Lời mở đầu
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời vào ngày 03/02/1930 đã đánh
dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt
Nam. Dưới ngọn cờ lãnh đạo sáng suốt của Đảng với của Chủ
nghĩa Mac-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng kim chỉ
nam đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhưng sự lãnh dạo
đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng
lợi của Cách mạng Việt Nam.
Qua 86 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng cộng
sản Việt Nam không chỉ ngày càng lớn mạnh về số lượng mà cả về
cả chất lượng. Đảng cầm quyền có trách nhiệm lãnh đạo mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội và mọi tổ chức chính trị. Đội ngũ lãnh đạo
các cấp của Đảng đang dần được bồi dưỡng, giáo dục và dèn luyện
nâng cao về trình độ mọi mặt nhằm lãnh đạo đất nước tiến lên con
đường XHCN.
Xây dựng Đảng ngày càng lớn mạnh và trong sạch và nhiệm vụ
của các cấp, các ngành từ trung ương đến cơ sở trong đó vai trò
của mỗi đảng viên là yếu tố quyết định đóng góp một phần quan
trọng không nhỏ trong công tác xây dựng Đảng.
Trải qua XII kỳ Đại hội toàn quốc và XVI kỳ Đại hội Đảng bộ
tỉnh, Đảng đã kiểm điểm, tự nhìn nhận, đánh giá, chỉnh đốn lại việc
lãnh chỉ đạo của mình qua từng nhiệm kỳ và đề ra phương hướng,
nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp phù hợp với từng giai đoạn của lịch
sử để đưa đất nước ta ngày càng phát triển, giàu đẹp, sánh vai với
các nước khác trên thế giới.
Với trách nhiệm và nghĩa vụ của một đảng viên, bản thân tôi
tham dự cuộc thi "Tìm hiểu Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI,
nhiệm kỳ 2015 – 2020” với mong muốn đóng góp một phần công
sức nhỏ bé của mình nhằm tìm hiểu thêm về Nghị quyết Đại hội
ngày 27 đến 31/3/1935 do dồng chí Hà Huy Tập chủ trì, có 13 đoàn Đại biểu
thay mặt các tổ chức Đảng ở trong nước và hoạt động ở nước ngoài tham dự
Đại hội.
Đại hội đã đề ra nhiệm vụ chính trị của Đảng lúc này là: Thu phục
quảng đại quần chúng lao động, chống chiến tranh đế quốc, ủng hộ Liên Xô
và cách mạng Trung Quốc, Khôi phục lại hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung
ương đến cơ sở; thống nhất lãnh đạo chuẩn bị cho cách mạng Đông Dương
chuyển sang giai đoạn mới.
Đại hội thông qua điều lệ Đảng và điều lệ của các tổ chức quần chúng:
Thông qua Tuyên ngôn. Đại hội bầu ban chấp hành trung ương gồm 13 uỷ
viên.
Đại hội bầu đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư, đến tháng
10/1936 Trung ương Đảng được tổ chức lại, đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng
Bí thư ; Tháng 3/1938 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị toàn
thể, bầu đồng chí Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư ; Tháng 11/1940, hội nghị
Trung ương 7 đồng chí Trường Chinh nắm quyền Tổng Bí thư.
2. Đại hội II của Đảng
Đại hội tiến hành từ ngày 11 đến 19/2/1951 tại Tuyên Quang với sự
tham gia của 158 Đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho
760.000 Đảng viên của Đảng.
2
Đại hội đã thông qua báo cáo chính trị, Báo cáo về tổ chức và điều lệ
Đảng. Đồng chí Tôn Đức Thắng đọc diễn văn khai mạc Đại hội. Đại hội thông
qua báo cáo chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo cáo “Hoàn thành giải
phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới CNXH” của đồng chí
Trường Chinh.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II
Trường Chinh làm Tổng Bí thư.
3. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng tiến hành tại Hà Nội từ
ngày 5 đến 10 tháng 9 năm 1960, gồm 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu
dự khuyết thay mặt gần 550.000 đảng viên cả nước.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (ảnh ST)
Đại hội đã thông qua báo cáo chính trị, trong đó xác định đường lối chung
của cách mạng nước ta trong thời kỳ mới là "..Tăng cường đoàn kết toàn dân,
kiên quyết đấu tranh giữ vững hoà bình, đẩy mạnh cách mạng Xã hội chủ
nghĩa ở Miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
ở Miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà…”. Trong diễn văn khai mạc,
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ:“ Đại hội lần này là Đại hội xây dựng Chủ
nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà”. Đại
hội thông qua nghị quyết về “nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai
đoạn mới” đó là: đẩy mạnh cách mạng Xã hội chủ nghĩa Miền Bắc và tiến
hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam, thực hiện thống
nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong nhân dân.
Đại hội xác định vị trí, vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng chiến lược cách
mạng ở mỗi miền: cách mạng Miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất, cách
mạng Miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp. Đại hội đề ra đường lối
chung trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc nước ta là :
"Đoàn kết toàn dân, phát huy truyền thống của nhân dân ta và đoàn kết với
các nước Xã hội chủ nghĩa đưa Miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững
chắc lên Chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống âm no, hạnh phúc ở miền bắc
và củng cố Miền bắc trở thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống
nhất nước nhà”.
4
Báo cáo đã tổng kết một số bài học kinh nghiệm về vận dụng đường lối
và phương châm xây dựng Đảng.
Về bài học kinh nghiệm, báo cáo xây dựng Đảng đã rút ra một số bài
học :
+ Vấn đề có ý nghĩa quyết định nhất là Đảng ta tuyệt đối trung thành với
chủ nghĩa Mác-Lênin, có đường lối chính trị độc lập, tự chủ, luôn luôn đúng
đắn, sang tạo.
+ Dựa trên đường lối chính trị đúng đắn, Đảng ta coi trọng tăng cường
lãnh đạo tư tưởng.
+ Chẳng những vạch ra đường lối đúng, khẩu hiệu đúng, Đảng ta với ý
chí chiến đấu kiên cường và hoạt động thực tiễn phong phú đã tổ chức thực
hiện thắng lợi đường lối chính trị của mình và rất coi trọng rèn luyện cán bộ,
đảng viên trong phong trào quần chúng.
+ Truyền thống tốt đẹp và nguồn sức mạnh cơ bản của Đảng ta là mối
liên hệ chặt chẽ với quần chúng nhân dân.
+ Một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng là sự đoàn kết, thống nhất
nội bộ.
+ Để phát huy bản chất cách mạng và khoa học của Đảng, để Đảng làm
tròn trách nhiệm lãnh đạo của mình, phải chăm lo giữ gìn phẩm chất cách
mạng đi đôi với ra sức nâng cao kiến thức, năng lực của cán bộ, đảng viên
tương ứng với đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng.
+ Trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cán bộ, phải chăm
lo cải thiện cơ cấu thành phần xã hội của Đảng, tăng cường thành phần công
nhân, nhất là công nhân đại công nghiệp trong Đảng.
- Về phương châm xây dựng Đảng:
6
+ Phải xây dựng Đảng vững mạnh về cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ
chức. Ba mặt ấy gắn liền với nhau, quyết định lẫn nhau.
7
Đại hội thông qua báo cáo chính trị, báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ
và những mục tiêu chủ yếu về kinh tế xã hội trong 5 năm 1981-1985 và những
năm tiếp theo, báo cáo về xây dựng Đảng trong đó đã tổng kết một cách toàn
diện tình hình cách mạng nước ta từ sau thắng lợi vĩ đại mùa Xuân 1975.
Khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối chung và đường lối xây dựng và phát
triển kinh tế do Đại hội IV vạch ra. Đại hội xác định nhiệm vụ của Đảng là
xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc
tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Đại hội xác định nhiệm vụ then chốt của
công tác xây dựng đảng lúc này là tiếp tục nâng cao tính Giai cấp công nhân,
tính tiên phong của đảng, xây dựng đrang vững mạnh về chính trị, tư tưởng và
tổ chức, làm cho đảng luôn giữ vững bản chất cách mạng và khoa học, một
đảng thật sự trong sạch, có sức chiến đâu cao, gắn bó chặt chẽ với quần
chúng.
Đại hội đã thảo luận và thông qua Báo cáo xây dựng Đảng, tổng kết tình
hình của Đảng và công tác xây dựng Đảng từ sau Đại hội IV.
Báo cáo xây dựng Đảng tại Đại hội V xác định:“Nhiệm vụ then chốt của
công tác xây dựng Đảng hiện nay là: Tiếp tục nâng cao tính chất giai cấp
công nhân, tính tiên phong của Đảng; xây dựng Đảng vững mạnh về chính
trị, tư tưởng và tổ chức nhằm thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, nâng
cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, làm cho Đảng ta luôn giữ vững bản chất
cách mạng và khoa học, một Đảng thật sự trong sạch, có sức chiến đấu cao,
gắn bó chặt chẽ với quần chúng".
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV về xây dựng Đảng
và sửa đổi điều lệ Đảng tại Đại hội V nêu chủ trương tiếp tục thực hiện đường
lối tổ chức của Đảng do Đại hội IV đề ra và nhấn mạnh năm yêu cầu đối với
công tác tổ chức của Đảng:
những sai lầm, khuyết điểm trong sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước.
Đại hội khẳng định những sai lầm và khuyết điểm trong lĩnh vực kinh tế xã hội, bắt nguồn từ những khuyết điểm trong công tác tư tưởng, tổ chức và
công tác cán bộ của Đảng.
Tại Đại hội VI, Đảng ta đã rút ra 4 bài học kinh nghiệm quý báu sau:
Một: Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư
tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của
nhân dân lao động.
Hai: Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo
quy luật khách quan.
Ba: Phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại
trong tình hình, điều kiện mới.
Bốn: Phải chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một Đảng cầm quyền
lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm
còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tễ xã hội,
tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh CNH XHCN
trong chặng đường tiếp theo.
9
Đại hội xác định mục tiêu cụ thể
về kinh tế xã hội cho những năm còn
lại của chặng đường đầu tiên là sản
xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy, 3
chương trình kinh tế lớn là: "Lương
thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu".
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ( 1986-1991)
(ảnh ST)
đến năm 2000.
Cương lĩnh năm 1991 xác định:
+ Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt
Nam, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của
cả dân tộc.
+ Đảng lấy chủ nghĩa Mac - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng, tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập chung dân chủ làm
nguyên tắc tổ chức cơ bản.
10
+ Xác định nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (ảnh ST).
+ Xác định Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng
cao trình độ, trí tuệ, năng lực lãnh đạo.
- Cương lĩnh chỉ ra 6 đặc trưng của CNXH
+ Một là: Xã hội XHCN là xã hội do nhân dân lao động làm chủ;
+ Hai là : Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện
đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất;
+ Ba là : Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
+ Bốn là: Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công; làm
theo năng lực, hưởng theo lao động; có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc;
có điều kiện phát triển cá nhân;
+ Năm là: Các dân tộc trong nước cùng bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ
nhau cùng tiến bộ;
+ Sáu là : Có quan hệ hòa bình, hợp tác, hữu nghị với các nước trên thế
giới.
Cương lĩnh vạch ra 7 phương hướng cơ bản chỉ đạo quá trình xây dựng và
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy
tập trung dân chủ làm nguyên rắc tổ chức
cơ bản.
Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược các định hướng về
chính sách và chủ trương công tác, Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu
sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.
Đại hội bầu ra Ban chấp hành Trung ương gồm 146 đồng chí, Bộ Chính trị
gồm 13 đồng chí, Ban Bí thư gồm 9 đồng chí. Đồng chí Đỗ Mười được bầu
làm Tổng Bí thư. Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí
Công làm cố vấn Ban chấp hành Trung ương. Đại hội VII là “Đại hội của trí
tuệ - đổi mới - dân chủ - kỷ cương - đoàn kết”.
Đại hội thông qua điều lệ Đảng (sửa đổi) và bầu 146 ủy viên (Điều lệ
Đảng thông qua việc bỏ ủy viên dự khuyết Trung ương).
8. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII.
Đại hội VIII được tiến hành vào ngày 28 tháng 06 đến ngày 11 tháng 07
năm 1996 tại Hà nội, có 1.196 đại biểu tham dự.
Đại hội phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm
2020.
Đại hội thông qua báo cáo chính trị, trong đó tổng kết 10 năm đổi mới đất
nước và rút ra một số bài học chủ yếu sau:
1.Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình
đổi mới, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc;
kiên trì chủ nghĩa Mac - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
2. Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy
đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới về chính trị.
3. Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế
thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định
12
+ Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
13
+ Đổi mới công tác kiểm tra và kỷ luật Đảng.
Đại hội thông qua Điều lệ Đảng (sửa đổi, trong đó không thành lập Ban
Bí thư, lập thường vụ Bộ Chính trị).
Đại hội bầu 170 ủy viên Ban chấp hành trung ương khóa VIII. Đồng chí
Đỗ Mười tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư. Các đồng chí Nguyễn Văn Linh,
Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công tiếp tục được bầu làm Ban chấp hành trung
ương.
Đại hội đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới – thời
kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu
mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định hướng XHCN, vì hạnh phúc của
nhân dân, vì tình hữu nghị và sự hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Đại hội có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc và tương lai đất nước
vào lúc chúng ta sắp bước vào thế kỷ XXI. Đại hội chủ trương xây dựng nền
kinh tế mở, lấy việc phát huy con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững.
Đại hội xác định khoa học - công nghệ là động lực của công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 3 (Khóa VIII) đã ra Nghị
quyết về chiến lược cán bộ, thời kỳ đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (Khóa VIII) đã đề ra
nhiệm vụ “Toàn đảng tiến hành cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
thực hiện tự phê bình và phê bình”.
9. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tiến hành từ ngày 19 đến ngày 22 tháng
04 năm 2001 tại Hà Nội, có 1.168 đại biểu tham dự.
Đại hội xác định nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong bối cảnh
mới hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH - HĐH theo định hướng
XHCN, khắc phục tình trạng nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã
hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư
tưởng và hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và
hành động chống phá của các thế lực thù địch, thực hiện thắng lợi sự nghiệp
xây dựng, bảo vệ tổ quốc.
Đại hội xác định động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết
toàn dân trên cở sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do
Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy
mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế của toàn xã hội.
Đại hội xác định đường lối kinh tế là đưa nước ta trở thành nước công
nghiệp, đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa; ưu tiên phát triển lực
lượng sản xuất đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng
XHCN. Đại hội xác định kinh tế nhiều thành phần ở nước ta gồm 6 thành
phần kinh tế : kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể - tiểu chủ, kinh
tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
(mới bổ sung tại Đại hội này).
Đại hội khẳng định, toàn Đảng tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6
(lần 2) “Về một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng” với các
công tác quan trọng sau:
+ Giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ
nghĩa cá nhân.
+ Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ.
+ Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng.
+ Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Đại hội thông qua Điều lệ Đảng (sửa đổi) với điểm mới là thành lập lại
Ban Bí thư Trung ương Đảng. Đại hội bầu Ban chấp hành gồm 150 đc, Bộ
Chính trị 15 đồng chí. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư.
Đại hội IX là Đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới, thể hiện ý chí
Tổng Bí thư Nông Đức mạnh
(ảnh ST)
Đại hội thông qua Báo cáo xây dựng Đảng:
Báo cáo xây dựng Đảng khái quát một số nét
về tình hình Đảng, về công tác xây dựng Đảng và
rút ra 6 bài học kinh nghiệm
Báo cáo xây dựng Đảng đề ra những nhiệm vụ
và giải pháp lớn:
+ Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị,
hoàn thiện đường lối đổi mới và nâng cao năng
lực tổ chức thực hiện;
+ Tăng cường công tác tư tưởng, rèn luyện
phẩm chất, đạo đức cách mạng;
+ Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng và chống tham nhũng, lãng phí;
+ Đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và của hệ thống chính
trị;
+ Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, công tác bảo vệ chính trị nội bộ;
+ Xây dựng và củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng
viên;
+ Đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát;
+ Xây dựng và tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân;
+ Đảng mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng.
Đại hội thông qua điều lệ (sửa đổi) của Đảng các điểm mới:
+ Xác định rõ bản chất của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên
phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.
+ Cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân.
và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững;
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị
- xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
18
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Nhiệm vụ chủ yếu:
- Ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế,
nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững; huy động và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực; từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại. Tiếp tục
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn
nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức. Tập trung giải
quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân. Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo; cải thiện điều
kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Tiếp tục xây dựng nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá
tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Bảo vệ môi
trường, chủ động phòng tránh thiên tai, ứng phó có hiệu quả với tình trạng
biến đổi khí hậu.
- Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị
- xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trật tự, an toàn xã
hội; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực
thù địch; mở rộng, nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực, chủ
động hội nhập quốc tế.
- Tiếp tục phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc;
hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền
Đại hội có nhiệm vụ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI
của Đảng (2011-2015); nhìn lại 30 năm đổi mới; quyết định phương hướng,
mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2016-2020; kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá XI; đánh giá việc thi hành Điều lệ Đảng khoá
XI; bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII. Đại hội đã để lại dấu ấn
đậm nét về một đại hội “Đoàn kết – Dân chủ - Kỷ cương – Đổi mới”.
Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng (ảnh ST)
Tham dự Đại hội XII có 1.510 đại biểu, đại diện cho hơn 4,5 triệu đảng
viên, trong đó đại biểu đương nhiên có 197 đồng chí là Ủy viên Trung ương
chính thức và dự khuyết khóa XI; 1.300 đại biểu được bầu tại các đại hội
Đảng bộ trực thuộc Trung ương; 13 đại biểu chỉ định.Trong 1.510 đại biểu dự
Đại hội có 194 đại biểu nữ; 174 đại biểu là người dân tộc thiểu số; 10 đại biểu
là Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động; 20 đại biểu là Nhà giáo
Nhân dân, Nhà giáo ưu tú. Đại biểu cao tuổi nhất dự Đại hội là đồng chí Hữu
Thỉnh, 74 tuổi, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học - nghệ
thuật Việt Nam; Đại biểu trẻ tuổi nhất là đồng chí Vàng Thị Lun, 27 tuổi,
Huyện uỷ viên, Bí thư Huyện đoàn Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
Đại hội diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến
nhanh, rất phức tạp, khó lường; kinh tế thế giới phục hồi chậm, khủng hoảng
20
chính trị ở nhiều nơi, nhiều nước, cạnh tranh hiều mặt ngày càng quyết liệt
giữa các nước lớn tại khu vực; diễn biến phức tạp về tranh chấp trên biển
Đông giữa các nước Asean và Trung Quốc về đường lưỡi bò 9 đoạn (trong đó
có Việt Nam):…đã tác động bất lợi đối với nước ta.
Trong nước, cùng với khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn
cầu, những hạn chế khuyết điển vốn có của nền kinh tế chưa được giải quyết;
Chấp hành Trung ương ( BCH TW) Đảng khóa XII gồm 200 đồng chí, trong
đố 180 đồng chí Ủy viên Trung ương chính thức, 20 ỦY viên Trung ương dự
khuyết. Số lượng dân dự do BCH TW khóa XI giới thiệu 199 đồng chí để bầu
Ủy viên chính thức và 22 đồng chí để bầu Ủy viên dự khuyết cho BCH TW
Đảng khóa XII; khi ra Đại hội, các đại biểu giới thiệu thêm 21 đồng chí để
21
bầu Ủy viên Trung ương chính thức và 4 đồng chí để bầu Ủy viên Trung ương
dự khuyết. Như vậy, Đại hội đã thông qua danh sách bầu Ủy viên chính thức
BCH TW Đảng gồm 220 đồng chí và danh bầu Ủy viên Trung ương dự
khuyết BCH TW Đảng gồm 26 đồng chí.
Đại hội đã tiến hành bầu cử theo đúng quy chế, bầu một lần đủ 180
đồng chí Ủy viên BCH TW chính thức và 20 đồng chí Ủy viên trung ương dự
khuyết BCH TW.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khóa XI, XII (ảnh ST).
Đại hội XII của Đảng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đời sống
chính trị, kinh tế, xã hội nước ta. Để chuẩn bị cho sự kiện trọng đại này, Đảng
đã tập trung chỉ đạo, chuẩn bị từ rất sớm về mọi mặt và đến thời điểm này,
Đại hội Đảng bộ cấp cơ sở, cấp trên trực tiếp cơ sở, cấp trực thuộc Trung
ương đều đã thành công tốt đẹp. Kết quả thành công của tất cả 67 Đại hội
Đảng bộ trực thuộc Trung ương, mở đầu là Đại hội Đảng bộ tỉnh Hòa Bình
(khai mạc ngày 15-9-2015) và kết thúc là Đại hội Đảng bộ TP. Hà Nội (bế
mạc ngày 3-11-2015), là tiền đề quan trọng để tổ chức thành công Đại hội XII
của Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã thành công rất
tốt đẹp. Đây là sự kiện có ý nghĩa chính trị trọng đại, định hướng, cổ vũ và
động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy cao độ tinh thần yêu
nước, ý chí tự lực tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phấn đấu
Toàn cảnh Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (ảnh ST)
Sau 30 năm đổi mới, đất nước ta đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa
lịch sử, từ một nước nghèo đã vươn lên trở thành nước có thu nhập trung bình.
Thành quả đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để đất nước ta tiếp tục phát
triển mạnh mẽ trong những năm tới; đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cấp bách là
phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn.
Kế thừa và phát huy các nghị quyết Đại hội Đảng trước đây, các văn
kiện Đại hội lần này cũng chứa đựng nhiều nội dung tư tưởng mới, xác định lộ
23
trình, mục tiêu và những nhiệm vụ trọng tâm nhằm đưa đất nước phát triển
toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an
ninh, đối ngoại. Trong đó, Đảng ta xác định: Phát triển kinh tế-xã hội là trung
tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng
tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Văn
kiện Đại hội đã xác định những nội dung quan trọng về bảo vệ vững chắc Tổ
quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; nâng cao hiệu quả hoạt động
đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; phát huy sức mạnh đại đoàn
kết dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Nhấn mạnh mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, báo cáo chính
trị tại Đại hội xác định rõ: Cần tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu
lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển
kinh tế tri thức; hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Đây là một chủ trương lớn, quan trọng, được nêu ra từ Đại hội
XI của Đảng. Tuy nhiên, để tiếp tục đẩy mạnh quá trình này trong thời gian
"tự diễn biến," "tự chuyển hóa"; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, lãng phí, quan liêu; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ
cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Ban chấp hành TW Đảng ra mắt Đại hội (ảnh ST)
Đại hội XII đã tập trung cao nhất trí tuệ và tâm huyết của toàn Đảng,
toàn dân. Trên 26 triệu lượt ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân đã góp
phần xây dựng và hoàn thiện các văn kiện Đại hội XII của Đảng. Tại Đại hội
lần này, với hơn 30 ý kiến tham luận tại Đại hội và 668 ý kiến phát biểu tại
các đoàn, các đại biểu tiếp tục đóng góp tâm huyết, trí tuệ vào việc hoạch định
đường lối phát triển đất nước trong giai đoạn phát triển mới.
Đại hội thể hiện việc đổi mới hệ thống chính trị đồng bộ với đổi mới về
kinh tế là một yêu cầu hết sức cấp bách. Trọng tâm đổi mới thể chế kinh tế
trong giai đoạn tới cần dựa trên 3 trụ cột: Thịnh vượng kinh tế phải đi đôi với
bảo vệ bền vững môi trường; thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, tạo
dựng môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp mới khởi nghiệp, coi vị thế của
doanh nghiệp là vị thế của quốc gia; tích cực cải cách, đẩy mạnh học hỏi và
đổi mới sáng tạo để cải thiện năng suất lao động. Đẩy mạnh thực hiện 3 đột
phá chiến lược vẫn là tiền đề để cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh
doanh, tạo bước đột phá về kinh tế, xã hội. Trong thời gian tới cần tập trung
nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội theo hướng đồng bộ, hiện đại; đẩy
mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện tốt các cơ chế chính sách khuyến
khích, ưu đãi đầu tư, hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp; quan tâm đào
tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế đã có sự thảo
luận kỹ lưỡng, xem xét cẩn trọng để đảm bảo tăng trưởng hài hòa giữa phát
triển chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, cho phù hợp với thực tiễn hiện
tại giữa các vùng miền và từng địa phương. Đối với những địa phương còn
khó khăn cần tập trung phát triển theo chiều rộng để thu hút mọi cơ hội đầu tư