1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước trong thời đại ngày
nay, nguồn lực con người là yếu tố quan trọng nhất và là yếu tố chủ đạo
quyết định các nguồn lực khác. Bởi vậy, ở hầu hết các quốc gia trên thế
giới vấn đề nguồn lực con người được đặt vào đúng vị trí của nó.
Nguồn lực con người được phát huy không chỉ là động lực trực tiếp
mà còn là mục tiêu của sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Như Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VIII đã xác định: "Lấy việc phát huy nguồn lực con
người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững". Vấn đề đặt
ra là làm thế nào để con người có được vai trò và bằng cách nào để phát
huy được vai trò của nhân tố con người cho mục tiêu phát triển? Đó là câu
hỏi lớn đã và đang tiếp tục đòi hỏi phải tìm lời giải đáp.
Cũng như cả nước, tỉnh Kiên Giang chỉ có thể thực hiện thành công
công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) khi phát huy được cao độ
nguồn lực con người cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thực tế nguồn lực con người ở Kiên Giang chưa được phát huy và
sử dụng có hiệu quả, như: tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, việc làm
không thường xuyên,việc làm không hiệu quả... còn khá phổ biến, hơn nữa
nhiều tiềm năng quan trọng của nhân tố con người như trí tuệ, nền văn hóa
truyền thống... vẫn chưa được phát huy tốt trong quá trình đổi mới hiện
nay. Vì vậy, để nghiên cứu vạch ra những cơ sở khoa học cho việc phát huy
nguồn lực con người trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Kiên Giang là vấn đề
cấp thiết có ý nghĩa thực tiễn, lý luận quan trọng. Đó chính là lý do tôi chọn
đề tài "Vấn đề phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Kiên Giang" làm luận văn thạc sĩ triết học, chuyên
ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
3
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp để phát huy nguồn lực
con người trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Kiên Giang.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn không nghiên cứu nguồn lực con người với tư cách là
đối tượng của bộ môn tâm lý học, cũng không nghiên cứu nguồn lực con
người trong sự phát triển kinh tế với tư cách là đối tượng của khoa học kinh
tế học. Luận văn nghiên cứu nguồn lực con người dưới góc độ triết học
nhằm đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH.
Trên cơ sở nghiên cứu nguồn lực con người trong sự phát triển kinh
tế - xã hội, luận văn tập trung làm rõ vai trò, biện pháp và phương hướng
để phát huy nguồn lực ấy trong sự nghiệp CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh
Kiên Giang.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa
duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta về
con người mà nhất là về nguồn lực con người trong sự phát triển kinh tế xã hội nói chung, trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước là cơ sở lý luận
trực tiếp của luận văn này.
- Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính: logic
và lịch sử, trừu tượng và cụ thể, phân tích và tổng hợp... gắn lý luận với
thực tiễn.
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những phương pháp điều tra Xã
hội học.
6. Đóng góp của luận văn
4
Trong lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố con người được đề
cập với tư cách là lực lượng sản xuất chủ yếu, là phương tiện để sản xuất ra
của cải. Ở đây, con người được xem xét từ góc độ là những lực lượng lao
động cơ bản nhất trong xã hội. Việc cung cấp đầy đủ và kịp thời lực lượng
lao động theo nhu cầu của nền kinh tế, là vấn đề quan trọng nhất, bảo đảm
tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội.
Trong lý luận "vốn người" nhân tố con người được xem xét trước
hết như một yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển kinh
tế - xã hội và đến lượt nó, phát triển kinh tế xã hội lại là phương tiện nhằm
đạt mục đích phát triển nguồn lực con người. Đầu tư cho con người được
phân tích với tính cách là sự "tư bản hóa các phúc lợi" tương tự như đầu tư
vào các nguồn vật chất, có tính đến tổng hiệu quả các đầu tư này, hoặc của
thu nhập mà con người và xã hội thu được từ các đầu tư đó [55, 138]. Cách
tiếp cận này đang được áp dụng và phổ biến ở hầu hết các nước hiện nay.
Theo cách tiếp cận này, Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân
lực là toàn bộ "vốn người" (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp...) mà mỗi
cá nhân sở hữu. Ở đây, nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn
6
bên cạnh các loại vốn vật chất khác như tiền, công nghệ, tài nguyên, thiên
nhiên... Đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và
được coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững.
Cũng dựa trên cách tiếp cận này, Liên Hợp Quốc đưa ra khái niệm
nguồn lực con người: là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của
con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước. Đây được coi là một
yếu tố quan trọng bậc nhất trong kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
Còn theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam được thể hiện
trong chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước "Con người Việt
con người, tạo ra sự phát triển với mức sống vật chất cao, đời sống tinh
thần phong phú và văn minh hơn. Mục tiêu đó có thể đạt được nếu chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội phù hợp và gắn liền với sự phát triển con
người, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng và công bằng xã hội. Thực hiện
đồng bộ điều đó, con người mới phát huy được mọi mặt, khơi dậy được
tiềm năng và sức sáng tạo. Thể hiện đầy đủ vai trò quyết định của mình đối
với xã hội. Như vậy, con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của quá
trình phát triển xã hội.
Trong các thập niên qua, nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện
chiến lược quốc gia, nhằm phát triển con người và đã đạt nhiều thành tựu
quan trọng. Nhân loại sắp bước vào thế kỷ mới nhưng ở một số quốc gia,
khu vực, vẫn còn số lớn người dân nghèo đói, lạc hậu. Nam Á chiếm 2/5 số
người nghèo đói (515 triệu/ 1,3 tỷ người) [45, 61]. Châu Phi đang đối mặt
với đại dịch AIDS, nghèo đói, môi trường xuống cấp. Bất bình đẳng về
thu nhập giữa các quốc gia, khu vực và trên thế giới vẫn là vấn đề lớn của
nhân loại.
Từ sự nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng của con người là mục
tiêu và động lực của sự phát triển, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành một
hệ thống chính sách nhằm góp phần nâng cao chất lượng con người thông
qua đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, đồng thời tạo điều kiện để sử dụng và
phát huy có hiệu quả vốn con người - nguồn tài sản giá trị cao của quốc gia.
Năm 1991, Nhà nước Việt Nam đã thông qua "Chiến lược ổn định và phát
triển kinh tế - xã hội đến năm 2000", những chính sách đó đã góp phần
9
quan trọng vào sự phát triển con người ở Việt Nam trong thời gian qua,
thúc đẩy sự đi lên của đất nước.
Theo quan niệm của các tác giả Việt Nam thì phát triển nguồn lực
chất lượng nguồn lực con người, là cơ sở để sử dụng và phát huy con người
có hiệu quả.
Để làm rõ hơn quan niệm về nguồn lực con người và phát huy
nguồn lực con người, có thể đi sâu phân tích và làm rõ cấu trúc của nguồn
lực con người và việc phát huy nó trong quá trình CNH, HĐH đất nước.
1.1.2. Cấu trúc nguồn lực con người
Để tiến hành CNH, HĐH đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ
trương lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự
phát triển nhanh và bền vững. Đây là sự phát triển quan điểm truyền thống
coi con người là vốn quý nhất.
Trước đây, khi nói đến nguồn lực con người, người ta thường đồng
nhất với sức người trong sản xuất. Từ quan niệm đơn giản này, dễ dẫn đến
ngộ nhận sức người (sức lao động) trong hoạt động lao động sản xuất chỉ là
sức của cơ bắp. Nguồn lực con người trước tiên thể hiện ở sức người trong
sản xuất, song, không phải chỉ là sức cơ bắp mà cái cốt lõi, cái chủ yếu
trong nguồn lực con người ở thời đại ngày nay chính là hàm lượng trí tuệ,
là những phẩm chất tâm lý, đạo đức cần thiết, khả năng lao động sáng tạo,
hiệu quả v.v... của con người. Nguồn lực con người được hiểu như là sự kết
hợp giữa thể lực, trí lực, những phẩm chất, đạo đức, kinh nghiệm sống, nhu
cầu, thói quen vận dụng tổng hợp trí thức và kinh nghiệm của từng người,
của cộng đồng... cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt
động và triển vọng mới phát triển của con người; nguồn lực con người là
một tập hợp các chỉ số phát triển người, là chất lượng văn hóa mà bản thân
nó và xã hội, có thể huy động vào sự phát triển tiếp theo các giá trị văn hóa
của toàn xã hội vì lợi ích của cá nhân, và xã hội [2, 14]. Từ ý nghĩa đó,
nguồn lực con người Việt Nam được hiểu là những tiêu chí phản ánh về số
lượng và chất lượng của dân số, với tư cách là lực lượng sản xuất trong xã
11
12
những yếu tố khác - kể cả của cải, quyền lực, khoa học công nghệ mới...
Với ý nghĩa đó, khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu
quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người.
Tuy nhiên, trí tuệ với tư cách là một yếu tố của nguồn lực con
người không phải là những kiến thức trong sách vở, trong ngân hàng dữ
liệu hay trong chương trình phần mềm máy vi tính... Tri thức chỉ có thể trở
thành nguồn lực khi nó được con người tiếp thu, làm chủ và phát huy
chúng, hay nói theo cách nói của Mác, nó phải tồn tại trong nhân cách sinh
động của con người. Nghĩa là, chỉ những kiến thức nằm trong con người,
tồn tại trong vỏ não con người, được tạo ra, sửa đổi và hoàn thiện bởi con
người, được con người sử dụng, phát huy và truyền đạt lại mới được xem là
nguồn lực con người.
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện nay, đang đặt ra những
yêu cầu rất cao về trí tuệ của nguồn nhân lực - những người lao động. Họ
không những phải có khả năng tiếp thu những tri thức mới, vận dụng có
hiệu quả vào sản xuất mà còn phải biết thường xuyên tự đổi mới tri thức,
để không bị lạc hậu trước sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học
- công nghệ. Vì vậy, nguồn nhân lực cần thiết cho CNH, HĐH phải bao
gồm những người lao động có sự phát triển cao về năng lực, trí tuệ, đủ sức
làm chủ và tiếp thu công nghệ mới, có khả năng làm việc chủ động, linh
hoạt và sáng tạo, có khả năng sử dụng các công cụ, phương tiện lao động
hiện đại, tiên tiến...
Xuất phát từ yêu cầu đó, tiến hành CNH, HĐH nhất thiết phải nâng
cao trình độ học vấn chung của nguồn lực con người. Theo tổng kết của thế
giới, trình độ văn hóa tối thiểu của người dân phải có là tiểu học ở nền văn
minh nông nghiệp, trung học cơ sở ở nền văn minh công nghiệp và trung
khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hành động thực tế.
Bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH, yêu cầu về lao động trí
tuệ ngày một cao. Vì vậy, cần phải có những người lao động khỏe mạnh cả
về thể chất lẫn tinh thần mới đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất hiện
đại. Chỉ như vậy mới bắt nhịp cuộc sống hiện đại. Họ có thể làm việc dẻo
14
dai, có khả năng tập trung về trí tuệ cho công việc, có sức mạnh của niềm
tin và ý chí để phát huy tốt nhất vai trò của nguồn lực con người. Với ý
nghĩa đó, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân là một nhiệm vụ rất cơ bản để
nâng cao chất lượng nguồn lực con người, tạo tiền đề để phát huy có hiệu
quả tiềm năng con người.
Tiến hành CNH, HĐH còn đòi hỏi ở người lao động hàng loạt phẩm
chất lao động và nghề nghiệp như: kỷ luật tự giác, tiết kiệm nguyên liệu và
thời gian, có tinh thần hợp tác và tác phong lao động công nghiệp, có lương
tâm nghề nghiệp và trách nhiệm cao trước công việc được giao... Tất cả
những vấn đề đó, ngày nay được sử dụng trong một chỉ tiêu tổng hợp là
yếu tố văn hóa trong lao động. Đây là một yếu tố hết sức quan trọng để
đánh giá chất lượng nguồn lực con người nói chung và nguồn lực con
người cần thiết cho CNH, HĐH nói riêng.
Quá trình CNH, HĐH ngày nay còn đụng chạm đến các vấn đề
phức tạp trong quan hệ giữa con người và thiên nhiên mà chỉ có thể giải
quyết được nhờ trình độ văn hóa cao và sự hiểu biết sâu sắc của người lao
động trước môi trường sinh thái. Đây là vấn đề sống còn không chỉ của mỗi
quốc gia mà còn đối với nền văn minh nhân loại. Con người vốn có cội
nguồn từ thiên nhiên và không thể tách rời thiên nhiên trong sự tồn tại và
phát triển của mình. Vì vậy, sự hiểu biết và trách nhiệm cao trước vấn đề môi
trường sinh thái cũng là phẩm chất và năng lực cần thiết của nguồn lực
tộc không thể không tính tới yếu tố tinh thần được hình thành và phát triển
trên cơ sở truyền thống văn hóa dân tộc. Thực tế cho thấy, truyền thống
văn hóa của mỗi dân tộc luôn luôn góp phần hình thành nhân cách và bản
lĩnh, ý chí và lòng tự trọng, lối sống và làm việc... của dân tộc đó. Nếu biết
phát huy những truyền thống tốt đẹp sẽ tạo nên sức mạnh của cả dân tộc.
Bởi vậy, đây được coi là nguồn nội lực vô tận, có ý nghĩa hết sức quan
trọng đối với sự tồn tại và phát triển.
Chúng ta tiến hành công nghiệp hóa theo định hướng XHCN. Vì
vậy, nguồn lực con người cần thiết cho CNH, HĐH ở Việt Nam không chỉ
là những người lao động có năng lực cao về trí tuệ mà còn phải là những
16
công dân yêu nước, cần cù lao động và sáng tạo; có ý chí vươn lên và lòng
tự trọng dân tộc cao; phải nắm vững và không ngừng làm phong phú lý
luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh
cụ thể của Việt Nam...
Quán triệt những yêu cầu trên, cần chú trọng khơi dậy và phát huy
những truyền thống văn hóa dân tộc. Đồng thời cần tập trung nâng cao
nhận thức cho người lao động về đường lối, quan điểm của Đảng trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Từ đó, xây dựng những thế hệ con
người Việt Nam có bản lĩnh chính trị vững vàng, có niềm tin và quyết tâm
hoàn thành sứ mệnh CNH, HĐH đất nước. Đây là vấn đề rất quan trọng để
nhân tố con người Việt Nam không chỉ là chủ thể của quá trình công
nghiệp hóa mà còn là những công dân tốt bảo vệ thành quả cách mạng
trong tình hình mới hiện nay.
Tóm lại, nguồn lực con người là một phạm trù có nội hàm sâu,
ngoại diên mới rộng lớn. Nó không chỉ đơn thuần là nguồn lao động đã có
và sẽ có, mà còn bao gồm nhiều yếu tố vật chất và tinh thần khác nữa. Điều
lực con người, đến lượt nó, sự phát triển của nguồn lực con người lại là
điều kiện để phát triển kinh tế.
Thứ hai: Trình độ phát triển giáo dục - đào tạo.
Ngày nay, khi tiến bộ khoa học - công nghệ trở thành một nhân tố
trực tiếp của lực lượng sản xuất, là yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế
thì vai trò của nguồn lực con người ngày càng được đề cao. Trí tuệ, nhân
cách của con người là sản phẩm của giáo dục và đào tạo.
Chính phủ ở các nước trong những năm gần đây đều tăng các nguồn
lực đầu tư cho giáo dục, đào tạo nhằm phát triển nhanh nguồn lực con
người. Phương thức đầu tư cũng như quá trình phát triển giáo dục ở mỗi
nước có đặc điểm riêng, nên chất lượng nguồn lực con người ở các nước rất
khác nhau. Các nước công nghiệp phát triển và một số nước công nghiệp mới,
đầu tư rất lớn cho giáo dục, đào tạo (20% tổng ngân sách nhà nước) [49, 58],
nhằm phát triển nhanh chất lượng nguồn lực con người. Chính phủ các
18
nước đều nhận thấy một nền giáo dục hoàn chỉnh, đồng bộ và toàn diện sẽ
có khả năng cung cấp cho nền kinh tế quốc dân "đội ngũ các nhà khoa học,
những người lao động có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, năng động,
sáng tạo" [19, 5]. Đó là nguồn vốn quý giá để phát triển kinh tế và thực
hiện CNH, HĐH.
Đối với cá nhân mỗi người, giáo dục là quá trình hình thành, phát
triển, hoàn thiện nhân cách, thế giới quan với tình cảm, đạo đức... Đối với
xã hội, giáo dục là quá trình "tích tụ nguồn vốn con người" để chuẩn bị và
cung cấp nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với nước ta, giáo dục phổ thông là nền tảng, là cơ sở để đào tạo nguồn
lực con người. Giáo dục chuyên nghiệp trực tiếp sản xuất ra sản phẩm cung
cấp cho thị trường sức lao động, những người lao động với những tiêu chuẩn
HĐH đất nước đòi hỏi phải gắn động lực kinh tế với văn hóa nhằm đem lại
sự phát triển bền vững.
Quá trình hình thành và thực hiện sự bình đẳng về cơ hội phát triển
của mọi người; đề cao chất lượng cuộc sống; coi trọng giữ gìn bản sắc dân
tộc, gắn với phát triển văn minh của thời đại, đó chính là môi trường văn
hóa lành mạnh của quá trình CNH, HĐH. Môi trường văn hóa là cơ sở phát
triển con người cũng như nguồn lực con người đúng hướng, hạn chế những
tác động tiêu cực của cơ chế thị trường đối với nguồn lực con người.
Việc Nhà nước tạo lập môi trường văn hóa phù hợp cho sự phát
triển nguồn lực con người, là một nhân tố có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả,
thời gian và định hướng đúng đắn của sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam.
Thứ tư: Cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội vĩ mô của Nhà nước.
Các chính sách vĩ mô của nhà nước tác động trực tiếp đến nguồn
lực con người gồm: Chính sách giáo dục - đào tạo và đào tạo lại, chính sách
tuyển dụng, sử dụng lao động, chính sách tiền lương, thu nhập, bảo hiểm xã
hội, bảo hộ lao động...
20
Bằng hệ thống các chính sách kinh tế - xã hội, Nhà nước ta đã thiết
lập được môi trường pháp lý cho sự hoạt động và tạo điều kiện để phát huy
nguồn lực con người. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống các
chính sách luôn thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện, đồng thời phản
ánh bản chất của quan hệ sản xuất. Chính sách đúng đắn và hợp lý là môi
trường, động lực, đòn bẩy kích thích sự phát triển của cá nhân, cộng đồng
theo xu hướng tiến bộ. Ngược lại, các chính sách không phù hợp sẽ có tác
động kìm hãm sự phát triển, thui chột năng lực và tư duy sáng tạo của mỗi
người, làm biến dạng động lực cạnh tranh, gây ra tâm lý chán nản, mất lòng
tin, kéo lùi sự tiến bộ của con người, ảnh hưởng tới chất lượng nguồn lực
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.2.1. Con người - nguồn lực của mọi nguồn lực
Sự thành công của quá trình CNH, HĐH đòi hỏi ngoài môi trường
chính trị ổn định, phải có các nguồn lực cần thiết, như: nguồn lực con
người, vốn, tài nguyên, thiên nhiên, cơ sở vật chất - kỹ thuật, vị trí địa lí, và
nguồn lực nước ngoài. Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau,
cùng tham gia vào quá trình CNH, HĐH nhưng mức độ tác động và vai trò
của chúng đối với toàn bộ quá trình CNH, HĐH không giống nhau, trong
đó nguồn lực con người là yếu tố quyết định.
Xem xét vai trò của nguồn lực con người, cần đặt nó trong quan hệ
với các nguồn lực khác, đồng thời phải đặt công nghiệp hóa trong tình hình
hiện nay. Khi cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại
phát triển mạnh mẽ, lao động trí tuệ ngày càng gia tăng và trở thành xu thế
phổ biến của nhân loại, khi công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa mà thực
chất là hiện đại hóa lực lượng sản xuất. Với cách tiếp cận như vậy, vai trò
quyết định của nguồn lực con người biểu hiện ở những điểm cơ bản như sau:
Trước hết, các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị
trí địa lý, v.v... tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng. Chúng chỉ phát huy
tác dụng và có ý nghĩa xã hội tích cực, khi được kết hợp với nguồn lực con
22
người, thông qua hoạt động có ý thức của con người. Bởi lẽ, con người là
nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và ý chí, biết "lợi dụng" các
nguồn lực khác, gắn kết chúng lại với nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp,
cùng tác động vào quá trình CNH, HĐH. Các nguồn lực khác là những
khách thể, chịu sự cải tạo, khai thác của con người và hết thảy chúng đều
phục vụ cho nhu cầu, lợi ích con người, nếu con người biết tác động và chi
động có mục đích và sáng tạo, con người bằng trí tuệ và lao động của mình,
đã liên tiếp chế tạo ra các thế hệ công cụ sản xuất mới, nhằm tác động vào
tự nhiên có hiệu quả hơn. Chính sự phát triển không ngừng của công cụ sản
xuất từ thủ công đến cơ khí và ngày nay là tự động hóa đã đưa xã hội loài
người chuyển qua các nền văn minh từ thấp lên cao, tự nó đã nói lên tính vô
tận của trí tuệ con người. Đúng là, "tri thức có tính chất lấy không bao giờ
hết" [1, 41].
Thứ ba, trí tuệ của con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi
nó được vật thể hóa, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Dự báo vĩ đại
này của Các Mác đã và đang trở thành hiện thực. Sự phát triển như vũ bão
của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại đang dẫn các
nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển, vận động đến nền kinh tế
trí tuệ. Ở những nước này, lao động trí tuệ ngày càng chiếm tỉ lệ cao, nguồn
lợi mà họ thu được từ lao động chất xám chiếm tới 1/2 tổng giá trị tài sản
quốc gia, ví như ở Nhật Bản, riêng nguồn lợi do tin học mang lại đã chiếm
tới 40% [44, 24]. Giờ đây, sức mạnh của trí tuệ đạt đến mức, nhờ nó con
người có thể sáng tạo ra những máy móc "bắt chước" hay "phỏng" theo
những đặc tính trí tuệ của chính con người. Rõ ràng là, bằng những kỹ
thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay, khối óc con người làm ra, mà
ngày nay nhân loại đang chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử
phát triển của mình. Với ý nghĩa đó, Alvin Toffler đã xếp quyền lực trí tuệ
ở vị trí hàng đầu trong tất cả các loại quyền lực đã có trong lịch sử.
Thứ tư, kinh nghiệm của nhiều nước và thực tiễn của chính Việt
Nam cho thấy, sự thành công của CNH, HĐH phụ thuộc chủ yếu vào việc
hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách cũng như tổ chức thực hiện,
24
nghĩa là phụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con
chi phí ngân sách nhà nước [49, 58]. Hay ở Đài Loan, trong 30 năm từ
1952 đến 1981 tổng giá trị sản phẩm quốc dân tăng 26,34 lần nhưng kinh
phí cho giáo dục tăng hơn 90 lần [27, 22]. Có thể nói rằng, nền kinh tế của
các nước này có sự phát triển nhanh phần lớn nhờ vào sự phát triển nhanh
của giáo dục và khoa học, kỹ thuật. Kinh nghiệm về xây dựng và sử dụng
nguồn lực con người của các nước công nghiệp mới Đông Á là những bài
học bổ ích cho các nước chuẩn bị bước vào CNH, HĐH.
Vai trò quyết định của nguồn lực con người chỉ trở thành hiện thực
khi người lao động có những năng lực và phẩm chất cần thiết, đáp ứng
được những yêu cầu mà quá trình CNH, HĐH đang đòi hỏi.
Yếu tố hàng đầu của nguồn lực con người trước hết là trí tuệ, bởi vì
"tất cả những gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên phải thông
qua đầu óc của họ" [8, 409], tức là phải thông qua trí tuệ. Trình độ trí tuệ
phản ánh qua trình độ học vấn và tài năng sáng tạo. Nó biểu hiện ở khả
năng áp dụng những thành tựu khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật,
công nghệ tiên tiến; ở sự nhạy bén, thích ứng nhanh và làm chủ được
những kỹ thuật, công nghệ hiện đại; ở kỹ năng lao động nghề nghiệp; ở
năng lực hoạch định chính sách, lựa chọn giải pháp và tổ chức thực hiện; ở
sự biết quản lý sản xuất, kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa,
cơ chế thị trường và phân công lao động quốc tế. Để có được những năng
lực này, ngoài tư chất ban đầu, vai trò chủ yếu thuộc về giáo dục và đào
tạo, vì nó là phương tiện hữu hiệu để phát triển trí tuệ và trang bị chuyên
môn, nghề nghiệp, để khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người.
Ngoài ra, cũng cần thấy rằng, sự nghiệp CNH, HĐH khó có thể đạt
được kết quả tốt, nếu không có những công dân yêu nước, ham học hỏi, cần
cù lao động và sáng tạo; có tinh thần hợp tác, ý chí tự chủ vươn lên và lòng
tự trọng dân tộc cao, tôn trọng pháp luật, đạo lý; biết kết hợp hài hòa yếu tố