1
THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Công bằng xã hội là nguyện vọng cơ bản của con người, kết quả
tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản là mục đích,
thuộc tính bản chất của chủ nghĩa xã hội (CNXH). Công bằng xã hội
được thể hiện đầy đủ trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội, đồng thời nó còn là một nội dung quan trọng của chính
sách xã hội - xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, tư tưởng về công bằng xã hội
trong lịch sử và hiện nay cũng còn nhiều quan niệm khác nhau, nhất là
trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Nhận thức và thực hiện công bằng xã
hội như thế nào cho phù hợp với tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa
nói chung và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước đang đặt ra nhiều
vấn đề cần phải nghiên cứu, làm sáng tỏ cả về phương diện lý luận cũng
như thực tiễn.
Mục tiêu của sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta ngay từ những
năm đầu là phấn đấu xoá bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công và thực hiện
công bằng xã hội. Trải qua 20 năm đổi mới, tiêu chí công bằng xã hội
ngày càng hiểu thấu đáo hơn và việc thực hiện nó đã mang lại nhiều
thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, đi vào thực hiện công bằng xã hội
trong thực tiễn cuộc sống thấy nảy sinh nhiều vấn đề về cách hiểu và
cách làm. Vì thế cùng với sự hoàn thiện dần dần theo thời gian của quan
niệm về CNXH, quan niệm về công bằng xã hội và thực hiện công bằng
xã hội cũng ngày càng được quan tâm và là yếu tố để xác định tính định
hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước ta. Hiện nay, sự nghiệp đổi mới
của đất nước đang bước vào chặng đường mới, thực hiện nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ, phải
2
3
Loài người ngay từ buổi bình minh, bản chất của họ đã thể hiện sự
công bằng xã hội, tuy còn ở trình độ thấp và phạm vi hẹp. Khi xã hội
loài người có sự phân chia thành giai cấp thì giai cấp thống trị, bóc lột,
đặc biệt là giai cấp tư sản đã bóp méo và trà đạp một cách tàn nhẫn lên
sự công bằng xã hội, do đó trong lịch sử đã diễn ra những cuộc đấu tranh
cho công bằng xã hội với những tính chất, quy mô và hình thức đa dạng
khác nhau. Lịch sử của thời kỳ nô lệ và phong kiến là lịch sử đấu tranh
giai cấp giữa nô lệ với chủ nô và nông dân với địa chủ, phong kiến,
thông qua những cuộc đấu tranh tư tưởng về công bằng xã hội đã xuất
hiện và phần nào đã phản ánh được những vấn đề về quyền lợi và nghĩa
vụ của người nông dân đối với xã hội và trong mối quan hệ con người
với con người. Đầu thế kỷ thứ XVI, Muyn-xơ người Đức là một nhà
thần học theo tôn giáo nhưng ông đã đứng trên lập trường người nông
dân để chống lại áp bức, bất công, ông đã kịch liệt mỉa mai, phê phán xã
hội đương thời ở nước Đức và tuyên bố: phải xây dựng một trật tự xã
hội, trong đó mọi cái đều là của chung và mỗi người đều phải lao động,
phải thủ tiêu hết mọi đặc quyền, đặc lợi, phân phối theo nhu cầu, mọi
người bình đẳng hoàn toàn, cái thiên quốc của ông mơ tưởng đó là một
chế độ xã hội trong đó không còn có sự khác biệt giai cấp, không còn có
sự tư hữu về tài sản, không có sự đối lập giữa các thành viên trong xã
hội.
Tô mát Mo-rơ (1478-1535) người Anh, với tác phẩm “Utopi” đánh
dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội không tưởng, ông đã phê phán kịch
liệt xã hội đường thời ở châu Âu mà trực tiếp là ở nước Anh bằng hình
tượng “cừu ăn thịt người” và chỉ rõ nguyên nhân của sự thối tha của chế
độ xã hội đương thời là chế độ tư hữu, theo ông: “với chế độ tư hữu thì
không thể nói đến công bằng và cũng không thể nói đến hạnh phúc của
trong xã hội. Xanh xi Mông cho rằng: mọi người đều có quyền lao động,
5
ai có năng lực thì giao nhiệm vụ quan trọng, trong xã hội mới mọi người
đề được sống trong trạng thái hòa bình, bình đẳng và công bằng; ông phê
phán xã hội đương thời là xã hội lộn ngược vì những người không có
năng lực điều khiển những người có năng lực và người vô đạo đức có
nhiệm vụ dạy đức hạnh cho công dân. Phu-ri-ê cho rằng dưới chủ nghĩa
tư bản, sự nghèo khổ lại sinh ra từ chính bản thân sự thừa thãi, trong chế
độ văn minh thì đâu đâu dân chúng cũng nhan nhản những kẻ bất hạnh,
những người nghèo khổ mất hết quyền kể cả quyền lao động, trước pháp
luật thì mọi người được bình đẳng trên danh nghĩa, nhưng trên thực tế
thì lại chịu sự bất bình đẳng do đó, ông tìm mọi cách để chứng minh sự
bất công, thối nát của xã hội văn minh và khẳng định cần phải lật đổ nó
để xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng và tốt đẹp hơn trong đó
mọi người đều có quyền lao động, có quyền có tư liệu để sinh sống.
Trong xã hội có sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập
thể, ông nhấn mạnh giai đoạn đầu của xã hội này là giai đoạn bảo đảm
mỗi người đều được lao động để sinh sống không bị nghèo túng.
Bản chất bóc lột của giai cấp tư sản trong chủ nghĩa tư bản ngày
càng làm tăng thêm sự nghèo nàn, sự bất công. Sự phân chia đẳng cấp rõ
rệt và làm tha hóa bản chất con người. Theo Ô-eon, dưới chủ nghĩa tư
bản đang tràn trề sự giàu có nhưng ở đâu đâu cũng có nghèo khổ, ông
coi việc thủ tiêu sự khác nhau về đẳng cấp, về giai cấp là cần thiết cho
công bằng xã hội và bình đẳng. Ông đã đề xướng một xã hội tương lai
với hình thức công xã dựa trên chế độ công hữu, dựa trên sự cộng đồng
về sở hữu, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, xã hội đó phải thủ tiêu
đẳng cấp, giai cấp và là cơ sở của bình đẳng xã hội; dân cư trên trái đất
dân lao động đặt vào tự do, bình đẳng, bác ái do cuộc cách mạng tư sản
1
1
M-A toàn tập, tập 20, NXBCTQG.H.1994, trang 34
M-A toàn tập, tập 4, NXBCTQG.H.1995, trang 616
7
đem lại đã không được thực hiện mà bị thay thế bằng một hệ thống bóc
lột mới- tư bản chủ nghĩa. Vì thế khi đưa ra quan niệm của mình về một
xã hội mới đem lại cho quần chúng nhân dân lao động những giá trị về
công bằng và bình đẳng, Mác đã coi việc tạo ra sự công bằng, bình đẳng
giữa người với người là nền tảng, là cơ sở của chế độ xã hội mới và coi
đó là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của chủ nghĩa cộng sản,
và trong xã hội đó “sự khác nhau trong hoạt động không gây ra một sự
bất bình đẳng nào cả, không gây ra một đặc quyền nào cả về phương
diện chiếm hữu và tiêu dùng”1. Đứng vững trên lập trường giai cấp công
nhân, Mác Ăng ghen đã vận dụng triệt để phép biện chứng duy vật vào
nghiên cứu hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa và khẳng định
các giai đoạn phát triển của nó, bao gồm giai đoạn thấp và giai đoạn cao,
ở giai đoạn thấp (CNXH ) thì công bằng xã hội xét về mặt kinh tế phải
tuân theo nguyên tắc phân phối theo lao động. Trong tác phẩm phê phán
cương lĩnh Gô-ta C. Mác chỉ rõ rằng: “trong xã hội chủ nghĩa sau khi đã
khấu trừ đi khoản cần thiết để duy trì sản xuất, tái sản xuất cũng như để
duy trì đời sống của cộng đồng, toàn bộ số sản phẩm của xã hội còn lại
sẽ được phân phối theo nguyên tắc: mỗi người sản xuất sẽ được nhận trở
lại từ xã hội một số lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng
lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội sau khi đã khấu trừ số lao
lừa bịp, những người lao động sẽ không bị phân tán bởi nền sản xuất
nhỏ, của cải lao động chung tích luỹ được sẽ phục vụ quần chúng nhân
dân chứ không áp bức họ. Sự thống trị đối với ngưòi lao động sẽ bị chấm
dứt cùng với mọi sự áp bức của bất kỳ một dân tộc nào, tôn giáo nào.
Tuy nhiên theo Lênin, dưới CNXH, bình đẳng và công bằng không có
nghĩa là ngang bằng nhau về mọi phương diện, nói một cách khác, dưới
CNXH, không thể thực hiện được công bằng, bình đẳng về mọi mặt.
Trái lại nói tới công bằng và bình đẳng trong CNXH , thì phải hiểu rằng,
đó là sự công bằng, bình đẳng xã hội, công bằng và bình đẳng về địa vị
xã hội của con người. Như vậy ngoài công bằng và bình đẳng xã hội,
1
C. Mác - Ăngghen, Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1995, tr. 33
9
trong CNXH vẫn còn những cái chưa công bằng và bình đẳng khác đó là
điều tất yếu và không thể tránh khỏi. Khi giải thích tư tưởng của Mác về
hai giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa,
Lênin cho rằng: “Trong khi bác bỏ câu nói mơ hồ về tiểu tư sản của Látxan về “bình đẳng” và “công bằng” nói chung, Mác vạch ra tiến trình
phát triển của xã hội cộng sản, xã hội này thoạt đầu bắt buộc phải phá
huỷ chỉ riêng cái “điều bất công” này: việc cá nhân chiếm hữu tư liệu
sản xuất làm của riêng, nhưng không đủ sức phá huỷ những điều bất
công khác nữa, tức là việc phân phối vật phẩm tiêu dùng “theo lao động”
(chứ không theo nhu cầu)1. Lênin cho rằng sự phân chia xã hội thành
giai cấp là nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng và công bằng trong xã
hội và khi còn sự khác biệt giai cấp giữa công nhân và nông dân còn tồn
tại thì chúng ta không thể nói đến sự bình đẳng và không đề phòng để
khỏi làm lợi cho giai cấp tư sản”2.
Vận dụng trung thành và sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin về công bằng xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã lãnh đạo đất nước giành độc lập dân tộc, đưa cả nước đi lên
CNXH. Quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt
Nam cũng là quá trình lãnh đạo đất nước đấu tranh cho công bằng xã hội
của con người và dân tộc Việt Nam, từng bước khắc phục, xoá bỏ dần sự
bất bình đẳng và công bằng xã hội về mục tiêu xuyên suốt của cách
mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH. Hiện nay chúng ta đang
thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong bối
cảnh quốc tế có nhiều thời cơ lớn nhưng thách thức cũng không nhỏ.
Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp cho công bằng, tự do, bình đẳng
trên thế giới tiếp tục diễn ra gay gắt; xu thế hoà bình hợp tác và phát
triển là nhu cầu bức xúc của các quốc gia dân tộc. Cuộc đấu tranh vì hoà
bình, độc lập dân tộc, dân chủ, dân sinh, tiến bộ và công bằng xã hội
đang là đòi hỏi cấp thiết của từng đất nước và có những phát triển mới,
trong đó cuộc đấu tranh cho công bằng xã hội đang là đòi hỏi cáp thiết
11
của từng đất nước và có những phát triển mới, trong đó cuộc đấu tranh
cho công bằng xã hội là một vấn đề được quan tâm đặc biệt, trong từng
quốc gia, dân tộc và cả thế giới. Tình hình trên thế giới đang tác động
mạnh mẽ đến nước ta trong đó cơ hội và thánh thức là sự đan xen lẫn
nhau tác động rất lớn đến thực hiện công bằng xã hội.
Sau 20 năm đổi mới, đất nước ta đã giành được những thành tựu
hết sức to lớn vè kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trong đó công bằng
xã hội ở nước ta cũng giành được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực của
đời sống xã hội. Tuy nhiên trong thực hiện công bằng xã hội, vẫn còn
những mặt yếu kém và bất cập cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Những thách thức đặt ra đối với nước ta là: tụt hậu xa hơn về kinh tế;
nhiều giá trị, chuẩn mực truyền thống dân tộc được phát huy phù hợp
với điều kiện của đất nước; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
được cải thiện rõ rệt, trình độ dân trí nguồn nhân lực và tính năng động
trong xã hội được nâng lên; tỉ lệ đói nghèo từng bước được giảm xuống.
Trong xã hội, cơ hội có việc làm, được chăm sóc sức khoẻ, học tập, nâng
cao trình độ, hưởng thụ cá giá trị văn hóa tinh thần của nhân dân được
Đảng, Nhà nước ta quan tâm giải quyết hợp lý; sự phát triển về kinh tế
xã hội giữa các vùng, miền; giữa nông thôn và thành thị, miền núi và
miền xuôi đã tạo ra sự đồng thuận cho nhân dân, để từng bước khắc
phục sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội. Đánh giá thành tựu sao 20
năm đổi mới đất nước, Đảng ta khẳng định: “Việc gắn phát triển kinh tế
với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt, nhất là trong công
cuộc xoá đói giảm nghèo; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải
thiện”2. Trong đó thành tựu về việc giải quyết bình đẳng và công bằng
, Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006, tr. 14,
63
2 3
13
xã hội là một tiến bộ rất lớn làm cho lòng tin của nhân dân đối với chế
độ, với Đảng, Tổ quốc và công cuộc đổi mới ngày càng tăng lên.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trên, với quan
điểm nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng quy luật khách quan, đánh giá
đúng thực trạng của đất nước, chúng ta cần khẳng định rằng, sự phát
triển của đất nước ta trong những năm qua vẫn còn tồn tại nhiều yếu
kém, bất cập, trong đó việc thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội còn
những hạn chế nhất định đó là: trên lĩnh vực kinh tế, nền kinh tế nước ta
nghiệp, thu nhập đang là vấn đề nổi cộm, bức xúc của xã hội. Giáo dục
và đào tạo chất lượng còn thấp, tiêu cực trong giáo dục đào tạo vẫn còn
xảy ra; mặt bằng dân trí không đồng đều, hiện tượng tái mù chữ xuất
hiện ở các vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, môi trường bị tàn phá. Công
tác quản lý hoạt động văn hoá, báo trí, xuất bản nhiều mặt bị buông lỏng,
tạo điều kiện cho sự xâm nhập của văn hóa tư sản, lối sống phương Tây,
lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền có cơ hội tấn công làm mất đi
những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn
hóa tiến bộ của nhân loại ở nước ta. Việc chăm sóc sức khoẻ và khám
chữa bệnh cho nhân dân còn nhiều bất cập; mức sống của nhân dân giữa
các vùng còn chênh lệch cao. Chính sách tiền lương và phân phối bảo
hiểm trong xã hội còn nhiều bất hợp lý; tệ nạn xã hội có chiều hướng gia
tăng, trật tự an toàn xã hội, an toàn giao thông đang là vấn đề bức xúc,
gây ảnh hưởng trực tiếp và giảm hiệu quả thực hiện công bằng xã hội ở
nước ta.
Từ thực trạng tình hình đất nước qua 20 năm đổi mới, trong đó có
cả những thành tựu và yếu kém trong việc thực hiện công bằng xã hội
của chặng đường đầu tiên trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta cho
thấy: thực hiện công bằng xã hội là một nội dung quan trọng của định
hướng xã hội chủ nghĩa và là một giá trị xã hội cần thiết phải được xác
15
lập và hiện thực hoá từng bước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước
ta. Nó không chỉ là nội dung quan trọng của chính sách xã hội, của định
hướng xã hội chủ nghĩa mà nó còn là vấn đề tất yếu khách quan trong
tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa; là một vấn đề cấp bách của nước
ta hiện nay nhằm thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội, công
bằng, dân chủ, văn minh.
Công bằng xã hội trên lĩnh vực phân phối giữ vị trí đặc biệt quan
trọng, bởi vì, đó là khâu cuối cùng trong hệ thống quan hệ sản xuất, quy
định trực tiếp tiêu dùng cá nhân. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, công
bằng xã hội không chỉ được thể hiện ở kết quả của sản xuất theo nguyên
tắc “làm việc ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau” hay “làm theo năng
lực, hưởng theo lao động”, mà còn thực hiện cả trong phân phối tư liệu
sản xuất. Đó là nhân tố quan trọng để giải phóng lực lượng sản xuất,
tiềm năng lao động và các nguồn lực. Thực hiện công bằng xã hội trong
lĩnh vực phân phối tư liệu sản xuất trực tiếp góp phần quyền làm chủ,
quyền dân chủ về kinh tế của nhân dân. Đó cũng là một nội dung quan
trọng của việc xây dựng quan hệ sản xuất mới, làm cho người lao động
đều được hưởng những thành quả của sản xuất do kết hợp giữa tư liệu
sản xuất và sức lao động đem lại. Hiện nay, Nhà nước ta đang thực hiện
nhiều hình thức phân phối, trong đó lấy phân phối theo kết quả lao động
và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, ngoài ra còn phân phối theo vốn, tài sản,
hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp phải tuân thủ pháp luật, hoàn thành
nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, tôn trọng lợi ích của người lao động,
thực hiện quy tắc an toàn lao động và bảo vệ môi trường sinh thái.
Công bằng xã hội không chỉ thể hiện ở mặt hưởng thụ quyền lợi
mà còn thể hiện nghĩa vụ, cơ hội của người lao động; thực chất là công
bằng xã hội được biểu hiện ở sự thống nhất, bình đẳng về quyền lợi và
nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cơ hội được cống hiến và hưởng thụ
17
của công dân. ở các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII,
IX và X được thể hiện theo từng cấp hoàn thiện. Nếu như ở Văn kiện đại
hội VII cho rằng, công bằng về cơ hội là “tạo cơ hội cho mọi người được
cống hiến và được hưởng thành quả của sự phát triển” thì đến Đại hội
nghĩa vụ của mình đối với tập thể, xã hội. Nhưng mỗi thành viên trong
xã hội phải dựa trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội đất nước để xác định
quyền lợi và nghĩa vụ, nhất là quyền lợi, tránh những đòi hỏi vượt quá
điều kiện kinh tế xã hội. Điều đó có nghĩa là quyền ở đây phải phù hợp
với trạng thái của nền kinh tế - xã hội. Mác đã từng nói: Quyền không
bao giờ có thể ở mức cao hơn trạng thái kinh tế của xã hội và cao hơn
trình độ văn minh của xã hội tương ứng với trạng thái kinh tế đó. Sự
thống nhất về quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống
hiến và hưởng thụ trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta được thể
hiện tập trung và nổi bật ở việc thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,
đó là quyền làm chủ xã hội trên thực tế của nhân dân lao động dới sự
lãnh đạo của Đảng và thông qua vai trò quản lý của Nhà nước xã hội chủ
nghĩa cụ thể là: quyền và nghĩa vụ của các thành viên xã hội trong phát
triển lực lượng sản xuất, trong việc hoàn thiện quan hệ sản xuất, trong
phân phối sản phẩm, trong bầu cử, ứng cử, lựa chọn, bãi miễn, kiểm tra,
giám sát hoạt động của Đảng và Nhà nước; quyền và nghĩa vụ tham gia
thảo luận, góp ý kiến vào đường lối, quan điểm của Đảng, quyền tham
gia và thực hiện pháp luật…quyền và nghĩa vụ được thông tin, tự do
ngôn luận, báo chí, phê bình, chất vấn các cơ quan Đảng, Nhà nước
nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ sự thống trị của giai cấp công nhân; quyền và
nghiã vụ được học tập, khám chữa bệnh, hưởng thụ các giá trị văn hoá
tinh thần, các phúc lợi công cộng, quyền cư trú, quyền bình đẳng giai
cấp, dân tộc, tôn giáo, bình đẳng nam nữ, quyền trẻ em…
19
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay công bằng xã
hội còn thể hiện trong đánh giá những cống hiến của nhân dân đối với
sự nghiệp cách mạng. Những ưu tiên, ưu đãi của xã hội đối với các gia
hội như thế nào cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cách mạng
nước ta là một vấn đề đòi hỏi Đảng, nhà nước và các tổ chức, các ngành,
các cấp, từng con người cụ thể phải tuân thủ theo những phương hướng,
giải pháp mà Đảng, Nhà nước ta đề ra. Hiện nay, tình hình quốc tế hết
sức phức tạp, nền kinh tế thị trường trong nước đang tiếp tục vận động
và nảy sinh những vấn đề mới, những thách thức đặt ra đối với thực hiện
công bằng và tiến bộ xã hội. Do vậy, thực hiện công bằng xã hội cần
thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, tiếp tục thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động
lực mạnh mẽ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thực hiện bình
đẳng trong các quan hệ xã hội và khuyến khích nhân dân làm giàu hợp
pháp.
Đây là giải pháp cơ bản, hàng đầu. Bởi vì, phân phối là khâu cuối
cùng của hệ thống quan hệ sản xuất, nó quy định trực tiếp đến lợi ích của
người lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh
tế. Nếu phân phối tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, phân phối sản phẩm
đúng đắn phù hợp và công bằng sẽ tạo nên động lực mạnh mẽ thúc đẩy
sản xuất phát triển, tăng trưởng kinh tế và tạo ra những tiền đề kinh tế cơ
bản cho việc thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, kích thích
tính năng động sáng tạo của nhân dân trong sản xuất.
Thời kỳ đổi mới, thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa đã khắc phục nhiều hạn chế từ hình thức phân phối bình quân
chủ nghĩa trước đây. Nếu trong nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp
người lao động thờ ơ, không quan tâp đế hiệu quả của sản xuất, thì trong
cơ chế thị trường lại ngược lại, kết quả lao động và hiệu quả kinh tế của
sản phẩm sẽ tác động một cách trực tiếp tới lợi ích của người lao động.
21
theo hiệu quả lao động, các nguồn lực đóng góp, các chính sách xã hội
đã thực sự kích thích người lao động.
Thứ ba, giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện, môi trường, làm
việc, cải cách cơ bản chế độ tiền lương của cán bộ, công chức theo hướng tiền tệ hoá. Thực chất của giải pháp này là giải quyết hài hoà mối
quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ cho người lao động. Vì vậy, đòi hỏi
Nhà nước và các cấp, các ngành bằng nhiều biện pháp tạo ra nhiều việc
làm cho người lao động thông qua việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng,
miền, mở mang các ngành nghề, cơ sở sản xuất, đào tạo lao động có tay
nghề cao, hợp tác lao động phát triển các làng nghề, đẩy mạnh phong
trào thanh niên lập nghiệp, làm giàu chính đáng. Bên cạnh đó Nhà nước
phải khảo sát, đánh giá đúng tỷ lệ, mức độ, giá trị sản phẩm của người
lao động trong các ngành nghề, khu vực khác nhau theo một giá trị
chung làm cơ sở để tính ngày công mà người lao động được hưởng. Xây
dựng một hệ thống chính sách tiền lương phù hợp, phản ánh đúng giá trị
sức lao động của các thành viên xã hội, trước hết là cho những người
hưởng lương, điều chỉnh tiền lương tuơng xứng với nhịp độ tăng thu
nhập trong xã hội, khuyến khích người có tài, làm việc giỏi, khắc phục
sự bất hợp lý về trợ cấp của người nghỉ hưu, thương bệnh binh và những
người có hoàn cảnh khó khăn, nạn nhân chiến tranh, tôn trọng thu nhập
hợp pháp của người lao động và sản xuất kinh doanh.
Thứ tư, Thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói, giảm nghèo,
chính sách trợ giá nông sản, bảo hiểm xã hội đối với ngưòi lao động,
chính sách ưu đãi xã hội, các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, uống nước
nhớ nguồn. Đây là giải pháp thiết thực góp phần quan trọng vào thực
hiện công bằng xã hội trong điều kiện nước ta còn nghèo nàn, sự chênh
lệch giữa các vùng, miền còn bất cập, hậu quả nặng nề do chiến tranh để
23
nước, nâng cao phẩm chất năng lực của đội ngũ cán bộ công chức, ngăn
chặn và đẩy lùi nạn tham nhũng, quan liêu, đặc quyền, đặc lợi, vi phạm
tới quyền dân chủ của nhân dân.
Các giải pháp trên đây là một thể thống nhất có mối quan hệ biện
chứng, tác động chi phối lẫn nhau, nhằm mục tiêu thực hiện có hiệu quả
công bằng xã hội phù hợp với nền kinh tế thị trưòng định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Vì vậy để thực hiện tốt công bằng xã hội
đòi hỏi chúng ta phải thực hiện đầy đủ hệ thống các giải pháp trên, có
như vậy chúng ta mới có điều kiện cơ sở, nền tảng để thực hiện công
bằng xã hội theo mục tiêu của CNXH.
KẾT LUẬN
Thực hiện công bằng xã hội và đấu tranh để thực hiện công bằng
xã hội là một quy luật tất yếu của sự phát triển xã hội loài người, phù
hợp với bản chất của chủ nghĩa xã hội và là động lực to lớn của cách
mạng xã hội chủ nghĩa nói chung và của cách mạng Việt Nam nói riêng.
Thực hiện công bằng xã hội phải được thể hiện ở sự công bằng, bình
đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, quyện hạn và trách nhiệm, cống hiến và
hưởng thụ của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Vấn đề căn bản, xuyên suốt để thực hiện công bằng xã hội ở nước ta
hiện nay là phải thực hiện nhất quán và lâu dài nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội; trong đó phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của
nước ta trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
phải thực hiện nghiêm nguyên tắc trong phân phối; làm theo năng lực;
hưởng theo lao động. Tuy nhiên, phấn đấu thực hiện công bằng xã hội
phải từ thấp đến cao, từ chưa toàn diện đầy đủ đến toàn diện đầy đủ và
25