý này
(O’Mara và cs, 2008).
Từ các nghiên cứu trước đây, các nhà khoa học kết luận rằng có nhiều loại cây giàu tannin bổ sung và
khẩu phần ăn của gia súc nhai lại có thể làm giảm phát thải khí methane trong cả hai điều kiện in
vitro và in vivo. Trong điều kiện in vitro, khi bổ sung 20% Biophytum petersianum (có 4,3% tannin) và
Sesbania grandiflora (có 1,9% tannin) vào chất nền đã làm giảm lần lượt từ 17 – 25% và 9,2 -10,3%
lượng methan thải ra mà không ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa chất khô (Hariadi and Santoso, 2010).
Trong điều kiện in vivo, Grainger và cs (2009) đã bổ sung hai mức tannin (8,6 và 14,6 g/kg DMI) được
tách chiết từ Acacia mearnsii vào khẩu phần của bò sữa chăn thả ăn 4,5 kg thức ăn tinh. Kết quả cho

phát thải lớn nhất từ gia súc nhại lại. Như vậy, chúng ta cần có các nghiên cứu để định lượng được
lượng methane thải ra từ động vật nhai lại, xây dựng các chiến lược để hạn chế sự phát thải của loại
khí nhà kính này.
Từ trước đến nay, trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi chúng ta có hai quan điểm trái chiều nhau về vai
trò cũng như tác dụng của tannin. Một số nhà khoa học cho rằng tannin là một hợp chất kháng dinh
dưỡng vì tannin kết hợp với protein của thức ăn và với cả enzym đường tiêu hoá làm giảm tỷ lệ tiêu
hoá protein thức ăn, giảm thu nhận thức ăn, giảm sinh trưởng, giảm sản lượng của vật nuôi (Dương
Thanh Liêm, 2008) và cần phải khắc phục ảnh hưởng có hại của tannin bằng cách xử lý kiềm (bổ sung
urê) hoặc phối hợp thức ăn chứa tannin với sunphat sắt hoặc polyethilene glycol - 4000 (PEG-4000)
(Vũ Duy Giảng, 2001). Ngược lại, theo Nguyễn Xuân Trạch (2003) lại cho rằng bổ sung tannin vào
khẩu phần ăn của gia súc nhai lại ở mức thấp (20-40 g/kg vật chất khô thức ăn) sẽ làm tăng hiệu quả
sử dụng protein của gia súc. Để đạt được hai mục tiêu giảm thiểu methane và duy trì được tỷ lệ tiêu
hóa của khẩu phần, chúng ta cần phải xác định được nguồn tannin cũng như tỷ lệ bổ sung thích hợp
vào khẩu phần ăn của gia súc nhai lại.
Trong cây, ở các bộ phận càng được tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời thì hàm lượng tannin càng
cao. Trong khi đó, Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới, thời gian chiếu sáng hằng năm lớn.
Hầu hết các loài thực vật đều chứa một hàm lượng tannin nhất định. Đặc biệt các loài thực vật có vị
chát thì hàm lượng tannin khá cao. Ví dụ như tannin của lá chè chiếm 12,68% vật chất khô (Lê Tự
Hải, 2010), trong cây keo lá tràm (Acacia auriculiformis) và cây kim phượng (Bonducpina pulcierrina)
có hàm lượng tannin lần lượt là 16,63 và 7,69% vật chất khô (Hồ Thị Liễu, 2004)....Như vậy ta có thể
sử dụng nguồn tannin sẳn có từ thực vật bổ sung vào khẩu phần ăn của gia súc nhai lại để giảm thiểu
khí methane.
Tính cấp thiết


Trong những năm qua, số lượng vật nuôi nói chung và số lượng bò nói riêng đang có khuynh hướng
tăng trưởng mạnh mẽ theo từng năm. (Số lượng đàn bò thịt năm 2014 là 5,16 triệu con; bò sữa
227,6 nghìn con; đàn trâu 2,53 triệu con – Tạp chí Chăn nuôi số 1-2015).
Việc tăng trưởng mạnh mẽ số lượng bò thịt là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tăng lượng chất thải từ
chăn nuôi, đặc biệt là nguồn khí gây hiệu ứng nhà kính phát ra từ dạ cỏ. Hàng năm sản xuất chăn

2008) mà vẫn duy trì được tỷ lệ tiêu hóa của khẩu phần.
Mục tiêu
Xác định được ảnh hưởng của việc bổ sung tanin chiết xuất từ thân, lá chè và biochar vào khẩu phần
ăn đến khả năng giảm thiểu lượng khí methane thải ra môi trường từ dạ cỏ đồng thời tăng tỷ lệ tiêu
hóa VCK và chất hữu cơ của bò.


Xác định khẩu phần ăn hợp lý khi bổ sung tannin chiết xuất từ thân, lá chè và biochar trong chăn
nuôi bò nhằm giảm thiểu lượng khí methane thải ra môi trường từ dạ cỏ đồng thời vẫn duy trì hiệu
quả sử dụng của thức ăn cao.
Mục tiêu cụ thể:
Xác định ảnh hưởng của các mức tannin và biochar khác nhau khi có ure bổ sung làm chất nền
ảnh hưởng đến tổng lượng khí sản sinh,và tỷ lệ tiêu hóa trong điều kiện in vitro.
Xác định ảnh hưởng của các mức tannin và biochar khác nhau đến tỷ lệ tiêu hóa chất khô
(VCK) và chất hữu cơ (CHC) trong điều kiện in vitro.
Xác định lượng methane (CH4) thải ra ở dạ cỏ trong điều kiện in vitro ở các mức tannin khác nhau bổ
sung vào mẫu thức ăn (khẩu phần ăn).
Nội dung
PP nghiên cứu
14. CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
14.1. Cách tiếp cận
Để phát triển các chiến lược giảm thiểu khí methane sản sinh ra từ gia súc nhai lại, chúng ta phải xác định được
lượng methane thải ra. Hiện nay, có nhiều kỹ thuật khác nhau được sử dụng để đo lượng methan thải ra trong
điều kiện in vitro và từ cá thể hay nhóm động vật. Mỗi phương pháp có những ưu, nhược điểm riêng. Trong
những năm gần đây, các phương pháp được sử dụng phổ biến để định lượng methane bao gồm:
Kỹ thuật hô hấp do nhiệt lượng
Sử dụng kỹ thuật hô hấp do nhiệt lượng để đo methane là phương pháp truyền thống của các nhà dinh dưỡng
gia nhai lại. Chúng được dùng để thu thập hầu hết các thông tin liên quan đến phát thải khí methane từ gia súc.
Kỹ thuật này có nhiều thiết kế khác nhau như buồng hô hấp, head hood, hay mặt nạ... Nhưng chúng đều có quy
luật chung là một vòng tuần hoàn khí mở (Blaxter, 1962). Hệ thống chỉ có 1 lỗ (head hood, mặt nạ) hoặc 2 lỗ

Trong đó QCH4 là lượng khí methane sản sinh (g / ngày); QSF6 là tỷ lệ giải phóng (g / ngày) của SF6 từ ống
thấm, [CH4] và [SF6] được đo nồng độ trong ống đựng.
Johnson và cs (1994) so sánh giữa 55 lần đo sử dụng kỹ thuật SF6 với 25 lần đo sử dụng kỹ thuật buồng hô hấp
trên bò và cho thấy rằng lượng methane ước tính bằng SF6 tương đương 93% lượng methane thu được từ
buồng hô hấp. Sự khác biệt này là không đáng kể. Trong các nghiên cứu của Pinares-Patino (2000) so sánh trên
bê sữa và Boadi và cs (2002) xác định trên cừu cũng cho kết quả tương tự.
Ưu điểm của kỹ thuật này là không hạn chế sự vận động của động vật, không cần thiết phải thu mẫu trực tiếp
từ dạ cỏ và họng của gia súc. Nhược điểm là (i) SF6 có tác động gây hiệu ứng nhà kính gấp 23.900 lần so với
CO2, thời gian tồn tại trong khí quyển 3.200 năm (Machmuller and Hegarty, 2005); (ii) SF6 còn tồn lưu trong thịt
và sữa động vật; (iii) Con vật cần phải huấn luyện để đeo dây và hộp thu khí.
Kỹ thuật sinh khí in vitro
Kỹ thuật sinh khí in vitro được sử dụng để mô phỏng quá trình lên men dạ cỏ trong phòng thí nghiệm từ lâu
(Storm và cs., 2012). Trong những năm gần đây, các khí nhà kính phát thải từ nông nghiệp ngày càng tăng. Do
đó, kỹ thuật sinh khí in vitro truyền thống đã được thay đổi để xác định các loại khí này đặc biệt là khí methane.
Trong kỹ thuật sinh khí in vitro, thức ăn được ủ với hỗn hợp dịch dạ cỏ, dung dịch đệm và các khoáng chất ở
390C trong một khoảng thời gian nhất định, cụ thể là 24, 48, 72 và 96 giờ với ba lần lặp lai. Tổng lượng khí sinh
ra được ghi chép và thu lại đem phân tích thành phần của hỗn hợp khí để xác định số liệu về lượng methane
sản sinh ra. Đồng thời, kỹ thuật này cũng xác định được tỷ lệ phân giải in vitro của thức ăn. Như vậy, ta có thể
tính toán được khả năng giảm thiểu methane trong quá trình phân giải thức ăn. Kết quả của các thí nghiệm này
được thể hiện bằng lượng methane phát thải trên mỗi gam vật chất khô, vật chất khô tiêu hóa hay mỗi gam
NDF tiêu hóa. Có nhiều hệ thống sinh khí in vitro được sử dụng để xác định lượng methane ví dụ như xylanh
(Bhatta và cs., 2006; Blümmel and Orskov, 1993), mô phỏng dạ cỏ (rusitec) (Bhatta và cs., 2006), hệ thống gas
production tự động hoàn toàn (Pellikaan và cs., 2011).


Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, chi phí thấp. Một lúc ta có thể chạy hàng trăm nghiệm thức. Chúng
ta cũng có thể tăng số lần lặp lại của mỗi nghiệm thức để bảm bảo được độ tin cậy cao của các số liệu thu
được. Phương pháp này rất phù hợp với các nước đang phát triển, nơi mà nguồn kinh phí phục vụ cho nghiên
cứu chưa nhiều. Một nhược điểm lớn của phương pháp này là chỉ mô phỏng sự lên men dạ cỏ của thức ăn mà
không phải là quá trình tiêu hóa thức ăn của con vật. Hơn nữa, hệ vi sinh vật không có thời gian thích nghi

3,9

1. Cám ngô

2,5

1. Cám gạo

2,8

Tổng

100

VCK

25,2

Protein thô

13

ME

10,3 (MJ/kg)


Sau khi xác định được vật chất khô của mẫu (khẩu phần cơ sở) tannin và biochar sẽ được bổ sung vào khẩu
phần cơ sở với các tỷ lệ khác nhau kết hợp với ure với tỷ lệ cố định là 2%. Mẫu phối trộn này được gọi là khẩu
phần. Như vậy sẽ có khẩu phần (1 mẫu đối chứng, và mẫu thí nghiệm). Sau khi phối trộn, tất cả các mẫu này


Biochar (1.0%)+ 2% ure

3

Biochar (1,5%)+ 2% ure

3

Tannin (2%) + Biochar (0,5%)+ 2% ure

3

Tannin (2%) + Biochar (1.0%)+ 2% ure

3

Tannin (2%) + Biochar (1,5%)+ 2% ure

3

Tannin (4%) + Biochar (0,5%)+ 2% ure

3

Tannin (4%) + Biochar (1%)+ 2% ure

3

Tannin (4%) + Biochar (1,5%)+ 2% ure

Theo phương pháp của Menke và Steingass (1988) với thức ăn có độ hoà tan kém, thức ăn có hàm lượng xơ
cao khối lượng mẫu nên cân là 200 ± 5mg. Sau đó đặt lượng mẫu thức ăn vừa cân xuống đáy của xylanh (các
xylanh đã được rửa sạch, sấy khô) không để mẫu dính vào thành xylanh vì có thể gây sai số đối với kết quả sinh
khí. Mỗi mẫu thường được tiến hành với 3 xylanh. Lắp pittong đã được bôi trơn bằng vasơlin vào xylanh
(vasơlin giúp cho pittong có thể trượt dễ dàng khi bị đẩy bởi áp suất do cột khí sinh ra trong quá trình ủ, mặt
khác làm pittông trở lên kín khít với xylanh hơn để khí sinh ra không bị thoát ra ngoài). Không lắp pittông sát
tận đáy xylanh, để một khoảng trống để theo dõi xem xylanh có bị hở không sau khi đã buộc (kẹp) đầu còn lại.
Các xylanh đã chứa mẫu được đưa vào bảo quản trong tủ ấm 39 0C trước khi cho dung dịch ủ vào.
Dịch dạ cỏ lấy từ 2 bò mổ lỗ dò giống lai Sind ăn khẩu phần thức ăn (Cỏ voi, bột đậu tương, bột sắn, bột ngô,
cám gạo) theo tiêu chuẩn NRC (1996) (10-11 MJ/kgVCKvà 12-14% protein thô trong khẩu phần) nuôi cùng điều
kiện, trước khi cho ăn sáng để đảm bảo thành phần và hoạt lực của vi sinh vật trong dạ cỏ tương đối ổn định.
Dịch dạ cỏ lấy từ 2 bò ở cùng thời điểm khoảng 1lít rồi trộn với nhau, đựng trong một bình kín (để đảm bảo
yếm khí) và được giữ ấm trong bể (bồn) nước ấm 39 0C đến khi pha chế dung dịch ủ. Dịch dạ cỏ trước khi tiến
hành đem pha chế thành dung dịch ủ phải được lọc (có thể lọc bằng vải gạc) để đảm bảo loại trừ các mảnh
thức ăn lớn còn lẫn ở trong dịch dạ cỏ làm ảnh hưởng không tốt đến kết quả sinh khí trong thí nghiệm.
Chuẩn bị dung dịch đệm và pha chế dịch ủ
Dung dịch đệm thường gồm các loại sau: dung dịch đệm 1, dung dịch khoáng đa lượng, dung dịch khoáng vi
lượng, dung dịch Resazurin (dung dịch chỉ thị). Các dung dịch trên có thể được pha chế trước và bảo quản đến
ngay trước khi tiến hành thí nghiệm in vitro gas production thì pha chế thành dung dịch đệm 2 (dung dịch này
chỉ được pha chế ngay trước khi tiến hành thí nghiệm, nên thường gọi là dung dịch tươi). Các dung dịch đệm 1,
dung dịch khoáng đa lượng, dung dịch khoáng vi lượng, dung dịch đệm 2 được pha chế theo bảng 3 và 4
Bảng 3. Bảng pha chế các dung dịch đệm 1, dung dịch khoáng đa lượng, dung dịch khoáng vi lượng cần thiết và
dung dịch Resazurin
1. Dung dịch đệm 1

3. Dung dịch khoáng vi lượng

35 g NaHCO3

13,2g CaCl2 .2H2O

Bảng 4: Bảng pha chế dung dịch đệm 2

Thành phần

Lượng dung dịch cần tạo ra (ml)
500

1000

1200

1400

1500

2000

1. Nước cất (ml)

237,5

475

570

665

712,5

950


0,06

0,12

0,144

0,168

0,180

0,240

5. Resazurin (ml)

0,61

1,22

1,46

1,71

1,83

2,44

1. Nước cất (ml)

23,8


0,360

0,470

0,504

0,672

Dung dịch khử

Dung dịch đệm 2 sau khi pha xong được đổ vào một bình tam giác và đặt trong một bể nước ấm 38 - 39 0C
(trong nghiên cứu này đặt dung dịch đệm 2 trong máy khuấy từ có bể nước làm ấm) trong vòng 25 - 30 phút
sau đó cho dung dịch khử vào và liên tục sục khí CO 2 vào bình tam giác để tạo môi trường yếm khí cho đến khi
mẫu dung dịch chuyển sang màu hồng nhạt sau đó chuyển màu sáng. Bình tam giác vẫn được giữ ấm và liên tục
được sục khí CO2 cho đến khi trộn lẫn dịch dạ cỏ vào. Dung dịch ủ bao gồm dung dịch đệm 2 và dịch dạ cỏ đã
được lọc trộn lẫn theo tỷ lệ dung dịch đệm 2/ dung dịch dạ cỏ là 2/1. Sau khi đã pha chế xong dung dịch đệm 2
và chuẩn bị xong dung dịch dạ cỏ tiến hành đổ dung dịch dạ cỏ vào bình tam giác nói trên theo tỷ lệ 1/2 và vẫn
tiếp tục sục khí CO2, dung dịch được tạo ra là dịch ủ. Dung dịch này được giữ ấm ở 38 - 39 0C và liên tục sục khí
CO2 cho đến khi bơm vào các xylanh chứa mẫu.
Tiến hành thí nghiệm
Sau khi đã pha xong dung dịch ủ, chuẩn bị xong các xylanh chứa mẫu tiến hành cho dung dịch ủ vào xylanh. Lấy
30ml dung dịch ủ cho vào xylanh giữ xylanh và đẩy hết không khí ra ngoài một cách nhẹ nhàng đến khi khí


thoát ra hết, buộc (kẹp) đầu kia lại và nhẹ nhàng đặt xylanh vào tủ ấm có quạt đối lưu đảm bảo nhiệt độ luôn
luôn là 39 ± 0,50C. Các xylanh chứa mẫu ủ với dịch ủ và các Blank (xylanh không có mẫu chỉ có dung dịch ủ)
được đặt trên cùng giá nhưng các vị trí ngẫu nhiên và đặt vào tủ ấm. Sau 30 phút kể từ khi ủ lắc nhẹ xylanh và
sau đó cứ một giờ lắc một lần trong suốt 10 giờ ủ đầu tiên. Ghi chép chỉ số "ml" trên xylanh ở thời điểm 0; 3; 6;
9; 12; 24; 48; 72 và 96 giờ sau khi bắt đầu ủ. Nhẹ nhàng cho thoát khí (xả khí) ra nếu pittong bị đẩy đến vạch

Dựa vào lượng khí sinh ra tại thời điểm 24h sau khi ủ, kết hợp với thành phần hóa học của từng mẫu thí nghiệm
để ước tính giá trị năng lượng trao đổi của chúng thông qua các phương trình của Vũ Chí Cương (2006)
ME (MJ/kg VCK) =11,8-0.198*CP+0,117*EE+0,107CF+0,0147*GP 24
Trong đó: GP24 (ml) là thể tích khí trong xylanh chứa mẫu tại thời điểm 24 giờ sau ủ, CP (%) là tỷ lệ protein thô,
CF (%) là tỷ lệ xơ thô, EE (%) là tỷ lệ lipit.
Hàm lượng axít béo mạch ngắn (SCFA) (mmol/200gVCK):
Dựa vào khí sinh ra tại thời điểm 24h sau khi ủ để ước tính hàm lượng axít béo mạch ngắn của từng loại cây
thức ăn giàu tannin thông qua phương trình của Getachew và cs (1999):
SCFA (mmol/200gVCK) = 0,0239*GP24 – 0,0601
Trong đó: GP24(ml) là thể tích khí trong xylanh chứa mẫu tại thời điểm 24 giờ sau ủ.
Ước tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ
Dựa vào lượng khí sinh ra tại thời điểm 24h sau khi ủ, kết hợp với thành phần hóa học của từng mẫu thí nghiệm
để ước tính giá trị năng lượng trao đổi của chúng thông qua các phương trình ước tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu
cơ (OMD %) của các loại thức ăn tinh của Vũ Chí Cương và cs (2006)
OMD = 50,4+0,66*GP24+0,127*DM-0,256*CP
Trong đó: GP24: thể tích khí sinh ra ở thời điểm 24 giờ sau ủ (ml/200 mg DM); CP (%) là tỷ lệ protein thô, DM (%)
là tỷ lệ vật chất khô.

Nội dung 3: Xác định ảnh hưởng của các mức tannin chiết xuất từ thân, lá chè và biochar khác nhau với ure bổ
sung vào làm chất nền đến một số chỉ tiêu của dung dịch dạ cỏ và lượng khí mêtan sản sinh trong điều kiện in
vitro.
Xác định lượng khí CH4
Lượng khí CH4 sản sinh được xác định theo 2 phương pháp như sau:
Phương pháp xác định phần trăm thể tích của CH4 bằng dung dịch NaOH (10M):
Bước 1: Tại thời điểm ủ 96 giờ lấy xylanh trong tủ ấm 39 0 C ra thu khí vào xylanh
Bước 2: Chuyển toàn bộ lượng khí thu được vào lọ thủy tinh có dung tích 100 ml.
Bước 3: Hút V1 ml khí từ lọ thủy tinh vào trong xylanh 100 ml
Chuẩn bị một xylanh 5 ml trong có chứa 4 ml dung dịch NaOH (10M).
Bước 4: Bơm từ từ dung dịch NaOH vào xy lanh 100 ml vừa hút mẫu ở bước 3 sau đó lắc đều (1 lần/phút) trong
vòng 5 phút, đọc thể tích V2 sau khi NaOH đã hấp thụ hoàn toàn CO 2 (Demeyer và cs, 1988; Fievez và cs, 2005)

Mức Tannin x + mức Biochar y+2%
ure

3

Control +2% ure

3

Thí nghiệm được tiến hành trên 12 bò đực Vàng laisind có độ tuổi và cân nặng tương đương nhau. Xem lại
phần này
Thí nghiệm sẽ được tiến hành trong ba tháng, các chỉ tiêu theo dõi bao gồm:
Lượng thức ăn thu nhận: Được tính toán bằng cách cân tổng lượng thức ăn cho ăn vào sáng sớm và cân lại
lượng thức ăn thừa vào buổi chiều tối.
Bò sẽ được cân hàng tuần để tính toán khả năng sinh trưởng thông qua các chỉ tiêu sinh trưởng tuyệt đối/ngày;
sinh trưởng tương đối (%).
Dựa trên các số liệu thu thập được các chỉ tiêu như: FCR, hiệu quả kinh tế sẽ được tính toán.


15.2. Tiến độ thực hiện
Hiệu quả KTXH
- Góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và giảng dạy cho giảng viên, giúp đào tạo đội ngũ giảng
viên trẻ.
- Kết quả của đề tài sẽ góp phần làm phong phú thêm cơ sở dữ liệu về khả năng giảm thiểu khí
methane của một số phụ gia bổ sung
- Kết quả của đề tài được ứng dụng trong chăn nuôi trâu bò như là một biện pháp nhằm giảm thiểu
lượng khí methane thải ra môi trường từ dạ cỏ đồng thời vẫn duy trì hiệu quả sử dụng của thức ăn.
- Góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do giảm thiểu được lượng khí methane thải ra từ dạ cỏ
bằng việc sử dụng những phụ phẩm có sẵn, rẻ tiền.
ĐV sử dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status