phaps luật về chủ thể kinh doanh và phá sản - Pdf 39

Câu 1: Tên trùng là gì? Doanh nghiệp A có tên công ty TNHH Hòa Bình, doanh
nghiệp khác tên công ty cổ phần Hòa Bình. Có gọi là tên trùng không? Tên tiếng
việt không trùng, tên tiếng nước ngoài trùng nhau có được không?
Vd: Sông Hồng và Hồng Hà đều được dịch là Red river.
Tên tiếng việt không trùng nhau nhưng tên nước ngoài trùng nhau, trong
trường hợp này không được chấp nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 39 LDN 2014 quy
định những điều cấm trong đặt tên doanh nghiệp: "Đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm
lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký được quy định tại Điều 42 của Luật này".
Trong trường hợp này, tuy là tên tiếng việt nhưng tên tiếng nước trùng nhau đã vi
phạm điểm c khoản 2 Điều 58: "Tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp đề nghị
đăng ký trùng với tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp đã đăng ký".
Câu 4: Trong trường hợp vay vốn Ngân hàng bất kỳ, bên đi vay trong hợp đồng
là chủ DNTN hay DNTN?
Trong trường hợp vay vốn Ngân hàng, bên đi vay trong hợp đồng phải là chu
DNTN vì theo khoản 1 Điều 183: "Doanh nghiệp tư nhân là dân nghiệp do một cá
nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động
của doanh nghiệp" và khoản 1, 3 Điều 185 LDN 2014:
"1. Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, được sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện
các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật;
3. Công ty doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trước trọng tài hoặc Tòa án trong các tranh chấp liên quan đến
doanh nghiệp". Qua các căn cứ trên, có thể thấy doanh nghiệp tư nhân không thể tư
nhân danh chính mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập được, mà lệ
thuộc vào tư cách cua cá nhân là chu sở hữu doanh nghiệp tư nhân đó.


Câu 5: Tại sao lấy ý kiến bằng văn bản yêu cầu tính bằng vốn điều lệ còn họp
trực tiếp lại yêu cầu dựa trên vốn góp?
Câu 6: Công ty Viettel, Tân Cảng hiện nay là người quản lý?
*Công ty Viettel: Tổng Giám đốc hiện nay là Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng

lớn như Mitsui, Mitsubishi, Sumitomo, Fuji, Sanwa, Dai-Ichi Kangyo, DKB… đều sở
hữu những ngân hàng lớn (Scher, 2001).
- Mô hình ngân hàng nắm giữ cổ phần tại các doanh nghiệp cua Đức và Nhật đã từng
được xem như là một đối trọng so với mô hình truyền thống Anh - Mỹ, nơi mà hệ
thống ngân hàng hoạt động tương đối tách biệt khỏi khu vưc doanh nghiệp phi tài
chính ngân hàng. Mô hình này đã được áp dụng tại khác nhiều nước như Thụy Điển,
Hàn Quốc, và nhiều nước Đông Nam Á sau này như Thái Lan và Indonesia. Tuy
nhiên, kể từ sau khi Nhật Bản rơi vào duy thoái trong đầu thập niên 1990 và sau
khung hoảng tài chính châu Á năm 1997-1997, mô hình này đã không còn được ưa
thích nữa.


Lợi ích và tác hại cua sở hữu chéo
Khi một doanh nghiệp sở hữu chéo một doanh nghiệp khác, đích hướng đến

cua hành vi này không chỉ dừng lại ở việc đầu tư thông thường nhằm hưởng cổ tức
hay lãi vốn. Điều mà hành vi này hướng đến là tăng quyền lưc kiểm soát (control
power). Kiểm soát quyền lưc quasở hữu chéo mang lại lợi ích cho doanh nghiệp trên
hai phương diện: giảm chi phí giao dịch cho một số các hoạt động hợp tác giữa các
bên liên quan và có khả năng thao túng thị trường. Trong khi hành vi hợp tác để giảm
chi phí giao dịch và thúc đẩy hoạt động sáng tạo làm tăng phúc lợi cho xã hội thì
ngược lại, hành vi thao túng thị trường lại được xem như là có hại cho phúc lợi xã hội.
Theo lý thuyết về chi phí giao dịch (Williamson, 1996), các công ty sẽ chọn mô thức
quản chế giao dịch khác nhau (thị trường, cấu trúc thứ bậc hãng, và các hình thức lai
hợp) với mỗi loại giao dịch tùy thuộc vào các đặc điểm cua giao dịch (độ chuyện biệt
về tài sản, tần xuất giao dịch, và tính bất định) nhằm có được chi phí giao dịch ở mức
kinh tế nhất. Sở hữu chéo được coi như là một mô thức quản chế lai hợp trong cấu
trúc này.
Sở hữu chéo đem lại lợi ích cho các bên liên quan trong các điều kiện sau:


phần cua doanh nghiệp B, dù là trưc tiếp hay gián tiếp, thì A vẫn có thể kiểm soát tốt


hơn các dư án/ hợp đồng hợp tác với B hoặc thậm chí tác động vào việc định giá hay
sản lượng cung ra thị trường cua B. Không những thế, nếu bản thân A cũng kinh
doanh trong lĩnh vưc cua B thì A cũng sẽ cân nhắc về việc định giá và cung ứng sản
lượng cua chính mình để sao cho không ảnh hướng xấu đến lợi nhuận cua B. Hay nói
cách khác, khi tồn tại quan hệ sở hữu chéo, ắt sẽ dẫn đến sư kiểm soát điều hành hay
cấu kết giữa các doanh nghiệp có quan hệ sở hữu trong cùng ngành để hưởng lợi
nhuận từ việc tác động/ thao túng thị trường. Mặc dù điều này có lợi cho các doanh
nghiệp liên quan nhưng xét tổng thể nền kinh tế thì sẽ làm kìm hãm cạnh tranh và
giảm tính sáng tạo cua nền kinh tế.
Cuối cùng, sở hữu chéo gây ra hiện tượng vốn ảo. Khi các doanh nghiệp phát
hành riêng lẻ cho nhau và không kèm theo việc thanh toán bằng tiền, các cổ đông nhỏ
lẻ sẽ bị thiệt hại do bị pha loãng. Số lượng cổ phiếu tăng trong khi nguồn vốn mới để
phát triển sản xuất thì lại thưc chất không có. Thị giá cua cổ phiếu vì thế sẽ giảm.
Hành vi được không khác gì việc cưỡng ép, tước đoạt tài sản cua cổ đông nhỏ lẻ.
Như vậy, sở hữu chéo có những lợi ích nhất định cho nền kinh tế khi chi phí thị
trường lớn. Tuy nhiên, sư tồn tại cua sở hữu chéo lại khiến cho thị trường bị tổn hại,
không phát triển được. Kết hợp hai luận điểm này ta có thể đưa ra nhận định rằng
trong ngắn hạn sở hữu chéo mang lại một số hữu dụng nhưng về dài hạn, sở hữu chéo
tạo ra cơ chế cung cố sư bền vững cua chính nó với cái giá phải trả là sư tổn hại cua
thị trường. Hàm ý chính sách dưa trên lý thuyết tổng quát về sở hữu chéo ở đây là:
chính sách giảm sở hữu chéo là điều nên làm, nhưng giảm sở hữu chéo được đến đâu
trên thưc tế lại phụ thuộc vào việc xây dưng thị trường hiệu quả đến mức độ nào.
Hiện tại pháp luật Việt Nam (Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng
dẫn thi hành) chỉ cấm việc các bên sở hữu chéo trưc tiếp, còn việc sở hữu chéo gián
tiếp thì pháp luật không có quy định. Mà không có quy định thì theo tinh thần cua
pháp luật là doanh nghiệp được tư do thưc hiện những gì mà pháp luật không cấm thì
việc sở hữu chéo gián tiếp là không bị cấm.


lược, lợi ích kinh doanh cua mình. Một trong những vướng mắc lớn nhất là các quy
định về sở hữu chéo giữa các công ty.1
Trích bài báo “Ma trận” sở hữu chéo: Hạn chế thế nào?
Trong cuộc hội thảo lấy ý kiến cho dư thảo nghị định quy định chi tiết thi hành Luật
Doanh nghiệp vừa diễn ra tại Hà Nội, luật sư Trần Hữu Huỳnh, Chu tịch Trung tâm
Trọng tài Quốc tế Việt Nam thẳng thắn, doanh nghiệp nội, nhất là khu vưc tư nhân
khó phát triển được là do chính các quy định pháp lý còn khá mập mờ, doanh nghiệp
phải lần mò mà đi.
Theo ông Huỳnh, tại điều 189 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định, hạn chế sở hữu chéo
giữa các công ty và cần thiết phải được hướng dẫn cụ thể tại nghị định, song trong
điều 3 cua dư thảo nghị định, dù đã cụ thể một số nội dung về vấn đề này, nhưng lại
rất khó hiểu. Nếu giữ nguyên quy định như thế sẽ khiến rất nhiều lãnh đạo doanh
nghiệp bị khởi tố oan...
Theo ông Vũ Phương Đông, Giảng viên Khoa Luật Kinh tế - Đại học Luật Hà Nội, tại
khoản 1 điều 3 dư thảo nghị định quy định: “Công ty con theo quy định tại khoản 2
điều 189 Luật Doanh nghiệp là công ty đối với công ty mẹ trong các trường hợp quy
định tại khoản 1 điều 189 Luật Doanh nghiệp” và tại khoản 3 điều 3 định nghĩa: “Sở
hữu chéo là việc đồng thời hai hoặc nhiều doanh nghiệp có sở hữu phần vốn góp, cổ
phần cua nhau”.
Đây là những quy định quá chung chung, tối nghĩa, không cụ thể vấn đề, nên ông
Đông kiến nghị, dư thảo cần quy định cụ thể sở hữu chéo trưc tiếp cua hai doanh
nghiệp, sở hữu chéo gián tiếp cua nhiều doanh nghiệp.
Ông chỉ ra: “Sở hữu chéo trưc tiếp là hình thức công ty A sở hữu cổ phần, phần vốn
góp cua công ty B và ngược lại. Còn sở hữu chéo gián tiếp cua nhiều doanh nghiệp là
hình thức công ty A sở hữu cổ phần, phần vốn góp cua công ty B, công ty B sở hữu cổ
phần, phần vốn góp cua công ty C, công ty C lại sở hữu cổ phần, phần vốn góp cua
công ty A...”.
1 www.indeedlaw.org › KIẾN THỨC PHÁP LUẬT


đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước khi công ty
đăng ký thay đổi vốn điều lệ.
4. Chủ sở hữu chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ
tài chính của công ty, thiệt hại xảy ra do không góp, không góp đủ, không góp đúng
hạn vốn điều lệ.”
Theo NĐ 155/2013/NĐ – CP có hiệu lưc 1/1/2014 Điều 23.
Vi phạm các quy định về thành lập doanh nghiệp
“1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi
sau:
a) Tiếp tục hoạt động khi đã kết thúc thời hạn hoạt động ghi trong Điều lệ mà không
được gia hạn;
b) Không góp đúng hạn số vốn đã đăng ký.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không góp đủ số
vốn như đã đăng ký.
3. Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi
sau:
a) Cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị thực tế;
b) Kinh doanh dưới danh nghĩa doanh nghiệp khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp hoặc đã giải thể;
c) Kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký thành lập doanh
nghiệp.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc đăng ký gia hạn hoạt động đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a
Khoản 1 Điều này;


b) Buộc đăng ký giảm vốn điều lệ theo quy định đối với công ty trách nhiệm hữu hạn
hai thành viên trở lên hoặc buộc góp đủ số vốn như đã đăng ký đối với các loại hình
doanh nghiệp khác có hành vi vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều này;
c) Buộc định giá lại tài sản góp vốn đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a


Câu 12: Nghị định xử phạt doanh nghiệp về đầu tư.
Nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vưc đầu tư:
- Nghị định số 155/2013/NĐ-CP Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2013. Nghị định quy
định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vưc kế hoạch và đầu tư.
- Nghị định số 50/2016/NĐ-CP Hà Nội, ngày 01 tháng 06 năm 2016. Nghị định quy
định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vưc kế hoạch và đầu tư.
Nghị định 50/2016/NĐ – CP xử phạt hành chính trong lĩnh vức kế hoạch và
đầu tư:
“Mục 2. hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư tại việt nam và hoạt
động đầu tư ra nước ngoài, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả
Điều 13. Vi phạm các quy định về hoạt động đầu tư tại Việt Nam
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện
báo cáo cho cơ quan đăng ký đầu tư trước khi bắt đầu thực hiện dự án đầu tư đối với
các dự án không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi
sau:
a) Không thực hiện báo cáo về hoạt động đầu tư, báo cáo giám sát, đánh giá dự án
đầu tư;
b) Báo cáo không trung thực về hoạt động đầu tư;
c) Đầu tư kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhưng không
đáp ứng các điều kiện theo quy định của Luật đầu tư;


d) Thành lập Văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng hợp
tác kinh doanh (hợp đồng BCC) nhưng không đăng ký với cơ quan đăng ký đầu tư nơi
đặt Văn phòngđiều hành;
đ) Chấm dứt hoạt động Văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp
đồng BCC nhưng không thông báo cho cơ quan đăng ký đầu tư nơi đặt Văn
phòng điều hành.

sau:
a) Không thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục đầu tư;
b) Tiếp tục triển khai dự án khi đã bị cơ quan đăng ký đầu tư quyết định ngừng hoạt
động;
c) Tiếp tục triển khai dự án khi đã chấm dứt hoạt động mà không được cơ quan đăng
ký đầu tư chấp thuận;
d) Không triển khai dự án đầu tư sau 12 (mười hai) tháng mà không được cơ quan
đăng ký đầu tư chấp thuận.
7. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với hành vi triển khai thực
hiện dự án khi chưa được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư, Quyết định chủ trương đầu tư.
8. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc đăng ký thành lập Văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài trong
hợp đồng BCC đối với hành vi vi phạm tại Điểm d Khoản 2 Điều này;
b) Buộc thông báo cho cơ quan đăng ký đầu tư đối với hành vi vi phạm quy định tại
Điểm đ Khoản 2 Điều này.
Điều 14. Vi phạm các quy định về sử dụng vốn nhà nước để đầu tư, kinh doanh
1. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi
sau:
a) Sử dụng vốn nhà nước để đầu tư, góp vốn, mua cổ phần khi chưa được cơ quan có
thẩm quyền chấp thuận;


b) Thay đổi dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước khi chưa được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền chấp thuận.
2. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi đầu tư, kinh
doanh sử dụng vốn nhà nước sai mục đích.
Điều 15. Vi phạm các quy định về hoạt động đầu tư ra nước ngoài
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi
sau:

Điểm a Khoản 1 Điều này;
b) Buộc thực hiện đúng các nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với
hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều này;
c) Buộc thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với hành vi
vi phạm quy định tại Điểm b và Điểm c Khoản 3 Điều này;
d) Buộc thực hiện thủ tục đầu tư đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm d Khoản 3
Điều này.
Điều 16. Vi phạm các quy định về ưu đãi đầu tư
1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không thông
báo lại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi không đáp ứng những điều kiện cam
kết để được hưởng ưu đãi đầu tư. Trường hợp kê khai để hưởng ưu đãi đầu tư có vi
phạm pháp luật về thuế thì áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực thuế.
2. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi kê khai không
chính xác, không trung thực các thông tin cần thiết để được hưởng ưu đãi đầu tư.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc hoàn trả những ưu đãi đầu tư đã được hưởng
không đúng quy định đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều
này.
Điều 17. Vi phạm quy định về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP)
1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không điều
chỉnh báo cáo nghiên cứu khả thi trong các trường hợp sau:


a) Dự án bị ảnh hưởng bởi thiên tai hoặc các sự kiện bất khả kháng khác;
b) Xuất hiện các yếu tố đem lại hiệu quả cao hơn cho dự án;
c) Quy hoạch thay đổi gây ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu, địa điểm, quy mô của dự
án;
d) Dự án không thu hút được nhà đầu tư quan tâm sau khi đã thăm dò thị trường, tổ
chức sơ tuyển hoặc tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư;
đ) Trường hợp khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Việt Nam:
đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất
năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;”
Và cũng theo khoản 1 Điều 65 Luật Doanh nghiêp về tiêu chuẩn làm giám đốc,
tổng giám đốc:
“1. Có đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc đối tượng không được quản lý
doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 18 của Luật này.”
Câu 14: So sánh điều kiện đặt tên hộ kinh doanh với doanh nghiệp , cái nào khó
hơn?
Hộ kinh doanh

Doanh nghiệp

- Tên bao gồm có hai thành tố: tên loại - Tên gồm hai thành tố: tên loại hình
hình “hộ kinh doanh” và tên riêng cua hộ doanh nghiệp và tên riêng cua doanh
kinh doanh

nghiệp

- Tên riêng hộ kinh doanh không được - Tên riêng cua doanh nghiệp không
trùng với tên riêng cua hộ kinh doanh được trùng với tên riêng cua doanh
khác đã đăng ký trước đó trong phạm vi nghiệp khác trong phạm vi toàn quốc
huyện

( trước khi đăng ký các doanh nghiệp
tham khảo tên các doanh nghiệp đã đăng
ký trong Cơ sở dữ liệu quốc gia)


- Tên hộ kinh doanh không được sử - Quyết định cua phòng đăng ký kinh

phòng) thông thường.
Trụ sở ảo (văn phòng ảo) tuy chỉ mới xuất hiện nhưng lại đáp ứng đu các điều
kiện tại Điều 43 Luật Doanh nghiệp quy định về trụ sở chính cua doanh nghiệp là có
địa điểm liên lạc, giao dịch cua doanh nghiệp,…có địa chỉ gồm số nhà, tên phố, ngõ


đường,…có số điện thoại, số fax, thư điện tử,…. Khi thuê trụ sở ảo (văn phòng ảo) thì
doanh nghiệp không cần có mặt thường xuyên ở văn phòng mà vẫn có thể giao dịch
một cách bình thường với khách hàng.
Câu 16 So sánh điều kiện đặt tên hộ kinh doanh và điều kiện đặt tên doanh
nghiệp.
Điểm giống nhau:
- Tiêng riêng được viết bằng bảng chữ cái trong bảng chữ cái tiếng việt, có thể kèm
theo chữ số, ký hiệu.
- Không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa , đạo
đức, thuần phong mỹ tục cua dân tộc
Điểm khác nhau:
Cách đặt tên doanh nghiệp


Tên tiếng việt gồm 2 thành tố:
Loại hình doanh nghiệp
Tên riêng.

Cách đặt tên hộ kinh doanh


Gồm 2 thành tố:
Loại hình hộ kinh doanh
Tên riêng cua hộ kinh doanh

chấp thuận cua cơ quan, đơn vị tổ chức
đó.

Tên doanh nghiệp bằng tiếng
nước ngoài được dịch từ tên tiếng
việt sang một trong những tiếng
nước ngoài hệ chữ la- tinh.
Tên chi nhánh, văn phòng đại diện
phải mang tên doanh nghiệp kèm
theo cụm từ “Chi nhánh” đối với chi
nhánh, cụm từ “Văn phòng đại diện”
đối vơi văn phòng đại diện.

Câu 17: HĐTV công ty TNHH một thành viên do một tổ chức làm chủ sở hữu có
thể thông quyết định bằng hình thức văn bản không?
HĐTV công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do 1 tổ chức làm chu sở
hữu có thể thông qua quyết định bằng hình thức văn bản. Vì căn cứ vào Điều 79, Luật
doanh nghiệp 2014 có quy định: Hội đồng thành viên nhân danh chu sở hữu công ty
thưc hiện các quyền và nghĩa vụ cua chu sở hữu công ty; nhân danh công ty thưc hiện
các quyền và nghĩa vụ cua công ty trừ quyền và nghĩa vụ cua giám đốc và tổng giám
đốc.HĐTV có thể thông qua quyết định tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản.
Câu 18: Có được lấy tên chùa đặt tên cho tên doanh nghiệp được không?
Không thể lấy tên chùa đặt tên cho doanh nghiệp. Vì căn cứ vào Khoản 3, Điều
39, Luật doanh nghiệp 2014 có quy định: “Không được sử dụng các từ ngữ, ký hiệu vi


phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức , thuần phong mỹ tục cua dân tộc.” Vì
lấy tên chùa để đặt tên cho doanh nghiệp đã vi phạm điều quy định trên.
Câu 19: Ai là chủ sở hữu tài sản trong công ty cổ phần, công ty hợp danh, công
ty TNHH?


khoản 1 Điều 172

viên hợp danh, công ty có thể có thêm

LDN 2014

thành viên góp vốn.
Công ty
TNHH một
thành viên

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc khoản 1 Điều 73 LDN
một cá nhân làm chu sở hữu.
2014

Công ty

Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành

TNHH hai

viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó

thành viên

thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số
lượng thành viên không vượt quá 5, thành
viên trong công ty có thể là tổ chức cũng


cua chu sở hữu.
Lợi ích cua chu sở
hữu đã mất đi một
phần khi bỏ tiền
thuê một đội ngũ
chuyên nghiệp quản
lí.

Không có HĐTV

Toàn quyền quyết Mất đi một bộ phận Hộ kinh doanh
định các vấn đề cua đóng vai trò như
công ty từ đó vận “một cơ quan tham
hành công ty theo mưu” cho chu sở
kế hoạch cua mình.

hữu.

Câu 21: Nới “room” cho nhà đầu tư ngoại là như thế nào?
Trước hết cần tìm hiểu khái niệm Room là gì?
Room là tỉ lệ chứng khoán mà nhà đầu tư nước ngoài (NN) có thể sở hữu. Từ đó suy
ra nới “room” cho nhà đầu tư ngoại là nâng tỷ lệ sở hữu cua nhà đầu tư nước ngoài.
● Lợi:


Việc nới room, dù theo hướng nào, cũng sẽ kích thích tâm lý cua nhà đầu tư, chí ít là
trong ngắn hạn, từ đó sẽ khiến cho thanh khoản cua thị trường chứng khoán được cải
thiện dần lên.
● Hại:

doanh cua công ty, đàm phán và danh người khác tiến hành
ký kết hợp đồng.
kinh doanh cá ngành nghề kinh
Sử dụng con dấu, tài sản cua
doanh cua công ty.
công ty đẻ hoạt động kinh doanh
các ngành nghề cua công ty.

Quyền về tài Có quyền yêu cầu công ty bù đắp Được cung cấp báo cáo tài
sản

thiệt hại trong hoạt động kinh chính hằng năm cua công ty.
Được định đoạt phần vốn góp
doanh trong thẩm quyền nếu thiệt
cua mình bằng cách thừa kế,
hại xảy ra không phải do sai sót


cua cá nhân thành viên đó.
tặng cho, thế chấp, cầm cố và
Được chia lợi nhuận tương ứng
các hình thức khác theo quy
với tỷ lệ vốn góp hoặc theo thỏa
định cua pháp luật.
thuận quy định tại Điều lệ.
Người thừa kế dduoc trở thành
Người thừa kế được trở thành
thành viên góp vốn .
thành viên hợp danh nếu được
Hội đồng thành viên chấp thuận.

Đây là hậu quả pháp lý xảy ra khi định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị tài sản thưc
tế tại thời điểm góp vốn. Được quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 37 Luật Doanh
nghiệp 2014.
Câu 30: Tìm hiểu về chứng khoán, DNTN không được phát hành bất kì loại
chứng khoán nào, vì sao?
Qua tìm hiểu, nhóm em biết được chứng khoán là những chứng trị có giá trị
chuyển đổi thành tiền. Chứng khoán nó là bằng chứng cho tài sản cua một doanh
nghiệp, công ty. Ví dụ cổ phiếu, trái phiếu,…
Mà đối với DNTN nó lại không có tài sản, tài sản trong DNTN chính là tài sản
cua chu sở hữu. Nên DNTN không có tư cách pháp nhân, không giống với Công ty cổ
phần. Cho nên DNTN mới “không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào”. (Căn
cứ pháp lý: khoản 2 Điều 183 Luật Doanh nghiệp 2014)
Câu 31: Công ty TNHH có vốn điều lệ là 5 tỷ, trong đó có 4 thành viên thành lập
góp như sau: A góp 3 tỷ, B góp 1 tỷ, C góp 500 triệu, D góp 500 triệu theo tỉ lệ
6:2:1:1. Sau đó, công ty muốn tăng vốn điều lệ lên 7 tỷ.
a. Trường hợp tất cả các thành viên đều góp.
b. Trường hợp có B không góp.
a. Trường hợp tất cả các thành viên đều góp:
Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật Doanh nghiệp:
Khi thay đổi vốn điều lệ Công ty TNHH 2 thành viên trở lên mà tất cả các
thành viên đều góp thêm để tăng vốn điều lệ cua công ty thì “vốn góp thêm được phân
chia cho các thành viên theo tỉ lệ tương ứng với phần vốn góp cua họ trong vốn điều
lệ công ty”. Tỉ lệ phần vốn góp trong vốn điều lệ công ty cua các thành viên
(A,B,C,D) là 6:2:1:1 do đó vốn góp thêm (2 tỷ để tăng vốn điều lệ cua công ty) được
chia theo tỉ lệ 6:2:1:1. Nên số tiền cần phải góp thêm cho việc tăng vốn điều lệ công ty
cua: A là 1200.000.000 đồng, B là 400.000.000 đồng, C là 200.000.000 đồng, D là
200.000.000
b. Trường hợp có B không góp.
Cũng căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật Doanh nghiệp:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status