i
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội (MB) là một trong những
ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần đầu tiên ở Việt Nam. Trải qua 15
năm hoạt động, MB đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận song nhìn chung
quy mô huy động tiền gửi còn thấp, cơ cấu vốn chưa hợp lý. So với các
NHTM cổ phần tương đương, quy mô huy động tiền gửi của MB còn khá
thấp, chỉ bằng khoảng gần 70% so với Techcombank, hơn 50% so với
Sacombank và chỉ bằng 1/3 quy mô tiền gửi của ACB. Còn trong cơ cấu vốn
của MB, tỷ trọng tiền gửi doanh nghiệp còn khá cao (khoảng gần 60%), trong
khi tỷ trọng này ở các NHTM khác chỉ khoảng 20%-30%.
Đối với các NHTM, tiền gửi là khoản mục nợ quan trọng bậc nhất trên
bảng cân đối kế toán của NHTM giúp phân biệt ngân hàng với các loại hình
doanh nghiệp khác, là một trong những thước đo quan trọng bậc nhất về mức
độ tin cậy của ngân hàng trước khách hàng. Tiền gửi còn là cơ sở cho hoạt
động cho vay của NHTM, là nguồn gốc của lợi nhuận và sự phát triển. Hoạt
động của NHTM, do đó, chịu ảnh hưởng khá lớn từ nguồn vốn này. Vì vậy,
huy động tiền gửi là vấn đề được các NHTM hết sức quan tâm.
Đối với MB, để thực hiện định hướng phát triển đến năm 2015 như đã
xây dựng, việc tăng cường huy động tiền gửi trong điều kiện hiện nay là vô
cùng cần thiết nhằm tạo tiền đề cho sự ổn định lâu dài và cho những bước
phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu
trên không dễ, đòi hỏi phải có những chủ trương, giải pháp khoa học và đúng
đắn. Đây đang là trăn trở lớn của gần 3,000 cán bộ, nhân viên của MB và của
các nhà đầu tư của MB.
Đề tài “Tăng cường huy động vốn tiền gửi tại NHTM cổ phần Quân
Đội” đã được lựa chọn nghiên cứu nhằm góp thêm ý kiến vào việc giải quyết
yêu cầu lớn, cấp bách này của MB hiện nay.
gửi và điều chỉnh cơ cấu tiền gửi tối ưu và kế hoạch huy động tiền gửi.
Bốn nội dung trên cần được thực hiện tuần tự, chặt chẽ và khoa học.
Hiệu quả của hoạt động huy động tiền gửi tại NHTM chủ yếu được quyết
định bới chất lượng thực hiện quy trình huy động tiền gửi trên. Trong bốn nội
dung trên, quan trọng nhất là xây dưng cơ cấu tiền gửi tối ưu. Để xây dựng cơ
iii
cấu tiền gửi tối ưu, chi phí huy động tiền gửi là biến số quan trọng nhất.
Trong điều kiện giả định các yếu tố khác không đổi, khi đó, NHTM sẽ muốn
huy động bằng cách cung cấp các loại hình tiền gửi có chi phí thấp nhất. Và
do đó, thu nhập ròng từ việc sử dụng các nguồn tiền gửi này là lớn nhất.
Chi phí huy động tiền gửi tại NHTM bao gồm hai nhóm chi phí chủ
yếu là: Chi phí lãi và chi phí phi lãi. Chi phí trả lãi cho khách hàng gửi tiền
được tính toán dựa trên lãi suất tiền gửi của NHTM. Chi phí phi lãi chủ yếu
trong huy động tiền gửi là chi phí hoạt động như: chi phí nhân công, chi phí
quản lý, chi phí mặt bằng giao dịch, khấu hao trang thiết bị phân bổ...
Để xác định cơ cấu tiền gửi tối ưu mục tiêu, các NHTM trước hết phải
lựa chọn được phương pháp định giá các khoản tiền gửi. Từ đó, các NHTM
mới tiến hành tính toán và xác định cơ cấu tiền gửi tối ưu. Hiện nay, có rất
nhiều phương pháp định giá tiền gửi và các dịch vụ liên quan đến tiền gửi,
trong đó, phương pháp định giá theo chi phí – thu nhập là phương pháp định
giá phổ biến và có thể sử dụng trong dài hạn và trong điều kiện thị trường ổn
định. Trong phương pháp định giá này, các NHTM đánh giá tất cả các chi phí
cho các khoản tiền gửi, mức thu nhập kỳ vọng từ đó xác định giá của các
khoản tiền gửi và đưa ra các quyết định huy động vốn. Chi phí cận biên được
sử dụng trong định giá theo chi phí – thu nhập nhằm xác định lãi suất tiền gửi
mới. Việc mở rộng quy mô tiền gửi chỉ nên tiến hành cho đến khi chi phí tăng
thêm (do việc mở rộng quy mô tiền gửi) bằng thu nhập tăng thêm và tổng lợi
chủ quan và khách quan. Thực tế cho thấy, các nhân tố chủ quan có ảnh
hưởng mang tính quyết định đến hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng.
Các nhân tố chủ quan chính bao gồm: Nhóm nhân tố thuộc về chiến lược,
chính sách của NHTM; Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quy trình huy động tiền
gửi tại NHTM; Nhóm nhân tố khác, bao gồm: cơ sở hạ tầng, trình độ nhân
lực.
Đối với hoạt động huy động tiền gửi, nhân tố khách quan quan trọng
nhất là nhu cầu của khách hàng đối với các loại hình tiền gửi. Bên cạnh đó,
tình hình huy động tiền gửi tại NHTM còn bị chi phối bới mức độ hấp dẫn
của các kênh đầu tư thay thế khác, chính sách huy động tiền gửi của các đối
thủ cạnh tranh và các quy định của cơ quan quản lý về vấn đề nhận tiền gửi.
v
CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI
2.1. Khái quát về NHTM cổ phần Quân Đội
Được thành lập vào năm 1994 theo Quyết định số 0037/GP-UB của Ủy
ban nhân dân Thành phố Hà Nội, NHTM cổ phần Quân Đội chính thức được
đi vào hoạt động ngày 04/11/1994 theo Giấy phép số 0054/NH-GP của SBV
với thời gian hoạt động là 50 năm. Trụ sở chính của MB tọa lạc tại số 3 Liễu
Giai, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Tình hình kinh doanh của MB giai đoạn 3 năm từ 2006 đến 2008 nói
chung tăng trưởng ổn định. Tăng trưởng vốn chủ sở hữu: từ khoảng 1,000 tỷ
VND cuối năm 2006 lên 3,400 tỷ VND cuối năm 2008 (tăng khoảng hơn 3
lần). Tăng trưởng tổng tài sản: từ hơn 13,500 tỷ VND cuối năm 2006 lên
44,309 tỷ VND vào cuối năm 2008 (tăng khoảng 3.3 lần). Lợi nhuận trước
thuế năm 2008 đạt 860.83 tỷ VND gấp khoảng 3.4 lần năm 2006 (khoảng 253
lại vào năm 2008 (tăng khoảng 7%). Cơ cấu tiền gửi theo loại tiền tệ ghi nhận
sự biến động trái chiều, năm 2007 tăng nhẹ so với năm 2006 (tăng khoảng
5%), nhưng năm 2008 đột nhiên giảm mạnh (giảm khoảng 20%).
o Về thu nhập lãi ròng
Thu nhập lãi ròng của MB trong giai đoạn 2006 – 2008 tăng tương đối
cao, năm 2008 đã đạt hơn 1,400 tỷ VND.
Giai đoạn 2006 và 2007, tốc độ tăng thu nhập lãi tương đối ổn định,
khoảng hơn 60%/năm. Tuy nhiên, năm 2008, tốc độ tăng trưởng thu nhập lãi
tăng cao đột biến, gấp hơn 2 lần so với giai đoạn 2006-2007, đạt mức 124.3%.
o Về tỷ lệ lãi cận biên
Tỷ lệ lãi cận biên của MB giai đoạn 2006-2008 có những biến động trái
chiều. Năm 2006, tỷ lệ lãi cận biên của MB vào khoảng 3%. Tuy nhiên, năm
vii
2007 tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 2.23% (giảm khoảng 0.77%). Năm 2008,
xu hướng biến động tỷ lệ lãi cận biên đổi chiều và ghi nhận sự tăng trưởng
mạnh mẽ của tỷ lệ lãi cận biên, với mức tăng khoảng hơn 1.17%, đạt 3.4%.
o Về chi phí lãi/thu nhập lãi
Chi phí lãi/thu nhập lãi là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh tình hình
huy động vốn nói chung và huy động tiền gửi nói riêng của NHTM. Tại MB,
tỷ lệ này trong giai đoạn 2006-2008 khá ổn định, có tăng nhẹ qua các năm,
với mức tăng trung bình hàng năm khoảng 2.7%.
Năm 2007 tỷ lệ này tăng 4% so với năm 2006. Song mức tăng này chỉ
là hơn 1% vào năm 2008 so với năm 2007. Dù năm 2008 mức tăng có giảm đi
so với giai đoạn trước song xu hướng tăng của tỷ lệ chi phí lãi/thu nhập lãi là
rất rõ rệt. Điều này cho thấy chi phí lãi đang ngày càng chiếm tỷ trọng cao và
có mức độ tăng nhanh hơn so với mức độ tăng của thu nhập lãi.
Tại MB, trong giai đoạn 2006 – 2008, cùng với sự tăng lên của tổng tài
Tuy nhiên, huy động tiền gửi tại MB vẫn còn những hạn chế nhất định.
Trước hết, quy mô thu nhập lãi ròng còn khiêm tốn. So với một số
NHTM đối thủ trên thị trường, mức thu nhập lãi ròng hiện tại của MB hiện ở
mức trung bình khá, đang xếp sau ACB và Techcombank nhưng cao hơn của
Eximbank và Sacombank.
Thứ hai, quy mô tiền gửi còn chưa tương xứng với quy mô của MB. So
với các NHTM cổ phần tương đương trên thị trường, quy mô tiền gửi của MB
thấp hơn của ACB, Sacombank, Techcombank và Eximbank.
Cơ cấu tiền gửi khách hàng của MB hiện vẫn chưa hợp lý cũng là một
hạn chế của MB. Mặc dù đã có những bước chuyển biến đầu tiên trong cơ cấu
tiền gửi theo đối tượng gửi tiền song cơ cấu tiền gửi khách hàng của MB hiện
vẫn còn chưa hợp lý so với cơ cấu trung bình ngành. Trong khi cơ cấu chung
ix
của ngành là tiền gửi khách hàng cá nhân chiếm tỷ trọng chủ yếu, đặc biệt là
tỷ trọng bình quân của tiền gửi khách hàng cá nhân trong cơ cấu tiền gửi của
4 NHTM cổ phần tương đương với MB ở mức gần 70%, thì tỷ trọng này ở
MB vào cuối năm 2008 chỉ là 37% và đến giữa năm 2009 là hơn 42%.
o Nguyên nhân của những hạn chế
Tình hình huy động tiền gửi ở MB còn nhiều hạn chế như trên là bởi
nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, song nguyên nhân chủ yếu là các
nguyên nhân chủ quan.
Nhóm nguyên nhân chủ quan:
Danh mục sản phẩm tiền gửi còn chưa phong phú, các chương trình
huy động còn ít được triển khai là nguyên nhân chủ quan trọng yếu nhất khiến
ảnh hưởng tương đối lớn khi thị trường bất động sản, chứng khoán sôi động.
Cuối cùng là một số bất cập trong các quy định của cơ quan quản lý đã
gây những ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến huy động tiền gửi tại MB.
xi
CHƯƠNG 3 – GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG
TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI
3.1. Giải pháp nhằm tăng cường huy động tiền gửi tại NHTM Quân Đội
3.1.1. Giải pháp chủ yếu
o Đẩy mạnh công tác phát triển sản phẩm
Để đẩy mạnh công tác phát triển sản phẩm, trước hết, MB cần đầu tư
hơn nữa về nhân lực cho công tác này. Với lực lượng nhân sự phát triển sản
phẩm nói chung và nhân sự cho phát triển sản phẩm huy động nói riêng còn
quá mỏng như hiện nay là không tương xứng với quy mô và yêu cầu phát
triển của MB.
Bên cạnh đó, cần xây dựng lộ trình phát triển sản phẩm và chương trình
khuyến mại cụ thể với mục tiêu đến hết 2010, MB phải có được danh mục sản
phẩm vào loại phong phú và hiệu quả nhất trên thị trường.
o Đầu tư hơn nữa cho công tác truyền thông
Hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng – tài chính, đặc biệt là trong hoạt
động huy động tiền gửi, yếu tố quan trọng nhất là niềm tin của khách hàng đối
với NHTM. MB cần đầu tư hơn nữa cho công tác truyền thông. Trước hết,
MB cần đầu tư để tăng cường đội ngũ nhân sự cho truyền thông thông qua các
đợt tuyển dụng nhằm có được những nhân viên thực sự có năng lực, sáng tạo.
Bên cạnh đó, các chương trình truyền thông về hình ảnh của MB cần được
đầu tư đẩy mạnh hơn nữa. Đặc biệt, MB cần tập trung đầu tư thêm kinh phí
cho hoạt động truyền thông trước và trong khi triển khai các sản phẩm và
chương trình huy động mới.
xiii
hiện kế hoạch huy động tiền gửi; Đánh giá và điều chỉnh cơ cấu tiền gửi mục
tiêu (nếu cần).
3.1.2. Giải pháp bổ trợ
o Đẩy mạnh đầu tư cho công nghệ để tạo điều kiện xây dựng các sản
phẩm tiền gửi hiện đại và gia tăng tiện ích cho người gửi tiền
Công nghệ luôn phải là nhân tố đi trước đón đầu sự phát triển của tổ
chức thì mới đảm bảo các hoạt động được vận hành trơn tru và chính xác. Do
vậy, cần nhanh chóng đầu tư cho công nghệ để đảm bảo đáp ứng được các
nhu cầu phát triển của MB.
o Thúc đẩy phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử
Ngân hàng điện tử là một kênh rất phù hợp để phát triển các sản phẩm
tiền gửi mới, hiện đại với nhiều tiện ích gia tăng. Cùng với các dịch vụ ngân
hàng điện tử, các sản phẩm tiền gửi có thể phát triển hơn rất nhiều. Khách
hàng gửi tiền không nhất thiết phải tới giao dịch tại quầy của NHTM để sử
dụng các sản phẩm tiền gửi của NHTM nữa mà có thể giao dịch qua các kênh
mobile banking hoặc internet banking. Phát triển các dịch vụ ngân hàng điện
tử do đó sẽ hỗ trợ huy động tiền gửi khá nhiều.
o Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ cần được thực hiện với các nội dung
kiểm tra như: kiểm tra trình độ hiểu biết về sản phẩm, khả năng tư vấn, thái
độ phục vụ khách hàng... Hình thức kiểm tra, kiểm soát có thể linh hoạt như
kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất, kiếm tra bí mật hoặc công khai, kiểm tra
dưới hình thức làm test nhanh...
xiv
cứu và phân tích các nội dung khác. Qua những phân tích trong luận văn, các
nguồn vốn chủ yếu của NHTM đã được chỉ ra và phân loại, đồng thời nêu bật
các đặc điểm chính của các nguồn vốn này trong hoạt động của NHTM.
Trong luận văn này, các khái niệm cơ bản, nội dung chính của vấn đề huy
động tiền gửi, những chỉ tiêu phản ánh sự phù hợp giữa huy động và cho vay
tại NHTM, cùng với những nhân tố ảnh hưởng đến huy động tiền gửi tại
NHTM cũng được luận giải một cách thấu đáo và có căn cứ khoa học.
Trên cơ sở lý luận chung của vấn đề huy động tiền gửi tại NHTM, thực
trạng huy động tiền gửi tại NHTM cổ phần Quân Đội đã được phân tích, đánh
giá. Từ đó, các kết quả đã được đưa ra, đồng thời các hạn chế cũng được phân
tích để tìm ra nguyên nhân của các hạn chế đó. Năm giải pháp chủ yếu và ba
giải pháp bổ trợ đã được đề xuất trên cơ sở xác định đúng đắn các nguyên
nhân của những hạn chế trong huy động tiền gửi tại NHTM cổ phần Quân
Đội. Các giải pháp mang tính khả thi cao này cùng với các kiến nghị hợp lý
đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nếu được thực hiện sẽ giúp NHTM cổ
phần Quân Đội tăng cường huy động tiền gửi tại ngân hàng, đáp ứng được
yêu cầu phát triển bền vững và mạnh mẽ của ngân hàng trong thời gian tới.