PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong Cương lĩnh 1991 của Đảng ta ghi rõ: Phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước. Kinh tế quốc doanh cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền
tảng của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tập thể với nòng cốt là HTX đã và đang có
Ế
những đóng góp đáng kể thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đem lại
U
những thành quả to lớn về kinh tế và xã hội ở nhiều địa phương trên cả nước.
́H
Cùng với phong trào chuyển đổi và thành lập mới các HTX của cả nước, tỉnh
TÊ
Thừa Thiên Huế đã có những bước đi phù hợp trong việc chuyển đổi HTX kiểu cũ thành
HTX kiểu mới. Tính đến cuối năm 2010 toàn tỉnh có 259 HTX, Liên hiệp HTX, trong
H
đó có 1 Liên hiệp HTX nông nghiệp, 162 HTX nông nghiệp, 29 HTX Công nghiệp
IN
cận cho HTX còn gặp nhiều khó khăn, thì các HTXNN của thành phố còn có
thêm một khó khăn lớn là diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu
1
hẹp do quá trình đô thị hóa, gây không ít khó khăn đến cuộc sống của xã viên
HTXNN.
Để thúc đẩy sự phát triển của các HTXNN trên địa bàn thành phố Huế
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày
càng bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa, các vấn đề liên quan đến sự tồn tại của
các HTXNN, về tầm quan trọng của HTXNN đối với hộ xã viên, về an sinh xã
hội (thu nhập, việc làm, BHXH,...), về môi trường,...đã và đang đặt ra nhiều vấn
Ế
đề cần tìm lời giải đáp đó là: làm thế nào để đánh giá một cách đầy đủ và toàn
U
diện thực trạng phát triển các HTXNN của thành phố Huế? Xác định được các
́H
thuận lợi, khó khăn của các yếu tố bên trong; cơ hội và thách thức từ các yếu tố
bên ngoài tác động đến sự phát triển của các HTXNN? Phân tích và đánh giá
TÊ
được các thành phần chất lượng dịch vụ do HTXNN cung cấp của hộ xã viên?,
thành phố Huế giai đoạn 2012 - 2015” làm luận văn thạc sỹ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích tổng quát
Nghiên cứu thực trạng về sự phát triển các HTXNN của thành phố Huế, phân
tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức của các yếu tố bên trong và bên
ngoài đến sự phát triển của HTXNN, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp, khả thi
giai đoạn 2012 – 2015.
2
2.2. Mục đích cụ thể
Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về sự phát triển của HTXNN;
Phân tích thực trạng phát triển HTXNN trên các mặt kinh tế, xã hội và đánh giá
những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức của các yếu tố bên trong, bên ngoài ảnh
hưởng đến sự phát triển của HTXNN trên địa bàn thành phố Huế;
Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển HTXNN thành phố Huế trong giai
đoạn 2012 – 2015.
Ế
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
U
3.1. Đối tượng nghiên cứu
́H
Đối tượng nghiên cứu là các HTXNN và hộ xã viên của các HTXNN thuộc thành
- Số liệu sơ cấp điều tra về HTXNN các năm 2009 – 2011, điều tra hộ xã
Về nội dung
Đ
A
Phân tích, đánh giá đúng thực trạng về sự phát triển các HTXNN của thành
phố Huế, xác định các thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức của các yếu tố bên
trong và bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển của HTXNN, từ đó đề xuất các giải
pháp phù hợp, khả thi giai đoạn 2012 – 2015.
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
1.1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển HTXNN
1.1.1. Nguyên lý về sự phát triển:
Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lênin
Ế
là các quy luật cơ bản trong phương pháp luận của triết học Mác - Lênin và được
U
áp dụng để giải thích về sự phát triển của sự vật, hiện tượng, ba quy luật này hợp
của sự vận động, phát triển của thế giới vật chất và nhận thức của con người về thế
giới đó, đồng thời các quy luật này cũng tạo cơ sở cho phương pháp chung nhất của
Đ
A
tư duy biện chứng.
Trong phép biện chứng duy vật, nếu quy luật thống nhất và đấu tranh giữa
các mặt đối lập chỉ ra nguyên nhân và động lực bên trong của sự vận động, quy luật
chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất và ngược lại
chỉ ra cách thức và tính chất của sự phát triển thì quy luật phủ định của phủ định chỉ
ra khuynh hướng, hình thức và kết quả của sự phát triển đó.
Các quy luật này định hướng cho việc nghiên cứu của những quy luật đặc
thù và đến lượt mình, những quy luật cơ bản về sự phát triển của thế giới, của nhận
4
thức và những hình thức cụ thể của chúng chỉ có tác dụng trên cơ sở và trong sự gắn
bó với những quy luật đặc thù. [41]
1.1.2. Tính tất yếu của sự ra đời và phát triển của HTXNN
Trong tác phẩm Bàn về vấn đề nông dân ở Pháp và Đức, Awnghen đã chỉ ra
rằng: “khi giai cấp vô sản đã nắm được chính quyền, nhiệm vụ của chúng ta đối với tiểu
nông trước hết phải hướng nền sản xuất cá thể của họ vào con đường hợp tác” .[15, 6-6]
Trong tác phẩm bàn về chế độ hợp tác, V.I. Lê nin đã nêu lên những vấn đề
Ế
O
̣C
định hướng xã hội chủ nghĩa
̣I H
Bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta chủ yếu từ hai thành phần
quốc doanh và tập thể chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần định hướng
Đ
A
XHCN; đã xoá bỏ chế độ giao nộp, cấp phát, thực hiện cơ chế một giá, bảo đảm các
loại hàng hoá, nông sản được lưu thông tự do trên thị trường. Điều đó, đã tác động
mạnh vào cơ chế quản lý trong nội bộ HTXNN. Thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW,
ngày 05/4/1998 của Bộ Chính trị khoá VI về “Đổi mới quản lý kinh tế nông
nghiệp”, Nghị quyết trung ương năm khoá VII về “Tiếp tục đổi mới và phát triển
kinh tế - xã hội nông thôn” cùng với các văn bản pháp quy của Nhà nước đã làm
thay đổi về chất của HTXNN. Hợp tác xã giao lại ruộng đất ổn định lâu dài cho hộ
xã viên, chuyển từ điều hành tập trung sản xuất sang làm dịch vụ theo yêu cầu của
xã viên; phát huy vai trò tự chủ của hộ xã viên, xã viên chỉ nộp thuế sử dụng đất
5
nông nghiệp, thuỷ lợi phí, trả các chi phí theo hợp đồng dịch vụ với HTXNN và
được quyền tiêu thụ, phân phối toàn bộ sản phẩm làm ra.
70% tổng số HTX.
K
+ HTXNN dịch vụ sản xuất - kinh doanh tổng hợp. Các HTXNN này có nội
dung hoạt động đa dạng, gồm nhiều dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp: cung ứng vật
O
̣C
tư đầu vào, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ giống, phòng trừ sâu bệnh, tưới tiêu v.v..
̣I H
.Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì số HTXNN dịch vụ
sản xuất, kinh doanh tổng hợp chiếm 20% tổng số HTXNN.[18]
1.1.4. Vị trí và vai trò của HTXNN thời kỳ đổi mới và hội nhập
Đ
A
1.1.4.1 Vị trí của HTX nói chung và của HTXNN nói riêng
Trong lịch sử phát triển kinh tế – xã hội ở nhiều nước, sự phát triển của kinh
tế hợp tác đã chứng minh một chân lý là: Kinh tế hợp tác không phải là khu vực
chính để tạo ra nhiều lợi nhuận và tăng trưởng kinh tế mà là khu vực có vị trí quan
trọng trong giải quyết việc làm, đảm bảo đời sống cho đông đảo người lao động,
nhất là ở các nước đang phát triển, tạo sự ổn định về chính trị xã hội, góp phần thúc
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh và thừa nhận là HTXNN thực
IN
sự trở thành hậu cần và hậu phương vững chắc trong hai cuộc kháng chiến chống
K
Pháp và chống Mỹ, góp phần đấu tranh thống nhất nước nhà và xây dựng CNXH.
Tuy gặp nhiều khó khăn trong bước chuyển mình sang cơ chế mới, nhưng
O
̣C
các HTXNN đã từng bước phát huy vai trò không thể thiếu được của mình trong
̣I H
phát triển kinh tế – xã hội nông thôn nước ta. Vai trò đó thể hiện ở những mặt sau:
Xây dựng HTXNN góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông
Đ
A
thôn trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Các HTXNN có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ, thúc đẩy kinh tế hộ phát
triển, tạo ra quan hệ liên kết, hợp tác giữa những người sản xuất nhỏ, tăng cường
TÊ
Xây dựng và phát triển HTXNN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
phân công lại lao động trên địa bàn nông thôn.
H
Phát triển các HTXNN sẽ góp phần phát triển ngành nghề nông thôn, bao
IN
gồm các ngành nghề chế biến nông, lâm, thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ, đan lát, gốm
K
sứ, khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí nông thôn, các dịch vụ thương
mại, cung ứng vật tư hàng hoá phục vụ cho sản xuất và đời sống, tiêu thụ sản phẩm
O
̣C
của nông dân. Trong quá trình hình thành và phát triển, các ngành nghề nông thôn
̣I H
sẽ sử dụng một số lượng lao động nông nhàn đáng kể để tạo ra nhiều sản phẩm hàng
hoá, làm tăng giá trị hàng hoá, tăng giá trị hàng xuất khẩu và đáp ứng yêu cầu tiêu
U
nghệ, thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi,... nhưng thực tế tỷ lệ thất
́H
nghiệp và bán thất nghiệp ở khu vực nông thôn còn chiếm tỷ lệ khá cao, chiếm từ
khoảng 30% ở nông thôn.
TÊ
Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã có nhiều biện pháp để giải quyết
việc làm cho người lao động ở nông thôn như: Đẩy mạnh việc hợp tác lao động
H
quốc tế, đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới, thâm canh tăng vụ... Những biện
IN
pháp này đã có tác động tích cực giải quyết một phần công ăn, việc làm cho người
K
lao động ở nông thôn. Song, nó không thể giải quyết hết số lao động dư thừa ở nông
thôn hiện nay. [1]
̣C
1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của HTXNN
của HTX. Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức dân chủ. Trong Đại hội xã viên tổ chức
Ế
theo nhiệm kỳ xã viên có quyền đưa ra các ý kiến, nguyện vọng của mình và bỏ phiếu để
U
quyết định các vấn đề quan trọng và bầu chọn các ứng viên cho các vị trí trong Ban quản
́H
trị HTX. Tất cả các xã viên (đại diện xã viên) không phân biệt đẳng cấp xã hội, đều có
quyền lợi một phiếu bầu, đây là một nguyên tắc đảm bảo tính dân chủ.
TÊ
Xã viên Hợp tác xã Nông nghiệp có các quyền sau đây
- Được ưu tiên làm việc cho hợp tác xã và được trả công theo thoả thuận giữa
H
hai hợp tác xã và xã viên;
IN
- Hưởng lãi chia theo mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã, theo vốn góp,
K
10
- Đề đạt ý kiến với Ban quản trị, Chủ nhiệm, Ban kiểm soát của Hợp tác xã
và yêu cầu phải được trả lời; được yêu cầu Ban quản trị, Chủ nhiệm, Ban kiểm soát
triệu tập Đại hội xã viên bất thường;
- Chuyển vốn góp và các quyền lợi, nghĩa vụ của mình cho xã viên khác
hoặc người có đủ điều kiện trở thành xã viên theo quy định của Điều lệ từng hợp tác
xã nông nghiệp;
- Xin ra hợp tác xã, nhưng phải có đơn gửi cho Ban quản trị để Ban quản trị
Ế
xem xét giải quyết và báo cáo đại hội xã viên;
U
- Được trả lại vốn góp theo Điều 32 của Điều lệ HTXNN và các quyền lợi
́H
khác khi ra HTX; trong trường hợp xã viên chết, vốn góp và các quyền lợi, nghĩa vụ
khác của xã viên được giải quyết theo quy định của pháp luật thừa kế. [5]
TÊ
Xã viên hợp tác xã nông nghiệp có các nghĩa vụ sau đây
- Chấp hành Điều lệ, nội quy của hợp tác xã nông nghiệp, các Nghị quyết của
H
d) Tính minh bạch (về thông tin và đào tạo)
Hợp tác xã nông nghiệp cung cấp thông tin và các loại hình đào tạo cần thiết
cho xã viên, cho đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên để những người này có thể
đóng góp một cách hữu hiệu vào sự phát triển của HTX. HTXNN cũng có chiến
dịch thông tin đại chúng, đặc biệt nhằm vào thanh niên và những người có ảnh
hưởng lớn ở cộng đồng để quảng bá hình ảnh và các ưu điểm của sự hợp tác. [5]
11
e) Phương thức điều hành
Tính đại diện
Lãnh đạo mang tính đại diện cho tiếng nói của các xã viên HTXNN. Người
lãnh đạo giỏi hội tụ một số các phẩm chất như: táo bạo, quyết đoán, có động cơ, có
đầu óc kinh doanh, có tính lãnh đạo, đồng thời phải biết đồng cảm với đồng nghiệp,
cấp dưới, với hộ xã viên và là một người truyền thông giỏi.
Vai trò và trách nhiệm rõ ràng
Ế
Đại hội xã viên, Ban quản trị HTX, Ban kiểm soát và các chức danh chủ
U
nhiệm, phó chủ nhiệm, …đều có vai trò, trách nhiệm rõ ràng theo quy định tại Điều
́H
lệ HTXNN. Việc thực thi đầy đủ vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của các bộ phận,
cá nhân giúp cho HTXNN hoạt động có hiệu quả. [5]
Đ
A
Vốn kinh doanh của HTXNN được thể hiện bằng tiền toàn bộ tài sản của đơn
vị dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ. Vốn kinh doanh có tầm ảnh
hưởng đặc biệt đối với các đơn vị. Do đặc điểm của ngành nông nghiệp, hoạt động
dịch vụ của các HTXNN đòi hỏi nhu cầu về vốn kinh doanh rất lớn, thường thì vốn
quay vòng chậm và bị chiếm dụng. Để khắc phục tình trạng này, ngoài vốn góp của
xã viên, HTXNN phải vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng v.v…
g) Khả năng áp dụng khoa học và công nghệ
Khoa học và công nghệ tác động tổng hợp đến tất cả các ngành, các lĩnh vực,
tạo ra sự chuyển biến về chất trong hoạt động của các ngành và lĩnh vực, trong đó
12
có HTXNN. Khả năng tiếp nhận khoa học công nghệ và chuyển giao cho hộ xã viên
đối với các HTXNN đã tác động vào kinh tế hộ nông dân, phá vỡ thế khép kín tạo
những nhu cầu hợp tác hình thành tổ chức kinh tế tự nguyện của họ. Nhu cầu của
hợp tác ngày càng tăng khi sản xuất của nông dân chuyển sang sản xuất hàng hoá,
hình thành các HTX trang trại, tổ chức kinh tế của những người sản xuất hàng hoá.
Bên cạnh đó, các HTXNN tiếp thu tốt các tiến bộ khoa học và công nghệ sẽ tạo nên
sức sản xuất mới trong các hoạt động kinh doanh dịch vụ phục vụ hộ xã viên, hỗ trợ
Ế
cho các hoạt động kinh doanh của các tổ chức thành viên, nâng cao sức cạnh tranh
U
trong nền kinh tế thị trường. Ảnh hưởng của kinh tế thị trường được thể hiện rõ rết
̣I H
nhất ở sự biến động giá cả các yếu tố đầu vào và giá cả dịch vụ đầu ra, điều này do
quy luật cung cầu trên thị trường chi phối. Ngoài ra, các yếu tố về cấu trúc, hành vi
Đ
A
thị trường và hệ thống phân phối cũng tác động mạnh đến hoạt động kinh doanh,
dịch vụ cũng như sự phát triển của HTXNN.
Tác động của thị trường và kinh tế thị trường đến sự phát triển HTXNN
Sản phẩm của các nông hộ bán ở đâu, cho ai, giá cả như thế nào và bằng
cách nào để bán được nông sản cũng là những vấn đề đặt ra đối với HTXNN. Mặt
khác việc cung cấp dịch vụ cho các hộ xã viên phụ thuộc rất nhiều các yếu tố như
thông tin thị trường, giá cả hàng hóa, chất lượng sản phẩm, kênh phân phối, các
chính sách trong nước và những rào cản ở thị trường quốc tế trong quá trình hội
nhập. [15, 26-26]
13
Cùng với nền kinh tế thị trường, nhiều lực lượng sản xuất được giải phóng,
nhiều cơ hội được tận dụng do vậy mà mức tăng trưởng của các HTXNN ngày càng
cao hơn. Mức sống của xã viên, thu nhập của HTXNN cũng có sự thay đổi đáng kể,
đời sống vật chất, tinh thần ngày càng khấm khá hơn. Xem xét sự thay đổi về kinh
tế của các HTXNN trong cơ chế thị trường có thể thông qua sự thay đổi của các chỉ
tiêu doanh thu, lợi nhuận và mức tích lũy của các HTX. [15, 26-27]
Tác động của đô thị hoá đến sự phát triển HTXNN
Đối với hoạt động của các HTXNN: Đô thị hoá và công nghiệp hoá vừa tạo
O
̣C
những điều kiện vật chất cho chúng hoạt động (cung cấp các thiết bị văn phòng hiện
̣I H
đại, nâng cao hiệu quả quản trị; cung cấp các thiết bị, máy móc, vật tư... Nâng cao
năng lực hoạt động của HTXNN); vừa tạo môi trường hoạt động của các HTXNN,
Đ
A
trước hết là HTX dịch vụ đầu ra cho nông nghiệp.
Đối với hộ nông dân với tư cách là những thành viên, những đối tác của các
HTXNN, công nghiệp hoá, đô thị hoá tác động làm cho các đơn vị này nâng cao năng
lực sản xuất tạo nên những nhu cầu mới của sự hợp tác, tạo những điều kiện hình thành
các HTXNN ở quy mô và hình thức cao hơn. [29]
c) Yếu tố về môi trường kinh tế – xã hội (hệ thống cơ chế chính sách)
Môi trường kinh tế - xã hội được hiểu là toàn bộ yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội
có tác dụng trực tiếp hay gián tiếp tới sự hình thành và phát triển kinh tế HTX NN.
14
IN
1.1.6.1. Tình hình phát triển HTXNN một số nước trên thế giới
K
Châu Âu có gần 290.000 hợp tác xã (HTX) với 140 triệu thành viên và
khoảng 4,9 triệu người làm thuê. Liên minh châu Âu (EU) có khoảng 30.000
̣C
HTXNN với doanh số khoảng 210 tỷ ơ-rô.
̣I H
O
Đức: Là một trong những chiếc nôi đầu tiên của mô hình kinh tế ở Châu Âu.
Cho đến nay, đất nước nay vẫn duy trì một hệ thống HTX mạnh, xem đó là một bộ
Đ
A
phận quan trọng của thành phần kinh tế quốc doanh. Các HTXNN của Đức đang
nắm thị phần cao đối với rất nhiều sản phẩm nông nghiệp quan trọng: 70% thị phần
sản phẩm thịt chế biến, hơn 60% thị phần của các sản phẩm sữa, hơn 30% thị phần
rượu nho. Các HTXNN cũng giúp cho người nông dân tiêu thụ được sản phẩm và
tăng thêm thu nhập trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt
hơn. Ngoài dịch vụ cung cấp cho thành viên, các HTXNN tạo ra khoảng 150.000
được thành lập và được Chính phủ giao thực hiện các mục tiêu về phát triển nông
nghiệp, nông thôn. Các HTXNN Nhật Bản có mặt hầu hết các làng mạc, thành phố,
H
thị trấn. Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của HTXNN Nhật Bản là hợp tác
IN
trong phân phối chứ không hợp tác trong sản xuất. HTXNN thực hiện hai nhiệm vụ
K
chính: một là, cung cấp cho nông dân các yếu tố “đầu vào” phục vụ sản xuất nông
nghiệp, như phân bón, hóa chất nông nghiệp, trang thiết bị, kỹ thuật trồng trọt và
O
̣C
chăn nuôi gia súc… ; hai là, giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm bằng cách thu gom,
̣I H
bảo quản, dự trữ, bán các nông sản, vật tư dựa váo mạng lưới tiêu thụ sản phẩm
quốc gia và quốc tế. HTXNN là kênh tiêu thụ nông sản chính: 90% lúa gạo; trên
50% rau, hoa quả, sữa tươi… Nông dân Nhật Bản chủ yếu mua hàng qua HTX.
Đ
A
vay, đầu tư, bảo hiểm, giao dịch quốc tế… Hệ thống bảo hiểm của NACF chiếm
lĩnh toàn bộ thị trường nông thôn. [16]
TÊ
Qua các hoạt động của hệ thống HTXNN ở một số nước nêu trên, có thể
nhận thấy một nét chung nhất là, hoạt động của HTXNN không chỉ đem lại hiệu
H
quả kinh tế mà còn mang lại sản phẩm, dịch vụ tốt nhất, để người nông dân có được
IN
giá tốt nhất. Dịch vụ chính là sản phẩm chủ yếu của HTXNN.
K
1.1.6.2. Tình hình phát triển HTX NN ở Việt Nam
a) Hợp tác xã nông nghiệp trước khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị
O
̣C
Thời kỳ từ 1955 - 1960
̣I H
U
nhân dân. Thời kỳ này, nền kinh tế đất nước lâm vào khủng hoảng trầm trọng, trước
́H
hết là khủng hoảng kinh tế tập thể trong nông nghiệp trên phạm vị cả nước.
Thời kỳ từ 1981 – 1988
TÊ
Đây là thời kỳ thực hiện Chỉ thị 100 CT/TW ngày 13 tháng 01 năm 1981 của
Ban Bí thư Trung ương Đảng về “cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm
H
đến nhóm và người lao động” trong HTX NN (gọi tắt là khoán sản phẩm). Cơ chế
IN
khoán sản phẩm với ba khâu (gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch) đã phá vỡ một mảng
K
trong mô hình HTX tập thể hoá, tạo điều kiện kích thích tính chủ động hăng hái sản
xuất của nông dân. Có thể nói từ 1981 - 1985, được coi là thời kỳ thành công của
O
̣C
chủ trương, chính sách thực hiện công cuộc đổi mới, trong đó đã đề cập tới những
Ế
quan điểm, phương hướng tiếp tục đổi mới HTX và tập đoàn sản xuất.
U
Như vậy Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6
́H
BCHTW, với việc coi hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, là một sự đổi mới
có tính bước ngoặt trong nhận thức về cơ chế kinh tế trong nông nghiệp, về vai trò
TÊ
và vị trí khách quan của kinh tế hộ nông dân, quan niệm mới về chế độ kinh tế hợp
tác trong nông nghiệp.
H
Sự biến đổi của tổ chức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp giai đoạn 1989 -
IN
1996, có thể khái quát thành 2 dạng sau đây:
K
tỉnh duyên hải miền Trung (từ Đà Nẵng đến Khánh Hoà), cuối tháng 12 năm 1996
có 166 HTX đã giải thể và coi như giải thể chiếm 18%, trong đó Quảng Nam là tỉnh
có 100/166 HTX giải thể. Các tỉnh Tây nguyên tỷ lệ giải thể lên tới 41%. Khu vực
Đông Nam Bộ, tháng 12 năm 1996 chỉ còn lại 398 HTX theo báo cáo, HTX giải thể
chiếm 32%. Khu vực đồng bằng sông Cửu Long có 12 tỉnh, cuối năm 1996 còn lại
60 HTX, trong đó đã làm thủ tục giải thể là 22 HTX chiếm 36,6%.
Để củng cố và phát triển HTX, Nhà nước đã ban hành Luật HTX 1996, từ
Ế
đây các HTX chuyển đổi và thành lập mới theo Luật HTX. [11]
U
c) Chuyển đổi và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của
Sau khi ban hành Luật HTX năm 1996
́H
HTXNN theo Luật HTX 1996 (từ năm 1997)
TÊ
Đối với HTXNN chuyển đổi, tính đến cuối tháng 12 năm 1999: Các tỉnh
miền núi phía Bắc (trừ Bắc Ninh, Vĩnh Phúc), HTX thuộc diện chuyển đổi là 2.840
H
HTX, làm xong thủ tục là 963 HTX, trong đó được cấp đăng ký kinh doanh là 644
Sau 5 năm thực hiện Luật HTX, tính đến giữa năm 2002 cả nước có 2.569
HTX thành lập mới và 6.384 HTX đã chuyển đổi theo Luật trong tổng số 10.331
20
HTX. Năm 2001, các HTX chuyển đổi và thành lập mới đã tạo ra giá trị sản lượng
đạt khoảng 32,2 nghìn tỷ đồng, tạo việc làm cho khoảng 3,3 triệu lao động, huy
động được 6.243 nghìn tỷ đồng dưới dạng vốn góp của xã viên.
Sau khi có Luật HTX năm 2003
Căn cứ Nghị quyết Đại hội IX, Nghị quyết số 13 và Hội nghị BCHTW Đảng
lần thứ 5 (khoá IX) về kinh tế tập thể, Luật HTX năm 2003, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
đã có Thông tư số 04/2004/TT-BKH ngày 13/12/2004 về việc hướng dẫn xây dựng
Ế
phát triển khu vực kinh tế tập thể 5 năm 2006 - 2010. Cùng với việc thực hiện Luật
U
HTX năm 2003, Chỉnh phủ, các ngành và địa phương đã có những văn bản chỉ đạo
́H
tạo điều kiên cho kinh tế tập thể, các HTX và HTX dịch vụ nông nghiệp phát triển
đúng hướng. [11]
TÊ
Tình hình phát triển kinh tế tập thể trên cả nước trong 6 tháng đầu năm
HTXNN làm dịch vụ điện; 8,5% số HTX tổ chức tiêu thụ sản phẩm; … Nhiều HTX khá
đang có xu hướng mở mang các ngành nghề dịch vụ mới theo mô hình HTXNN đa chức
năng, cung ứng nước sạch (13%); vệ sinh môi trường (10%). Về chất lượng hoạt động,
nhiều HTX đã đổi mới, thực hiện tốt các dịch vụ phục vụ kinh tế xã viên theo hướng hạ
giá thành và nâng cao chất lượng dịch vụ; góp phần tạo nhiều việc làm.[3]
Theo Niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế từ 1997 - 2010, theo số liệu
của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Liên minh HTX tỉnh tình hình thực
hiện Luật HTX qua các thời kỳ như sau:
21
Thực hiện Luật HTX 1996, năm 1997 các HTXNN cũ đã chuyển đổi theo
tinh thần NQ 04-NQ/TU Thừa Thiên Huế ngày 21 tháng 8 năm 1997, về đổi mới
HTXNN theo Luật. Đến năm 2003 tỉnh Thừa Thiên Huế có tổng cộng 162 HTXNN,
trong đó có 149 HTX chuyển đổi theo Luật, 09 HTX thành lập mới và 04 HTX
chưa chuyển đổi được. Năm 2003, tổng nguồn vốn của 162 HTXNN là 217.277
triệu đồng (Bình quân 1 HTX có vốn là 1.468 triệu đồng). Trong đó vốn cố định
150.369 triệu đồng, chiếm 70%; Vốn lưu động 66.908 triệu đồng, chiếm 30%. Năm
Ế
2003, 162 HTXNN có tổng doanh thu 103.480 triệu đồng, bình quân 1 HTX có
U
doanh thu 638 triệu đồng. Tổng lãi ròng 4.767 triệu đồng, bình quân 1 HTX có lãi
́H
nhiều bất cập nhất là các chức danh chủ chốt, trình độ đại học trong 6 năm chỉ tăng
1,31% (năm 2003 là 1,45, năm 2010 đạt 2,73 %), trình độ trung cấp năm 2003 là
Đ
A
9,8%, năm 2010 lên 23%. So với kế hoạch phát triển kinh tế Hợp tác xã nông
nghiệp phải đạt mục tiêu là 50% trình độ Trung cấp. Năm 2010, số HTX xếp loại
khá là 64 (chiếm 40,5%), loại trung bình là 63 HTX (chiếm 39,8 %) và loại kém 31
HTX (chiếm tỷ lệ 19,6). Số HTXNN có số liệu quyết toán năm 2010 là 146/158
HTX (năm 2003 là 148/162 HTX). Tổng nguồn vốn của 146 HTXNN năm 2010 là
376.259 triệu đồng, tróng đó vốn cố định và đầu tư tài chính là 253.753 triệu đồng,
vốn lưu động là 122.505 triệu đồng, vốn bình quân 1 HTX là 2.381 triệu đồng. So
với năm 2003 tổng vốn của các HTXNN toàn tỉnh tăng 158.982 triệu đồng, bình
quân một HTX tăng 913 triệu đồng. Tổng doanh thu thực hiện năm 2010 là 174.011
22
triệu đồng (năm 2003 là 103.480 triệu đồng), tổng chi phí là 163.485 triệu đồng
(năm 2003 là 92.285 triệu đồng), tổng lãi 10.525 triệu đồng (năm 2003 là 4.767
triệu đồng). Bình quân năm 2010 mỗi HTX lãi 72 triệu đồng (so với 32 triệu đồng
năm 2003).[30]
Riêng thành phố Huế, năm 2010, chỉ còn 08 HTX, giảm 02 HTX do
HTXNN An Đông và An Tây sát nhập (chủ trương quy hoạch chung của tỉnh về
việc mở rộng khu dân cư về phía Đông Nam thành phố Huế, diện tích sản xuất nông
Ế
nghiệp 02 HTX bị thu hẹp), HTX Vỹ Dạ hiện không còn đất sản xuất nông nghiệp
̣C
của phong trào hợp tác hóa trong nông nghiệp, suốt gần 40 năm qua, trong nước đã
̣I H
có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Cơ sở lý thuyết nghiên cứu về hợp tác xã, mô hình tổ chức và phát triển các
Đ
A
loại hình hợp tác xã được đề cập một cách khá hệ thống trước hết trong hệ thống
các giáo trình: Kinh tế nông nghiệp (2008), Tổ chức sản xuất nông nghiệp (2008)
của rất nhiều trường đại học trong nước (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng…). Các công trình
nghiên cứu về hợp tác xã có thể chia làm hai nhóm: Nhóm thứ nhất gồm các công
trình đề cập đến việc phát triển hợp tác xã theo mô hình cũ; Nhóm thứ hai đề cập
đến việc phát triển hợp tác xã theo mô hình mới theo quy định của Luật hợp tác xã
năm 2003. Những công trình thuộc nhóm thứ nhất mặc dù có rất nhiều, tuy nhiên
đến nay ít còn ý nghĩa. Một số công trình tiêu biểu thuộc nhóm thứ hai bao gồm:
23
Bài viết “Tiếp tục đổi mới và phát triển hợp tác xã trong nông nghiệp” –
PGS.TS Nguyễn Hoàng Việt, Tạp chí Cộng sản số 19, tháng 7 năm 2002 đã đưa ra
những đánh giá khái quát ban đầu về phát triển hợp tác xã ở Việt Nam trong nhiều
lĩnh vực, tổng kết những điểm thành công và chưa thành công trong phát triển hợp
tác xã ở Việt Nam theo mô hình cũ và khẳng định, điểm quyết định sự thành công
K
hình hoạt động có hiệu quả. Tuy các cuộc khảo sát, phỏng vấn các hộ xã viên và hộ
nông dân ở nhiều địa phương có trên 80% trả lời cần thiết phải có HTX; song chưa
O
̣C
thể khẳng định tiêu thức đó đã phản ánh đúng nhận thức về HTX kiểu mới, mà từ
̣I H
lâu họ đã quen có HTX để được bao cấp, giúp đỡ và các quyền lợi khác... Từ đó khi
tham gia không thấy hết được nghĩa vụ và trách nhiệm của họ đối với HTX. Thậm
Đ
A
chí một số lớn xã viên sau khi đã đóng cổ phần (khoảng 50000 đ/xã viên) cũng
không quan tâm đến nghĩa vụ của mình,phó mặc cho ban quản lý, thờ ơ trong mọi
hoạt động, thậm chí quên mất mình là xã viên.
Thứ hai : Vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật của HTX còn yếu kém đang là một
trong những khó khăn lớn ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của HTX trong quá
trình chuyển đổi và xây dựng mới. Vốn bình quân 1 HTX chuyển đổi và xây dựng
mới khoảng 500 triệu đồng, trong đó tài sản cố định khoảng trên 400 triệu đồng,
vốn lưu động trên 100 triệu đồng, vốn của HTX phần lớn đang bị chiếm dụng hoặc
khoanh lại chờ Nhà nước giải quyết. Khảo sát 15 HTX xếp loại khá bình quân vốn
24
nghiệp là thường xuyên thay đổi và vì vậy họ không yên tâm công tác. Chính vì vậy, đội
IN
ngũ cán bộ quản lý luôn ở trong tình trạng thiếu cán bộ có năng lực và kinh nghiệm trong
K
công tác quản lý. [20]
Báo cáo nghiên cứu “Tác động của việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế
O
̣C
giới thế giới đối với hợp tác xã ở việt nam” - Liên minh Hợp tác xã Việt Nam
̣I H
(VCA) và Viện FRIEDRICH EBERT (FES) –Hà Nội 2006. Trong công trình
nghiên cứu này, các tác giả đã có sự phân tích tổng quát về sự tác động của việc
Đ
A
Việt Nam gia nhập WTO đối với các hợp tác xã, những cơ hội và thách thức, những
điểm mạnh và điểm yếu của các hợp tác xã Việt Nam. Bài viết cũng chỉ ra khả năng
ứng phó rất hạn chế của các HTX tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập [19].
Báo cáo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế