Những giải pháp thực hiện công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN NHÓM 7
STT
Họ và tên
Chữ ký
Nhiệm vụ
1
Trịnh Văn Duy
Phần thuyết trình
2
Nguyễn Thị Thanh Nga
Phần thuyết trình
3
Lê Thị Ngọc Trinh
Phần đề xuất các giải
pháp
4
Phần làm tiểu luận
9
Nguyễn Thị Cẩm Ly
Phần đề xuất các giải
pháp
10
Cái Hữu Thùy Nhi
Phần câu hỏi
11
Phạm Thị Thảo Ly
Phần câu hỏi
12
Hoàng Trung Dũng
Phần làm tiểu luận
1
GVHD: TS. Phạm Thăng
Những giải pháp thực hiện công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN
Lời cảm ơn
Trước tiên, tập thể nhóm xin gửi lời cảm ơn tới TS. Phạm Thăng – Trưởng phòng chính
trị trường Đại Học Kinh tế TP.HCM - giảng viên bộ môn Đường Lối Cách Mạng Của Đảng
Cộng Sản Việt Nam đã tận tình truyền đạt kiến thức và nhiệt tình hướng dẫn để nhóm chúng tôi
có thể hoàn thành được bài tiểu luận này.
Xin chân thành cảm ơn nhóm trưởng và các thành viên Nhóm VII (chuyên đề 7) đã nhiệt
tình tìm kiếm thông tin cũng như trao đổi để bài tiểu luận được hoàn thành đầy đủ và đúng kế
hoạch.
Xin cảm ơn các anh chị trong lớp QT004 đã cùng chúng tôi có những buổi học thú vị
trong suốt thời gian qua.
Mặc dù đã cố gắng thực hiện bài tiểu luận trong phạm vi và khả năng cho phép nhưng
cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì thế tập thể nhóm rất mong sự quan tâm và đóng
góp từ phía Cô giáo và các anh chị để bài tiểu luận này được hoàn thiện hơn.
3
GVHD: TS. Phạm Thăng
TH: Nhóm 7
Những giải pháp thực hiện công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Mọi người đều biết, từ cuối những năm 70 đến giữa những năm 80 của thế kỷ trước, do
trường xã hội trong việc thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng, nhưng không sao
chép mô hình đó. Bởi tình hình kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa của mỗi nước
đều có đặc thù riêng, nên không thể áp dụng nguyên xi một mô hình nào đó từ bên
ngoài.
5
GVHD: TS. Phạm Thăng
TH: Nhóm 7
Những giải pháp thực hiện công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN
NỘI DUNG
I.
CÁC KHÁI NIỆM VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI.
Chúng tôi muốn lưu ý một điều là không được đồng nhất công bằng xã hội và bình
đẳng xã hội. Thực ra đây là hai khái niệm khác nhau.
Nói tới bình đẳng xã hội là nói tới sự ngang bằng nhau giữa người với người về 1
(hoặc vài) phương diện nào đó, chẳng hạn về kinh tế, chính trị, văn hóa. Còn công
bằng xã hội lại là 1 khái niệm mang tính lịch sử, bị quy định bởi hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Có thể nói mỗi xã hội đều có chuẩn mực riêng của mình về công bằng xã hội.
Chuẩn mực đó do hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của xã hội đó quy định.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa, tiếp thu các quan điểm của Mác – Ăngghen về tiến
bộ xã hội, Người khẳng định, trong chế độ xã hội thực dân, phong kiến, hoàn toàn
không có công bằng và bình đẳng xã hội. Người quan niệm, bình đẳng trước hết là
bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi, đồng thời việc thực hiện sự bình đẳng giữa người
với người trong mối quan hệ giữa thực hiện nghĩa vụ và hưởng thụ quyền lợi ấy chính
là thực hiện công bằng xã hội
phù hợp với những bước chuyển mới của đất nước trên con đường xây dựng
chủ nghĩa xã hội.(**)
Hiện nay, đất nước ta đang có tình trạng gia tăng phân hoá giàu nghèo và
bất bình đẳng do sự tồn tại của nhiều loại hình quan hệ sở hữu (có nhiều hình
thức đóng góp khác nhau vào sản xuất, do đó, tất nhiên sẽ không thể thực hiện
được một tỷ lệ hưởng thụ như nhau cho nhiều mức độ cống hiến còn rất khác
nhau. Đây là tất yếu khách quan. Điều này đòi hỏi Nhà nước phải có sự điều
chỉnh, điều tiết để kiềm chế tình trạng gia tăng bất bình đẳng. Đảng và Nhà
nước ta đã có nhiều chính sách nhằm tạo sự công bằng, bình đẳng giữa mọi
người dân trong xã hội như: công bằng về cơ hội, về tư liệu sản xuất (các chủ
thể đều có quyền ngang nhau về tiếp cận nguồn vốn, tư liệu sản xuất và những
điều kiện sản xuất kinh doanh nói chung dưới nhiều hình thức khác nhau); về
lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khoẻ, giáo dục đào tạo,…
Xét trên phương diện công bằng xã hội ,Việt nam đã đạt được những thành tựu đáng kể:
Nhìn chung, kinh tế đã đạt tốc độ tăng trưởng khá cao liên tục trong nhiều năm liền, đời sống
của đại đa số nhân dân được cải thiện rõ rệt. Riêng thời kỳ 1991 - 2005, GDP tăng 2,5 lần
.Tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 7% một năm.
7
GVHD: TS. Phạm Thăng
TH: Nhóm 7
Những giải pháp thực hiện công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN
Tốc độ tăng GDP cao nên GDP/người 1năm cũng tăng lên đáng kể,từ 289 usd (năm1995 )lên
thành 1000usd (năm 2009)
Tỷ lệ hộ nghèo đói theo chuẩn quốc tế giảm từ 58% xuống còn khoảng 25%. Và như vậy,
Việt Nam đã "hoàn thành sớm hơn so với mục tiêu Thiên niên kỷ: giảm một nửa tỷ lệ nghèo
vào năm 2015" mà Liên hợp quốc đề ra.
dẫn đến công bằng xã hội. Do đó, Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải biết tận dụng mặt
mạnh của cơ chế thị trường để giải phóng và phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, đồng thời phải kết hợp sử dụng các công cụ pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế
hoạch và sức mạnh vật chất của khu vực kinh tế nhà nước để khắc phục những khuyết tật
của thị trường nhằm bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân.
Cần xây dựng một Nhà nước pháp quyền XHCN với chế độ dân chủ, kinh tế, văn hóa
phát triển, kiên quyết xóa bỏ sự độc quyền, đặc quyền đặc lợi.
Phát triển chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa thực sự, nhân dân tham gia quyết định những
vấn đề trọng đại của đất nước. Thực hiện tốt phương châm: Dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra, dân hưởng lợi. Xóa bỏ sự độc quyền, lũng đoạn trong hoạt động kinh tế,
8
GVHD: TS. Phạm Thăng
TH: Nhóm 7
Những giải pháp thực hiện công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN
bảo đảm cho mọi người bình đẳng về quyền kinh doanh và làm nghĩa vụ đối với nhà
nước và xã hội.
-
Về kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc thực hiện công
bằng xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế có thể và cần phải làm tiền đề và
điều kiện cho nhau.
Tăng trưởng kinh tế tạo ra điều kiện vật chất để thực hiện công bằng xã hội và ngược lại,
thực hiện tốt công bằng xã hội lại trở thành động lực tinh thần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
GVHD: TS. Phạm Thăng
TH: Nhóm 7
Những giải pháp thực hiện công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN
•
Trong việc thực hiện đầu tư cho phát triển cần có quy hoạch và kế hoạch cụ thể để
cân đối hợp lý mức đầu tư cho các vùng lãnh thổ khác nhau. Việc dành mức đầu tư
cao hơn cho các vùng kinh tế động lực là rất cần thiết. nhằm tạo ra những đầu tàu
tăng trưởng để kéo toàn bộ đoàn tàu kinh tế Việt Nam đi lên. Song , không thể
không chú ý đầu tư thích đáng cho các vùng khác nhất là vùng sâu, vùng cao, vùng
xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng, chiến khu cũ, nhằm giảm
dần khoảng cách trình độ phát triển giữa các vùng này. Từng bước khắc phục tình
trạng bất công tự nhiên và bất công do lịch sử để lại, giữ vững ổn định chính trị xã
hội.đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước. Bên cạnh đó, cũng có thể áp
dụng thêm chế độ đảm phụ đối với những vùng có lợi thế về kinh tế-xã hội để hỗ trợ
•
cho những vùng kinh tế yếu hơn.
Khắc phục và hạn chế các khuyết tật của kinh tế thị trường về phân tầng xã hội và
•
phân hóa giàu nghèo .
Tạo điều kiện cho những người thiệt thòi có điều kiện vươn lên hòa nhập với cộng
Những giải pháp thực hiện công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN
Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, việc
thực hiện công bằng xã hội không thể chỉ dựa vào chính sách điều tiết và phân
phối lại thu nhập của các tầng lớp dân cư.
•
•
•
•
•
•
•
•
•
Kế thừa và phát huy thành quả của quá trình đổi mới hơn 20 năm qua, giờ đây, chúng
ta đã có thêm tiền đề và điều kiện cần thiết để bảo đảm cho mọi người dân, nhất là
những người thuộc các nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương, đều có cơ hội công bằng
trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về giáo dục, đào tạo, y tế, việc làm, tín dụng,
thông tin... để họ có thể lo liệu và dần dần cải thiện cuộc sống của bản thân và gia
đình, đồng thời góp phần xây dựng đất nước.
Trong những chính sách có liên quan đến phân phối lại tổng thu nhập quốc dân, bởi lẽ
khái niệm phúc lợi xã hội chỉ giới hạn trong phạm vi những lợi ích chung mà mọi
người dân đều được hưởng như nhau. Cần mở rộng chính sách phúc lợi xã hội thành
hệ thống chính sách an sinh xã hội nhiều tầng nấc
Những giải pháp thực hiện công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN
Thứ nhất: tiếp tục thực hiện nghiêm túc nguyên tắc phân phối chủ yếu theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực
khác vào quá trình sản xuất, kinh doanh.=> khuyến khích mọi người làm giàu theo
pháp luật
Thứ hai: trong việc thực hiện đầu tư cho phát triển, cần có quy hoạch và kế hoạch cụ
thể để cân đối hợp lý mức đầu tư cho các vùng lãnh thổ khác nhau. Việc dành mức đầu
tư cao hơn cho các vùng kinh tế động lực là rất cần thiết nhằm tạo ra những "đầu tàu"
tăng trưởng để kéo toàn bộ "đoàn tàu" kinh tế Việt Nam đi lên. Song, không thể không
chú ý đầu tư thích đáng cho các vùng khác, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng cao, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ, nhằm giảm dần
khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng này, từng bước khắc phục tình trạng
"bất công tự nhiên" và bất công do lịch sử để lại, giữ vững ổn định chính trị - xã hội
bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước
Thứ ba: Huy động nguồn lực trong nhân dân, xã hội hóa nhiệm vụ đền ơn đáp nghĩa,
xây dựng chương trình xóa đối giảm nghèo .Ban hành các chính sách (xã hội, BHXH,
cứu tế XH…).Ưu tiên đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng,phát triển giáo dục,y tế ở các
vùng sâu,vùng xa,vùng căn cứ cách mạng trước đây,vùng bị chiến tranh tàn phá và bất
lợi về kinh tế
Cần xây dựng hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng các dịch vụ
công thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân, tạo việc làm và thu nhập, chăm sóc sức
Thứ sáu: Khắc phục và hạn chế các khuyết tật của kinh tế thi trường về phân tầng xã
hội và phân hóa giàu nghèo. Tạo điều kiện cho những người thiệt thòi có điều kiện
vươn lên hòa nhập với cộng đồng. Tạo lập nếp sống văn minh, duy trì và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc, góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước.
KẾT LUẬN
13
GVHD: TS. Phạm Thăng
TH: Nhóm 7
Những giải pháp thực hiện công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN
Chỉ có trên cơ sở dựa vào công bằng xã hội để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời
kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội ngay trong từng bước và
trong suốt quá trình phát triển, chúng ta mới vừa bảo đảm được mục tiêu tăng trưởng kinh
tế, vừa thực hiện được định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường.
Công bằng xã hội ở Việt Nam tuy đã trải những chặng đường dài, nhưng còn tồn tại
không ít bất công. Việt Nam đang phấn đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội – đó là con đường
duy nhất đúng để đảm bảo công bằng xã hội theo nội dung mà nhân dân mong mỏi: mọi
người đều có công ăn việc làm; mọi người đều sống no đủ và hạnh phúc; dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(*)Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại Hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ IX; NXB
Chính Trị Quốc Gia Hà Nội, 2001, tr.88
14
GVHD: TS. Phạm Thăng