Tiểu luận:
Xử lý vi phạm đối với hành vi nuôi nhốt động vật rừng nguy cấp, quý hiếm
nhóm IIb
LỜI NÓI ĐẦU
Động vật hoang dã là một thành tố tất yếu của hệ sinh thái, chúng có vai trò to
lớn trong cân bằng sinh thái, là những mắt xích quan trọng trong chu trình dinh
dưỡng và tuần hoàn vật chất trên trái đất. Đối với đời sống con người, động vật
hoang dã là nguồn sống, chúng đáp ứng nhiều nhu cầu của con người như: Cung
cấp lương thực, thực phẩm, giá trị giải trí, khoa học, văn hoá, sức khoẻ và nhiều
giá trị tiềm tàng khác.
Bảo vệ động, thực vật hoang dã góp phần bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên
thiên nhiên là một trong những chủ trương đã được Đảng ta khẳng định tại
nhiều văn kiện quan trọng của Đảng (Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày
15/11/2004 của Bộ Chính trị, Khoá IX; Chỉ thị 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của
Ban Bí thư, Khoá X và Hướng dẫn số 72-HD/BTGTW ngày 20/3/2009 của Ban
Tuyên giáo Trung ương về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công
1
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước) cũng như sự thể hiện trong những văn bản
pháp luật.
Quy định về bảo tồn động, thực vật hoang dã, trong đó có Luật Đa dạng sinh
học, được Quốc hội thông qua tháng 11/2008. Đây là văn bản pháp lý có hiệu
lực cao nhất, điều chỉnh toàn diện và thống nhất các vấn đề về đa dạng sinh học
nói chung và bảo tồn động, thực vật hoang dã nói riêng. Luật có dành một
chương riêng (chương IV) quy định về bảo tồn và phát triển bền vững các loài
sinh vật. Quan điểm về bảo tồn động, thực vật hoang dã trong Luật Đa dạng
sinh học đã có sự đổi mới cơ bản, đó là bảo tồn phải kết hợp với khai thác, sử
dụng; chia sẻ lợi ích giữa các bên có liên quan bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của
Nhà nước và lợi ích của các tổ chức, các nhân.
Từ đó, chúng tôi chọn tình huống là một vụ việc có thật xảy ra tại địa phương
chúng tôi công tác, với tình huống: “Xử lý vi phạm đối với hành vi nuôi nhốt
động vật rừng nguy cấp, quý hiếm nhóm IIb”. Với ý muốn phân tích sự việc
dưới góc độ các quy định về quản lý hành chính nhà nước, trao đổi kinh
nghiệm, đồng thời lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết công việc, góp phần
tăng cường pháp chế XHCN.
PHẦN I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG
1. Hoàn cảnh ra đời
Ba Tơ là huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi có diện tích rừng và đất lâm
nghiệp 97.278,6 ha, chiếm 85,58 % tổng diện tích tự nhiên. Diện tích đất có
rừng không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn giữ vị trí chiến lược về an
ninh, quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái. Toàn huyện có 20 xã, thị trấn;
Dân số hơn 50.000 người, dân tộc H’re chiếm khoảng hơn 85%. Là huyện có
diện tích rừng lớn nhất tỉnh Quảng Ngãi, địa bàn rộng, có đường Quốc lộ 24
chạy qua với chiều dài hơn 56 Km nối liền với các tỉnh Tây Nguyên, nhiều
đường tỉnh lộ và giáp ranh với nhiều huyện trong và ngoài tỉnh Quảng Ngãi; các
vùng rừng tự nhiên trên địa bàn huyện có chức năng phòng hộ, giữ, điều tiết
nước cho các sông, hồ, đập lớn nhỏ trên địa bàn huyện để phục vụ sản xuất
nông nghiệp... điều hòa khí hậu…. Đồng thời là nơi cư trú sinh trưởng và phát
triển của nhiều loại động, thực vật quý hiếm như: Hổ, Gấu, Rùa vàng, Chà vá
chân xám…. Thực vật có: Trầm hương, Lim xanh, Gõ… Dưới tán rừng còn có
song mây, Ba kích, Sâm nam và nhiều động, thực vật khác. Hiện nay, nhu cầu
lập trại nuôi sinh sản, sinh trưởng động vật hoang dã trên địa bàn ngày càng
tăng, không những phục vụ nhu cầu về lợi nhuận kinh tế, mà một số gia đình
còn xem đây là thú vui, chơi cảnh. Trên địa bàn hiện nay có trên 10 trại đăng ký
nuôi sinh sản, sinh trưởng động vật hoang dã thông thường như: Nai, Hươu sao,
Heo rừng, Nhím... theo hướng dẫn tại Công văn số 515/CKL-VPCITES ngày
14/5/2007 của Cục Kiểm lâm Về việc đăng ký trại nuôi sinh sản, sinh trưởng
Sau đấu tranh đoàn kiểm tra thiết phục và giải thích rõ việc làm của ông là vi
phạm pháp luật về nuôi nhốt trái phép động vật hoang dã và đề nghị ông giao
nạp cho cơ quan chức năng để xử lý theo quy định của pháp luật, lúc này ông
Hùng hiểu và đồng ý giao 03 con sóc trên cho cơ quan chức năng và ký vào
biên bản vi phạm.
PHẦN II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
2.1.Mục đích phân tích tình huống.
- Tuyên truyền cho cán bộ, nhân dân ngày càng nâng cao nhận thức về bảo tồn
đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen các loài sinh vật đang có nguy cơ tuyệt
chủng trên một vùng, một Quốc gia nói riêng, toàn cầu nói chung; đồng thời
nhằm nâng cao pháp chế xã hội Chủ nghĩa, tăng cường tính răn đe, giáo dục
pháp luật về Bảo vệ các loài động vật hoang dã nguy cấp quý hiếm;
- Xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm Luật Bảo vệ
và phát triển rừng, Luật đa dạng sinh học với phương châm: đúng người, đúng
tôi, tránh oan sai, có lý, có tình;
- Trong quá trình xử lý vi phạm, tang vật phải đảm bảo an toàn cho động vật
hoang dã sinh trưởng, phát triển tốt, đặc biệt ưu tiên phát triển nguồn gen tại
khu vực tự nhiên chúng đang sinh sống và phát triển (địa phương).
2.2. Cơ sở lý luận
Tình huống này được áp dụng các văn bản luật và pháp luật như sau:
4
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004;
- Luật Đa dạng sinh học ngày 13/11/2008;
- Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số
Điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
hoang dã trái phép, đồng thời phải điều tra, xác minh người em mà ông Hùng
khai để làm rõ mức độ sai phạm về săn, bắt động vật hoang dã trái phép.
- Đảm bảo thực thi nghiêm minh các quy định của pháp luật trong lĩnh vực quản
lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản nhất là đối với động vật rừng.
- Tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân nhận thức đầy đủ về pháp luật nhất là
luật bảo vệ và phát triển rừng, luật bảo vệ môi trường, các văn bản quy phạm
pháp luật về bảo tồn và phát triển động vật hoang dã, đặc biệt là các loài nguy
cấp quý hiếm, những loài có giá trị kinh tế cao nhằm quản lý bền vững tài
nguyên động vật hoang dã ở nước ta.
- Thấy rõ vai trò trách nhiệm, những mặt yếu kém của các cơ quan quản lý hành
chính nhà nước, chính quyền địa phương trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ động
vật rừng từ đó có phương hướng khắc phục.
2.4. Nguyên nhân xảy ra tình huống
- Hệ thống pháp luật của nước ta còn hạn hẹp, trùng lập, nhiều sơ hở, thậm chí
còn mâu thuẫn, làm cho mỗi người dân khó hiểu, dễ gây nên tình trạng không
thống nhất giữa các ngành, các địa phương. Cách giải quyết vụ việc đôi lúc còn
tùy tiện, theo cảm tính cá nhân.
- Từ những sự việc đã rồi (gấu, hổ,...) Nhà nước không có biện pháp xử lý thích
đáng, để dẫn tới vụ việc vi phạm như tình huống này làm khó xử lý cho các cơ
quan chúc năng, dễ xảy ra tình trạng coi thường pháp luật.
- Đối với lực lượng Kiểm lâm, hiện nay vẫn còn thiếu về số lượng, yếu về chất
lượng; về trang thiết bị, kinh phí và phương tiện phục vụ công tác còn gặp nhiều
khó khăn, một vài cá nhân còn tùy tiện, nhũng nhiễu, xử lý vụ việc theo cảm
tính làm mất lòng tin đối với nhân dân.
- Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật chưa thực hiện tốt và đạt hiệu quả
chưa cao; nhất là Luật Bảo vệ & Phát triển rừng và những quy định của Nhà
nước về bảo vệ động vật hoang dã chưa được phổ biến rộng rãi trong mọi tầng
lớp nhân dân, từ đó nhận thức của đại bộ phận nhân dân còn kém, chưa thấy
được lợi ích của tài nguyên rừng là vô giá, là cần thiết cho sự sống, nên cần thiết
phải bảo tồn và phát triển.
tạp thì những mâu thuẫn phát sinh càng nhiều.Vấn đề là phải có những chủ
trương, chính sách phù hợp để giải quyết những vấn đề phức tạp, sắp xếp lại trật
tự có kỷ cương có pháp luật.
3.1. Mục tiêu xử lý tình huống
- Làm rõ hành vi vi phạm pháp luật của ông Thái Ngọc Hùng và các tổ chức, cá
nhân có liên quan.
- Đảm bảo thực thi nghiêm minh các quy định của pháp luật trong lĩnh vực quản
lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản nhất là đối với động vật rừng. Tổ chức,
cá nhân sai phạm đều phải được xử lý theo đúng quy định, mọi người đều bình
đẳng trước pháp luật.
7
- Kết hợp xử lý vi phạm với công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật đối với
đối tượng vi phạm.
- Thấy rõ những việc làm được, chưa làm được, những mặt yếu của các cơ quan
quản lý hành chính nhà nước, của chính quyền địa phương trong lĩnh vực quản
lý, bảo vệ động vật rừng vốn rất phức tạp, nhạy cảm, từ đó có phương hướng
khắc phục.
- Xử lý vi phạm cũng đồng thời tạo điều kiện để bảo vệ được con vật đang gây
nuôi. Đối xử nhân đạo và thiện chí với vật nuôi là một trong những mục đích
mà các tổ chức bảo vệ động vật quốc tế mong muốn và yêu cầu các quốc gia
thực hiện.
3.2. Đề xuất và lựa chọn phương án xử lý
Sau khi xem xét tính chất và mức độ vi phạm của đương sự, căn cứ vào hình
thức và mức xử phạt cho từng hành vi vi phạm;
Căn cứ bảng tính giá xử phạt tang vật vi phạm hành chính của Hội đồng định
giá của huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi ngày 25 tháng 8 năm 2010;
Xét thấy nhân thân đối với đương sự Thái Ngọc Hùng tuy có vi phạm Pháp luật
* Phương án II:
1. Hình thức phạt chính:
- Căn cứ điểm a, Khoản 1, Điều 19, Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày
02/11/2009 của Chính phủ;
- Phạt tiền: 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) về hành vi nuôi nhốt động vật rừng
loại quý, hiếm nhóm IIB trái quy định của Nhà nước.
2. Hình thức phạt bổ sung:
- Tịch thu toàn bộ 03 (ba) con Sóc bay xám (01 con Sóc mẹ, 02 Sóc con).
- Tang vật: Giao Chi cục Kiểm lâm phối hợp với các ngành chức năng có liên
quan xử lý số động vật rừng tịch thu theo đúng quy định của pháp luật.
Do Cơ quan Kiểm lâm không có chuồng, trại để nuôi nhốt động vật hoang dã
trong thời gian tạm giữ chờ xử lý, không có chuyên viên cứu hộ chăm sóc thú,
hiện tại thú bị nhốt nhiều ngày trong bao bì không đảm bảo, tình trạng thú bị
yếu. Vì vậy các ngành chức năng có liên quan đã thống nhất giao toàn bộ số
động vật nói trên cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã nguy cấp quý hiếm
Việt Nam để tiếp tục chăm sóc, cứu hộ và thả chúng về nơi cư trú tự nhiên.
* Ưu điểm: xử lý nghiêm minh đối với đối tượng vi phạm về nuôi nhốt động vật
hoang dã quý hiếm; nâng cao tính răn đe, giáo dục, đồng thời tuyên truyền cho
nhân dân trên địa bàn hiểu hơn về việc bảo tồn các loại động vật hoan dã quý
hiếm; hiệu quả bảo tồn nguồn gen động vật quý hiếm (Sóc bay xám) cao.
* Khuyết điểm: làm giảm đi nguồn gen động vật hoang dã quý hiếm loài Sóc
bay xám cho khu vực rừng tự nhiên miền trung nói chung, tỉnh Quảng Ngãi nói
9
chung;
3.3. Lựa chọn phương án xử lý.
Sau khi đưa ra 2 phương án xử lý theo tôi chọn phương án 2 là đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật.
- Xử lý như phương án 2 vừa đảm bảo về tính pháp lý xã hội chủ nghĩa, xử lý
động vật rừng, kiến thức về bảo tồn động vật hoang dã còn hạn chế; kinh phí
hoạt động và những trang thiết bị phục vụ công tác còn thiếu. Nhà nước cần có
chính sách đầu tư trang thiết bị, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn cho
lực lượng Kiểm lâm, để đủ mạnh đảm đương nhiệm vụ.
- Khuyến khích, khuyến cáo, hỗ trợ pháp lý, bảo vệ sở hữu trí tuệ. Nhân rộng
điển hình các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có sáng kiến, phát minh mới trong
quản lý, gây nuôi, thu lợi nhuận cao, chấp hành các quy định của nhà nước
trong công tác bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học;
- Kiểm lâm là lực lượng quan trọng quyết định sự thành công trong công tác
quản lý bảo vệ rừng, trong đó có động vật hoang dã. Do đó nhà nước cần ban
hành chế độ, chính sách hỗ trợ và đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng lực
lượng Kiểm lâm nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, có
phẩm chất đạo đức tốt, lập trường tư tưởng vững vàng.
PHẦN V. KẾT LUẬN
Cùng với tiến trình đổi mới toàn diện đất nước, chúng ta đang phấn đấu xây
dựng một nhà nước pháp quyền hoạt động có hiệu lực và hiệu quả. Nhà nước
pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật. Pháp luật là công cụ để thể chế hoá
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước. Đồng thời, pháp luật
cũng thể hiện ý chí và nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động. Vì vậy, cần phải đưa pháp luật vào cuộc sống để mọi công dân sống và
làm việc theo pháp luật.
Việc áp dụng các phương án xử lý trên nhằm bảo vệ được động vật rừng, cũng
chính là bảo vệ sự cân bằng sinh thái, bảo vệ sự đa dạng sinh học, bảo vệ môi
trường sống của con người. Có tác dụng giáo dục, răng đe các đối tượng vi
phạm, ngăn ngừa hành vi vi phạm. Đảm bảo pháp luật được thực thi nghiêm
minh.
Qua tình huống và cách xử lý vụ việc tàng trữ, buôn bán đông vật trái phép đã
trình bày với mục đích duy nhất là nhằm tìm ra giải pháp thích hợp để bảo tồn
và phát triển động vật hoang dã, đặc biệt là loài nguy cấp, quý, hiếm, những loài
lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm;
- Chính phủ ban hành Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 Quy
định chi tiết thi hành một số Điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm
2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số Điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính năm 2008;
- Chính phủ ban hành: Nghị định số 99/ 2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 Quy
định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và
quản lý lâm sản;
- Quốc hội ban hành: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004;
- Quốc hội ban hành: Luật Đa dạng sinh học ngày 13/11/2008;
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002;
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số Điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 04/2008/UBTVQH12 ngày
02/4/2008;
13