Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và
35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột
TRƯỜNG THPT BUÔN MA THUỘT
TỔ : ĐỊA LÍ
GIÁO VIÊN: BÙI VĂN TIẾN
Câu 1: Tỉnh Đăk Lăk được thành lập từ năm nào? Tỉnh Đăk Lăk hiện nay có bao nhiêu
huyện, thị, thành phố và tên gọi các huyện, thị, thành phố?
Tỉnh Đăk Lăk nằm trên cao nguyên phía Tây miền Trung của Việt Nam. Trải dài từ vĩ độ
11
0
44’ đến 13
0
32, trải dài từ 107
0
23
’
đến 109
0
06’ kinh độ Đông, với diện tích gần 13.125 km
2
. Phía
Bắc giáp Gia Lai, phía Nam giáp Lâm Đồng và Đăk Nông, phía Đông giáp tỉnh Khánh Hoà, Phú
Yên, phía Tây giáp với tỉnh Modol Kiri (Campuchia).
Lịch sử của vùng đất gắn liền với cuộc mở nước về phương Nam của vua Lê Thánh Tông (1471),
quân Đại Việt tiến lên Tây Nguyên. Nhà vua đặt Tây Nguyên thành nước Nam Bàn, một phiên
thuộc Đại Việt. Năm 1540, vua Lê phong vương cho Thuỷ Xá (Vua nước) và Hoả Xá (Vua Lửa )
cử Bùi Tá Hán, trấn thủ Quảng Nam, kết hợp nhà chức trách địa phương, tổ chức di dân, lập ấp,
xây dựng dinh điền, chỉnh đốn việc giao thương giữa người Thượng với người Kinh. Có thể nói
rằng từ thế kỷ XV trở về trước Tây Nguyên - Đăk Lăk chưa có một hệ thống hành chính hoàn
chỉnh, về cơ bản vẫn là vùng đất được vận hành theo luật tục của các buôn làng độc lập. Từ thế kỷ
XV, vùng đất này thuộc sự cai quản của Đại Việt.
11.Huyện Cư M'gar (thành lập ngày 23 tháng 1 năm 1984, tách từ huyện Ea Súp).
12.Huyện Krông Năng (thành lập ngày 9 tháng 11 năm 1987, tách ra từ huyện Krông Búk).
13.Huyện Buôn Đôn (thành lập ngày 7 tháng 10 năm 1995, tách từ huyện Ea Súp).
14.Huyện Ea Kar (thành lập ngày 13 tháng 9 năm 1986, tách từ huyện Krông Pak và huyện
M'Drăk).
Trường THPT Buôn Ma Thuột| 1
Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và
35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột
15. Huyện Cư Kuin (thành lập ngày 27 tháng 08 năm 2007, tách từ huyện Krông Ana).
Câu 2: Vì sao Bộ Chính trị lại chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch
Tây Nguyên? Nêu tóm tắt diễn biến, kết quả và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Buôn Ma Thuột
(l0/3/1975)?
Buôn Ma Thuột là thành phố cao nguyên của tỉnh Đăk Lăk, đồng thời là thủ phủ kinh tế -
chính trị của vùng Tây Nguyên trù phú. Thành phố đang sống trong những ngày tháng hoà bình, phát
triển đầy hứa hẹn. Nhưng không ai có thể quên được cách đây gần 35 năm về trước, tháng 3 -1975,
chính trên thành phố anh hùng này đã diễn ra “Trận Buôn Ma Thuột lịch sử”. Một trận đánh then
chốt, mở đầu cho chiến dịch Tây Nguyên năm 1975, là đòn điểm huyệt, tạo đột biến cho cuộc Tổng
tiến công đại thắng mùa xuân năm 1975.
Bước sang năm 1974, trước sự suy yếu trầm trọng của địch, nhận định những điều kiện thuận
lợi cho ta để kết thúc chiến tranh đang đến gần, tháng 10-1974, Bộ Chính trị - Trung ương Đảng đã
họp và đề ra nhiệm vụ chiến lược mới: giải phóng hoàn toàn miền Nam trong vòng hai năm 1975-
1976. Hội nghị khẳng định: “Mỹ đã rút khỏi miền Nam thì khó có khả năng đưa quân trở lại miền
Nam, và dù chúng có can thiệp đi chăng nữa cũng không thể cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của chính
quyền Sài Gòn”. Tiếp đó Hội nghị Bộ Chính trị họp mở rộng (từ 18 -12 -1974 đến 8 - 1 -1975) rà
soát lại tình hình, nhất là sau chiến thắng Phước Long (6 - 1 - 1975), Bộ Chính trị hạ quyết
tâm“Tổng công kích, tổng khởi nghĩa tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ
trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam Việt Nam” và
“nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Bộ
Chính trị chọn Tây Nguyên - một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng,“ Là hướng chiến lược tấn
công chủ yếu trong cuộc tiến công rộng lớn năm 1975”.
Để phối hợp với đòn tiến công quân sự, Tỉnh ủy Đăk Lăk ra kế hoạch cụ thể về chuẩn bị
chiến trường, tổ chức nhiều đội công tác chính trị đi cùng bộ đội phát động quần chúng nổi dậy;
đồng thời có kế hoạch phân công cụ thể cho các huyện chuẩn bị sẵn sàng truyền đơn, lời kêu gọi,
thông báo, kêu gọi binh sĩ ngụy ra hàng, trấn áp bọn ác ôn, chuẩn bị thành lập Uỷ ban cách mạng ở
vùng giải phóng. Hàng trăm cơ sở các loại, ở vùng ven có 3 lõm căn cứ ở các đồn điền phía đông, ở
Trường THPT Buôn Ma Thuột| 2
Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và
35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột
Buôn Ea Na phía nam và Đạt Lý 2 phía bắc thị xã có phong trào cách mạng khá mạnh, có trên 400
cơ sở chính trị các loại và gần 150 du kích mật quần chúng ở các lõm căn cứ có tinh thần cách mạng
rất cao, sẵn sàng phục vụ công tác, bảo vệ che giấu cán bộ cách mạng.
Đó là những yếu tố - những bàn đạp vô cùng thuận lợi, quan trọng cho lực lượng ta làm chỗ
dựa để hoạt động vào thị xã.
Chiến dịch mở màn-trận đánh Buôn Ma Thuột: giải phóng Buôn Ma Thuột và toàn tỉnh Đăk Lăk.
Sáng ngày 5-3-1975, Trung đoàn 25 cắt đường 21. Ngày 8-3 Trung đoàn 48 đánh chiếm
Thuận Mẫn và căn cứ Cẩm Ga cắt đường 14 diệt 1D bảo an, bắt 120 tên địch, thu 200 súng. Ngày 9-
3 Sư đoàn 10 đánh quận lỵ Đức Lập, căn cứ Núi Lửa, cứ điểm 22. Nhưng chiến sự kéo dài đến ngày
10-3 mới chiếm lại được quận lỵ và các cứ điểm Đăk Song, Đăk Sắc, diệt 1 tiểu đoàn của E53, 1 tiểu
đoàn bảo an, bắt 100 tên địch, thu 14 pháo, 20 xe tăng thiết giáp.
Sau đòn nghi binh ở PleiKu và Kon Tum, chiến dịch mở màn bằng cuộc tiến công chiến lược
của quân chủ lực vào Buôn Ma Thuột. Đúng 2giờ 03 phút sáng ngày 10-3 từ các hướng quân ta đã
nổ súng tấn công thị xã Buôn Ma Thuột (ngã Sáu). Đặc công đánh mạnh ở các nơi trọng điểm như
sân bay thị xã, kho Mai Hắc Đế, bộ binh đánh sân bay Hòa Bình… Đây thực sự là cuộc đọ sức quyết
liệt, sống còn giữa ta và địch trong thị xã. Trong ngày này, ta đã hạ nhiều mục tiêu trong thị xã,
nhưng vẫn chưa chiếm được Sư bộ 23 và mục tiêu phía đông tiểu khu. Cho dù tuớng Phú ra lệnh “tử
thủ Buôn Ma Thuột bằng mọi giá” nhưng điều đó đã bị vô hiệu hóa, bởi 10 giờ ngày 11-3, ta đã làm
chủ các mục tiêu, chiếm lĩnh Sư bộ 23 - mục tiêu cuối cùng trong thị xã Buôn Ma Thuột.
Phối hợp với tấn công quân sự, những cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân
được đẩy mạnh hơn bao giờ hết, nhanh chóng phá rã toàn bộ lực lượng kìm kẹp của địch ở cơ sở, xóa
sạch tung tích địch, thiết lập chính quyền tự quản của nhân dân, tiền thân của Hội đồng Nhân dân và
Chiến thắng Buôn Ma Thuột trước hết là nhờ sự chỉ đạo sáng suốt tài tình của Bộ Chính trị,
của Quân uỷ Trung ương đã có quyết tâm cao, chọn đúng thời cơ lịch sử, chọn đúng điểm quyết
chiến chiến lược và tập trung cao độ binh hoả lực để giành thắng lợi. Chiến thắng Buôn Ma Thuột là
Trường THPT Buôn Ma Thuột| 3
Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và
35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột
chiến công chung của quân và dân trong cả nước mà trực tiếp là các lực lượng chủ lực của Mặt trận
Tây Nguyên đã nghi binh giỏi, tạo thế bí mật bất ngờ cho trận đánh từ xa, hợp đồng binh chủng chặt
chẽ, tấn công địch liên tục bằng nhiều trận then chốt: đánh địch ở trọng điểm, đánh diệt địch phản
kích, truy diệt địch chạy.
Chỉ trong thời gian chưa đầy 1 tháng đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ sinh lực địch và
phương tiện chiến tranh trên một chiến trường rộng lớn toàn Tây Nguyên.
Góp phần vào chiến thắng vẻ vang ấy, quân dân Đăk Lăk dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
đã đoàn kết một lòng đứng lên tiến công và nổi dậy. Đặc biệt sự đóng góp sức người, sức của, của
đồng bào các dân tộc trong tỉnh là chất kết dính sức mạnh đấu tranh. Đó là truyền thống đoàn kết
Kinh - Thượng đã được vun xới từ trong lịch sử xa xưa.
Với chiến thắng này, vùng đất và con người Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk đã đi vào lịch sử dân
tộc như những trang sử oanh liệt. Đó là niềm tự hào vô hạn của những thế hệ hôm nay với sự hy sinh
của bao thế hệ cha ông đi trước. Đó là một tài sản, một vốn quí cần được gìn giữ và phát huy
Câu 3: Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở tỉnh Đăk Lăk, các kì đại hội Đảng, các đồng chí Bí thư
Tỉnh uỷ qua các thời kì.
Đảng Cộng sản VN ra đời (3-2-1930) là một bước ngoặt vĩ đại, chấm dứt hoàn toàn vấn đề khủng
hoảng lãnh đạo của cách mạng VN. Sự ra đời của ĐCSVN có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
tiến trình phát triển thắng lợi của của phong trào giải phóng dân tộc ở Đăk Lăk nói riêng, Tây
Nguyên nói chung.
- Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đặc biệt chú ý đến
công tác lãnh đạo, tổ chức và vận động cách mạng trong khu vực đồng bào dân tộc thiểu số,
coi “ lực lượng đấu tranh của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn. Giải phóng đồng
bào các dân tộc là một bộ phận quan trọng trong cuộc cách mạng phản đế và điền địa ở Đông
Dương, là một bộ phận của cách mạng thế giới”.
Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và
35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột
- Tổ chức các cuộc vượt ngục, vọt tàu lửa để đưa cán bộ về cho Đảng. Bồi dưỡng lí luận cách
mạng và chỉ thị, nghị quyết của Đảng cho những người sắp hết hạn tù để trở ra hoạt động cách
mạng.
Với việc chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Nhà đày Buôn Ma Thuột ra đời không những đã thống
nhất được sự lãnh đạo của Đảng trong tù mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc vận động cách
mạng ở Đắk Lắk phát triển thêm một bước mới, chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa cách mạng
Tháng Tám năm 1945 ở Đắk Lắk.
CÁC KÌ ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH ĐẮK LẮK
Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ra đời ở Đắk Lắk (năm 1940), đến nay Đảng bộ tỉnh
Đắk Lắk đã trải qua 14 kì đại hội.
- Tháng 8-1969, dưới sự chỉ đạo của Liên Khu uỷ V, tỉnh Đắk Lắk (lúc này gồm 4 huyện
M’Đrắk, đông Cheo Reo, tây Cheo Reo và Buôn Hồ) triệu tập Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất
tại vùng núi Chư Djũ:. Về dự đại hội có 50 đại biểu được bầu ra từ các huyện và các cơ quan
tỉnh. Đại hội đã kiểm điểm tình hình của tỉnh từ sau Hiệp định Giơnevơ đến năm 1960, đề ra
phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 15. Đại hội bầu ra Ban
Chấp hành Đảng bộ gồm 15 đồng chí, đồng chí Nguyễn Hồng Ưng được bầu làm Bí thư Tỉnh
uỷ.
Từ giữa năm 1961, các đồng chí Nguyễn Hồng Ưng và Nguyễn Liên được điều động về Khu uỷ VI,
đồng chí Nguyễn Tuấn ( Ama Đăng), Phó Bí thư Tỉnh uỷ là Bí thư. Tháng 6-1962, đồng chí Nguyễn
Tuấn về Khu VI, đồng chí Nguyễn Viên ( Bình) Trưởng ban Quân sự tỉnh làm Quyền Bí thư. Cuối
năm 1962, Khu uỷ VI điều động đồng chí Nguyên Liên làm Bí thư tỉnh uỷ.
- Tháng 8- 1963, Đại hội lần thứ II của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (B3):, họp tại Ea Drăh vùng
căn cứ đồng Chư Djũ. Đại hội kiểm kiểm tình hình chỉ đạo của thời kì địch chuyển sang
chiến tranh đặc biệt và đề ra phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới, tập trung vào nhiệm
vụ trung tâm là phát động quần chúng phá kềm, phá ấp giành lại nông thôn.
Đại hội cũng đặc biệt nhấn mạnh đến công tác xây dựng Đảng, tăng cường sự đoàn kết trong
Đảng bộ, khắc phục tư tưởng ngại gian khổ, cố thủ rụt rè, tập trung cho công tác tiến công ra phía
trước. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá II, đồng chí Nguyễn Liên ( Bốn
1976-1980”. Xác định nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng bộ, quân dân các dân tộc trong tỉnh
tập trung cao độ vào mặt trận sản xuất nông nghiệp.
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá VII gồm 39 đồng chí, đồng chí Trần
Kiên được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.
- Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ VIII: tiến hành từ ngày 07 đến ngày 10-11-1979, tại
thị xã Buôn Ma Thuột, số lượng đại biểu được triệu tập 351 đồng chí đến từ 16 tổ chức đảng
bộ trực thuộc. Đại hội kiểm điểm tình hình lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hoá-
xã hội, an ninh- quốc phòng của tỉnh trong nhiệm kì VII và đề ra chủ trương, phương hướng,
biện pháp kinh tế -xã hội trong thời kì mới (1980-1981). Đại hội xác định các nhiệm vụ: tiếp
tục đẩy mạnh sản xuất nông – lâm – công nghiệp phát triển toàn diện, cùng nhiệm vụ sản xuất
lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu là trọng tâm.
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá VIII gồm 43 đồng chí, đồng chí Y
Ngông Niê Kđăm được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.
- Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ IX: được tiến hành trong 2 vòng, vòng 2 từ ngày 5-3-
1983 đến ngày 9-3-1983 tại thị xã BMT, số lượng đại biểu được triệu tập là 372 đồng chí
chính thức đại diện cho 9.000 đảng viên thuộc 20 đảng bộ trực thuộc trong tỉnh.
Đại hội đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh khoá VIII đã tạo ra cơ sở vật
chất, kĩ thuật ban đầu cho nền kinh tế - xã hội của tỉnh. Đại hội đề ra phương hưóng, nhiệm vụ
chung cho Đảng bộ trong 3 năm (1983-1985) là ra sức phát triển phong trào quần chúng sâu rộng,
phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Tăng cường tình đoàn kết dân tộc. Đề ra
các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, tiếp tục xác định vững chắc cơ cấu kinh tế công - nông – lâm nghiệp,
tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, đẩy mạnh sự nghiệp văn hoá- giáo dục- y tế đi vào chất
lượng.
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá IX gồm 45 đồng chí (4 dự khuyết)
đồng chí Y Ngông Niê Kđăm được bầu lại làm Bí thư Tỉnh uỷ.
- Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ X: họp tại thị xã Buôn Ma Thuột từ ngày 9-10 đến
ngày 14-10-1986. Về dự đại hội có 400 đồng chí đại biểu chính thức đến từ 24 đảng bộ trực
thuộc, đại diện cho hơn 10.000 đảng viên trong toàn tỉnh. Đại hội đã kiểm điểm tình hình thực
hiện Nghị quyết Đại hội IX, đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong 5 năm tới từ 1986-1990 là “
nắm vững đường lối và quan điểm cơ bản của Đảng, ra sức phấn đấu đến mức cao nhất với tinh
Diễn ra từ ngày 31-1-2001 đến ngày 02-2-2001 tại thành phố Buôn Ma Thuột, có 397 đại biểu
tham dự thay mặt cho hơn 27.930 đảng viên của 24 đảng bộ trực thuộc tỉnh. Với không khí đoàn kết,
dân chủ, đổi mới, Đại hội bầu ra 47 đồng chí trong Ban chấp hành khoá XIII (2001-2005), đồng chí
Y Luyện Niê Kdăm được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.
Trên cơ sở kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII, đaịi hội nhấn
mạnh trong những năm tới bảo đảm tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và ổn định trên cơ sở phát huy
nội lực, khơi dậy tiềm năng to lớn của địa phương, kết hợp với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài,
tăng cường hợp tác đầu tư mở rộng thị trường nước ngoài. Tiếp tục phát triển mạnh nông sản xuất
khẩu đi đôi vớichuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển mạnh
các nghành công nghiệp, dịch vụ, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm là công nghiệp chế biến- nông – lâm
sản. Kết hợp tăng trưởng kinh tế với môi trường, thực hiện tốt các vấn đề xã hội Phấn đấu đến năm
2010 đưa tỉnh ta trở thành một tỉnh có kinh tế phát triển đạt trên mức trung bình của cả nước; có nền
văn hoá tiên tiến, giữ được bản sắc dân tộc, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đến ngày 31-12-2003, tỉnh Đắk Lắk được tách thành 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông theo Nghị
quyết 22 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Chính trị Ban Chấp hành
Trung ương Đảng đã chỉ định Ban Chấp hành lâm thời gồm 46 đồng chí, đồng chí Y Luyện Niê
Kđăm tiếp tục làm Bí thư Tỉnh uỷ.
- Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XIV:
Tiến hành từ ngày 12-12-2005 đến ngày 14-12-2005 tại
thành phố Buôn Ma Thuột. Có 299 đại biểu về dự, thay
mặt cho hơn 32.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Trên
cơ sở kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết của Đại
hội khoá XIII, Đại hội nhấn mạnh: “ Nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy sức,
mạnh đoàn kết các dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, tiếp
tục đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hoá, phát
triển kinh tế nhanh và bền vững”. Đại hội bầu ra 48 đồng
chí trong Ban Chấp hành khoá XIV (2005-2010), đồng chí
Niê Thuật được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.
CÁC ĐỒNG CHÍ BÍ THƯ TỈNH UỶ ĐẮK LẮK QUA CÁC THỜI KÌ
hoạt động, làm Bí thư Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Ngãi. Năm 1950 làm Bí thư cán sự Đảng tỉnh Đắk
Lắk. Năm 1955, đồng chí tập kết ra Bắc tiếp tục giữ nhiều chức vụ quan trọng: Phó Ban tổ chức
Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Uỷ ban thống nhất của Chính phủ. Năm 1977 nghỉ hưu tại Đà
Nẵng và đồng chí mất năm 1983.
5. Đồng chí Lê Văn Nhiễu: sinh tháng 1-1920 tại xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Tháng 9-1940 bị địch bắt và đày vào nhà lao Buôn Ma Thuột. Sau cách mạng Tháng Tám thành
công, đồng chí được điều về làm cán bộ tuyên huấn Liên khu V, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn 125. Từ
năm 1952-1954, là Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Đắk Lắk kiêm Chính uỷ Trung đoàn 84. Sau cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp kết thúc, đồng chí tiếp tục dẫn đoàn cán bộ Đắk Lắk tập kết ra Bắc, tiếp
tục giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội, đồng chí mất tháng 5-1976.
6. Đồng chí Trương Quang Tuân: sinh năm 1923 tại thôn Trà Bình, xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh,
tỉnh Quảng Ngãi. Tháng 5-1947, đồng chí làm Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ngãi. Cuối năm 1949 đến năm
1951, làm thư kí riêng cho đồng chí Phạm Văn Đồng. Từ năm 1955-1957, là Uỷ viên Liên Khu uỷ
V, Bí thư cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk, Bí thư Ban cán sự Liên tỉnh IV. Năm 1959, trên đường đi công
tác đồng chí đã hi sinh tại Trà My, tỉnh Quảng Nam.
7. Đồng chí Nguyễn Hồng Ưng: bí danh “ Vũ Anh Ba”, sinh ngày 14-4-1922 tại Tịnh Hà, Sơn
Tịnh, Quảng Ngãi. Sau Hiệp định Giơnevơ, đồng chí được Khu uỷ V phân công ở lại làm Phó Bí thư
Tỉnh uỷ Gia Lai. Giữa năm 1959 được phân công về làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk. Tháng 8-1956,
trong Đại hội Đảng bộ tỉnh lần II, đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk. Sau năm 1975,
đồng chí làm Trưởng ban kinh tế mới- định canh, định cư tỉnh Lâm Đồng. Năm 1978, đồng chí nghỉ
hưu, năm 1996 đồng chí mất.
8. Đồng chí Nguyễn Tuấn: ( A ma Đăng), sinh ngày 10-10-1924 tại thôn Long Tường, Phụng
Tường, Tuy Hoà, Tổng Hoà Tường, tỉnh Phú Yên. Tháng 8-1960 đồng chí giữ chức vụ Phó Bí thư
Tỉnh uỷ Đắk Lắk. Tháng 12-1960, đồng chí được chỉ định làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk thay cho
đồng chí Nguyễn Hồng Ưng.
9. Đồng chí Võ Trung Thành: ( Năm Vinh), sinh ngày 14-10-1924 tại thôn Thuỷ Thạch, Phổ
Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1953 đồng chí được điều động lên Tây Nguyên làm
Phó Bí thư Liên tỉnh Gia Lai-Kon Tum. Sau đó làm Bí thư Tỉnh uỷ Gia Lai. Tháng 6-1963, làm Bí
thư B3 gồm 4 huyện M’Đrăk, đông Cheo Reo, tây Cheo Reo và Buôn Hồ. Sau khi thống nhất B3 và
B4 thành tỉnh Đắk Lắk, đồng chí được điều về nhận công tác mới. Tháng 5-1969, đồng chí được điều
ương Đảng khoá VII Tháng 10-1997 đồng chí nghỉ hưu.
13: Đồng chí Y Ngông Niê Kdăm: tên thường gọi là Y Ngông, bí danh là “ Nguyễn Aí Việt”, sinh
ngày 13-8-1922 tại buôn Ea Sut, thị trấn Ea Pôk, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Năm 1941, theo
học trường Y khoa Đông Dương tại Sài Gòn. Sau khi tốt nghịêp, đồng chí công tác tại Đắk Lắk,
tham gia các đoàn thể cứu quốc: Hội Thanh niên cứu quốc, Hội truyền bá Quốc ngữ của tỉnh. Cách
mạng Tháng Tám thành công, đồng chí tham gia Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời của tỉnh Đắk
Lắk, uỷ viên tuyên truyền của tỉnh. Ngày 6-1-1946, trong kì bầu cử Quốc hội khoá I của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà, đồng chí cùng với Y Wang Mlô Duôn Du là 2 đại biểu Quốc hội đầu tiên
của tỉnh Đắk Lắk. Tại kì họp thứ nhất của Quốc hội (3-1946), đồng chí được bầu vào Uỷ ban
Thường trực Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1976, đồng chí được bầu làm uỷ
viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IV. Năm 1977, đồng chí giữ chức vụ Thứ
trưởng Bộ Giáo dục và là Uỷ viên Hội đồng Nhà nước. Năm 1978, đồng chí làm Phó Chủ tịch, Chủ
tịch UBND tỉnh Đắk Lắk. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (3-1982) của Đảng. đồng chí
được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ năm 1988, đồng chí làm chủ tịch Hội đồng Dân
tộc của Quốc hội khoá VIII, IX, đồng chí là đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá IX.
14. Đồng chí AMa Pui: Tên khai sinh Yliă Mjâo, sinh ngày 26-6-1932, tại buôn A Drơng, xã Chư
Pơng, huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk. Tháng 4-1975, đồng chí giữ chức vụ là Tỉnh uỷ viên, được
phân công làm Phó Bí thư Thị uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Mặt trận thị xã Buôn Ma
Thuột. Tháng 6-1991, tại Đại hội đaị biểu toàn quốc lẫn thứ VII, đồng chí được bầu là Uỷ viên dự
khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1992, tại Đại hội lần thứ XI Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk,
đồng chí được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk, Chủ tịch UBND tỉnh Năm 1977 đồng chí
nghỉ hưu.
15. Đồng chí Mai Văn Năm: sinh ngày 3-5-1948 tại Hoà Hải, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng. Tháng
12-1990 đồng chí được điều động về thị xã Buôn Ma Thuột và được Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
bầu làm Bí thư Thị uỷ. Từ đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI (1991), đồng chí tiếp tục được
bầu vào Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ. Tháng 5-1996, đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh
uỷ Đắk Lắk và tại Đại hội toàn quốc của Đảng đồng chí được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung
ương, được bầu vào Uỷ ban kiểm tra Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra. Tháng 3-
2002, đồng chí được Bộ Chính trị điều động về làm Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây
Nguyên.
sĩ cách mạng bị bắt trong các phong trào cách mạng ở trong nước.
Sau cao trào 1930-1931 và Xô Viết-Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp bắt đày lên Buôn Ma Thuột trên 30
chiến sĩ cộng sản. Đến năm 1936, chúng bỏ nhà lao Lao Bảo và chuyển số tù nhân còn sống lên
Buôn Ma Thuột, từ đây Buôn Ma Thuột trở thành một nhà tù lớn của Pháp ở Đông Dương.
Nhà tù Buôn Ma Thuột được tổ chức khá quy mô và kiên cố. Toàn bộ nhà tù là một vùng đất hình
vuông, mỗi chiều trên 100
m
, chung quanh có tường cao bao bọc. Chúng chia nhiều nhà lao để nhốt
riêng từng loại tù, một dãy xà lim dài có thể nhốt hàng chục người. Ngoài ra, chúng còn một hệ
thống canh gác ở vòng ngoài. Thực dân Pháp đã thi hành một chế độ nhà tù hết sức khắc nghiệt và
tàn bạo. Tất cả tù nhân phải đóng số tù ở lưng. Lao dịch nặng
nề cùng với những điều kiện khắc nghiệt, khổ sai làm cho
bệnh tật, ốm đau hoành hành. Bởi vậy, nhà tù Buôn Ma Thuột
là cả một sự tố cáo đanh thép về sự đối xử dã man tàn bạo
nhất của thực dân đế quốc đối với những người yêu nước.
Thực chất chế độ nhà tù là tìm mọi cách giết dần giết mòn và
đi đến thủ tiêu hoàn toàn những người chiến sĩ cộng sản bị
giam giữ.
Trước sự giam cầm, đàn áp của thực dân, các tù nhân trong
nhà tù Buôn Ma Thuột đã liên tiếp đứng dậy đấu tranh, coi đó
là trường học chiến đấu của mình.
Cuối năm 1940, do tình hình mới, một số chiến sĩ cộng sản ( khoảng 10 đồng chí trong các tổ chức
bí mật) đã tự thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Với các kí hiệu tên gọi khác nhau, chi bộ
được tổ chức và phát triển đội ngũ đảng viên của mình theo đúng chính cương điều lệ của Đảng và tự
xác định phải thực hiện cho được những nhiệm vụ sau:
- Làm hạt nhân tổ chức và lãnh đạo toàn thể tù nhân đấu tranh để bảo vệ quyền lợi , bảo vệ cải
thiện đời sống vật chất tinh thần cho tù nhân.
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng, chuẩn bị cho hoạt động cách mạng của từng người sau
khi ra tù.
- Tìm cách liên lạc để tổ chức vận động cách mạng ở thị xã Buôn Ma Thuột mà trước hết là
động. Những hạt nhân này được nhân rộng ra các đồn điền (mạnh nhất là đồn điền CADA).
Những người cộng sản chiến đấu không biết mệt mỏi mằc dù với điều kiện đặc biệt, hễ có điều
kiện là họ tranh thủ giác ngộ, giáo dục binh lính, liên lạc để tuyên truyền vận động quần chúng
bên ngoài. Những thủ đoạn của Pháp thâm độc khi sử dụng chiêu bài “ dùng người Thượng đánh
người Kinh” nhằm chia rẽ mối đoàn kết dân tộc đã hoàn toàn thất bại trước sự đấu tranh kiên
cường của các chiến sĩ cộng sản trong tù.
Tầng lớp binh lính đã nhận thức được lẽ phải,
họ bắt đầu đứng về cách mạng, đó là một
động lực lớn cho cách mạng ta. Ngoài ra họ
còn gây cơ sở ở trạm xá nhà tù, một cơ sở y tế
cách mạng trong tù được gây dựng bên cạnh
một cơ sở đầu tiên của người Êđê. Đây là
những con đường thuận lợi để bắt liên lạc và
nhân rộng phong trào.
Ảnh huởng của những phong trào đấu tranh
cách mạng trong nhà tù Buôn Ma Thuột còn
lan rộng ra trong các lớp học sinh, Sở lục bộ,
nhà máy đèn, nhà máy nước, Sở giáo dục,
Bưu điện… Những cơ sở cách mạng dần dần được xây dựng trong các công sở ngày một nhiều.
Hoạt động đấu tranh trong tù, xây dựng cơ sở cách mạng, phát triển ảnh hưởng cách mạng ra
ngoài là nhiệm vụ cấp bách của những đảng viên cộng sản, của chi bộ nhà tù Buôn Ma Thuột lúc
này. Những hoạt động đó có tác dụng trực tiếp làm phát triển mạnh mẽ phong trào cách mạng
trong tỉnh. Bởi vậy, không thể nhìn nhà tù Buôn Ma Thuột như một cái gì biệt lập với phong trào
cách mạng ở đây. Trái lại, những hoạt động của họ là yếu tố hữu cơ của cuộc vận động giải
phóng dân tộc ở Đăk Lăk. Ảnh hưởng của những hoạt động này có một ý nghĩa hết sức to lớn,
quan trọng trong đời sống chính trị của nhân dân các dân tộc ở Đăk Lăk.
Nhà tù Buôn Ma Thuột, với cuộc chiến đấu không mệt mỏi của các đảng viên cộng sản, thực
tế đã trở thành đầu mối trung tâm, là yếu tố quyết định cho cuộc vận động cách mạng giải phóng
dân tộc ở tỉnh Đăk Lăk, đưa cách mạng Tháng Tám đến thành công.
Bước sang năm 1945, những vận hội mới đang đến gần với cách mạng nước ta, “Nhật - Pháp
vụ 26,8%. Trong 9 tháng đầu năm 2009, tuy chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu
nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn được duy trì ở mức 11,16%.
Sản xuất nông-lâm nghiệp hàng năm đếu có bước tăng trưởng khá và tương đối toàn diện. Từ
chỗ thiếu ăn trầm trọng trong những năm đầu sau ngày giải phóng đến nay tỉnh Đắk Lắk không chỉ
đáp ứng được yêu cầu lương thực tại chỗ mà còn có đủ lương thực dự trữ và đảm bảo an ninh lương
thực trên địa bàn. Nếu như năm 1975, tổng sản lượng lương thực có hạt 61.532 tấn, năm 1985 là
209.300 tấn, năm 2003 đạt trên 851.000 tấn, đến năm 2008 tổng sản lượng lương thực có hạt đạt
946.789 tấn. Sau năm 1975, cả tỉnh chỉ có 200 ha ruộng lúa nước, 5.000 ha cà phê, 3.000 ha cao su
thì đến nay đã có trên 25.000 ha ruộng lúa nước, 181.120 ha cà phê, 23.900 ha cao su… Sản phẩm
nông nghiệp không chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh mà còn tạo ra nguồn nông sản
hàng hóa lớn phục vụ cho xuất khẩu.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk, niên vụ cà phê 2009 – 2010,
Đắk Lắk chỉ đạt năng suất từ 22 đến 23 tạ cà phê nhân/ha, sản lượng cà phê nhân đạt 400.000 tấn,
giảm gần 15.500 tấn so với niên vụ cà phê 2008-2009. Đắk Lắk hiện có trên 185.000 ha cà phê, trong
đó có 173.233 ha cà phê kinh doanh cho thu hoạch.
Trong chăn nuôi, hình thành nhiều
trang trại có quy mô lớn, đàn gia súc, gia
cầm không ngừng được tăng lên cả về số
lượng và chất lượng. Năm 1975, toàn tỉnh
chỉ có 3.520 con trâu, 12.629 con bò,
66.158 con heo và 165.900 con gia cầm;
đến nay (năm 2008) đã có 29.800 trâu,
212.000 bò, 624.000 heo, 68.000 dê và 5,8
triêu gia cầm các loại, gần 170.000 đàn
ong, nuôi trồng thủy sản 6.319 ha… Việc
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã
đạt được một số kết quả nhất định theo hướng tăng giá trị kinh tế tiếp tục phát triển ổn định.
Năm 2008, tổng ngân sách thu trên địa bàn là 844 tỷ đồng, vượt kế hoạch 10,8%; kim ngạch
xuất khẩu tăng mạnh đạt trên 700 triệu usd.
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp không ngừng phát triển. Tổng đầu tư trong 5 năm (2001-
trọng.
Câu 6: Nêu tóm tắt mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về kinh tế - xã hội, quốc phòng-
an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị do Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XIV
(nhiệm kỳ 2005-2010) đã đề ra?
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV tiến hành từ ngày 12-12-2005 đến ngày 14-12-2005 tại
thành phố Buôn Ma Thuột. Về dự Đại hội có 299 đại biểu đại diện cho gần 32.000 đảng viên trong
toàn Đảng bộ.
Đại hội xác định tiếp tục thực hiện đồng bộ các chương trình có tính chất đột phá để tạo ra sự
chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh,
xây dựng hệ thống chính trị các cấp trong tỉnh. Tập trung xây dựng các chương trình như: phát triển
thủy lợi; phát triển công nghiêp - tiểu thủ công nghiệp nông thôn; phát triển kinh tế buôn, thôn; phát
triển chăn nuôi; chương trình xóa đói giảm nghèo; chương trình đào tạo nhân lực…
Đại hội đề ra các chỉ tiêu chủ yếu cho đến năm 2010:
1. Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân 11-
12%/năm, trong đó nông – lâm nghiệp tăng 5-6%, công
nghiệp – xây dựng 22-23%, thương nghiệp - dịch vụ
18-19%.
Cơ cấu kinh tế của tỉnh xác định là: Nông- lâm
nghiệp – công nghiệp - dịch vụ; trong đó tỷ trọng nông
- lâm nghiệp chiếm 48-49%, công nghiệp – xây dựng
chiếm 20,5-21% và thương mại – dịch vụ chiếm 30,5 –
31%.
2. Thu nhập bình quân đầu người đạt 850 ÚD
( tính theo giá so sánh năm 1994), từ 9 - 9,5 triệu đồng
( tính theo giá hiện thời).
3. Phát triểncơ sở hạ tầng
- Thủy lợi: bảo đảm tưới chủ động cho trên 70% diện tích cây trồng có nhu cầu nước tưới.
- Giao thông: cải tạo, nâng cấp nhựa hoặc bê tông hóa toàn bộ các tuyến đường tỉnh lộ, đường
đến trung tâm xã, 50% hệ thống đường huyện, 25% đường xã và liên xã.
- Điện: 95% trở lên thôn, buôn có điện, trong đó 90 – 95% số hộ được dùng điện. Mức tiêu
trật tự an toàn xã hội. Xây dựng lực lượng vũ trang bảo đảm số lượng, có chất lượng toàn diện. Giải
quyết dứt điểm vấn đề FULRO bên trong, không để xẩy ra biểu tình, bạo loạn, vượt biên , xâm nhập
trái phép.
15. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong tình hình mới,
đồng thời chăm lo xây dựng hệ thống chính trị vững mạng; 100% thôn, buôn, tổ dân phố có chi bộ
Đảng vào năm 2010; 75% số tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh; 90% đảng viên đủ tư
cách hàon thành nhiệm vụ, trong đó có 35% hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bình quân mỗi năm kết
nạp từ 2.500 - 3.000 đảng viên.
NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
I/Tập trung phát triển kinh tế nhanh, bền vững
Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa gắn với
việc xây dựng nông thôn mới, cải thiện đời sống dân cư nông thôn.
Đẩy nhanh tiến độ phát triển công nghiệp, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
tăng trưởng nền kinh tế.
Phát triển thương mại- dịch vụ theo hướng cơ cấu kinh tế mở, hội nhập tận dụng cơ hội phát
triển thị trường trong nước và nước ngoài.
Đẩy mạnh vàn nâng cao chất lượng, hiệu quả quy hoạch, phát huy tối đa các nguồn lực để
phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội đồng bộ, tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả tài
nguyên, bảo vệ môi trường.
Làm tốt công tác quy hoạch tổng thể kinh tê – xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực bảo đảm cho
định hướng phát triển lâu dài.
Thực hiện chiến lược huy động các nguồn lực của tỉnh để phát triển kinh tế - xã hội, ưu tiên
phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội mà trọng tâm là thủy lợi, giao thông, điện, trường học, y tế
với tỷ trọng lớn, trước hết là vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ vùng xa.
Tiếp tục củng cố phát triển các thành phần kinh tế nhằm khai thác tối đa các nguồn lực thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
II/ Phát triển văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân và các vấn đề xã hội
Tập trung tạo chuyển biến cơ bản về giáo dục – đào tạo phục vụ yêu cầu nâng cao dân trí,
phát triển nguồn lực.
Đẩy mạnh công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.
quản lý nhân khẩu, hộ khẩu, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, trật tự an toàn giao thông, phòng chống cháy
nổ. Nâng cao chất lượng điều tra, truy tố xét xử và thi hành án; xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng
pháp luật các loại tội phạm; giải quyết có hiệu quả các khiểu nại, tố cáo của nhân dân. Đẩy mạnh
công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ,
đảng viên và nhân dân. Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và các cơ quan nội chính trong sạch vững
mạnh để hoàn thành tốt nhiệm vụ; tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho cơ quan tư
pháp.
IV- Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tích cực xây dựng chỉnh
đốn Đảng; xây dựng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện
Tiếp tục xây dựng bộ máy Nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; phát huy dân
chủ xã hội chủ nghĩa; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, ngăn ngừa và đấu tranh chống tham
nhũng có hiệu quả.
Tăng cường đoàn kết toàn dân, chăm lo xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân
dân, xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể quần chúng nhân dân vững mạnh.
Không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng vững mạnh cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ
chức; năng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên.
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và thực hiện cuộc vận động xây dựng và
chỉnh đốn Đảng đi vào chiều sâu, làm chuyển biến mạnh mẽ về chất.
Câu 7: Viết về một tấm gương đảng viên giỏi
Y on – người đảng viên “hai giỏi”
Không chỉ lo làm giàu cho gia đình mình, Y On Niê còn biết
chia sẻ, hỗ trợ bà con trong cộng đồng cùng vươn lên. Đối với
đồng bào Ê-đê ở buôn Ea Sút, thị trấn Ea Pốc, huyện Cư Mgar
(Đăk Lăk), Y On là tấm gương về người cán bộ, đảng viên “hai
giỏi”.
Trưởng thành và lập gia đình sau ngày đất nước giải phóng; vốn
là cán bộ y tế của Nông trường cà phê Ea Pốc, nên Y On có điều
kiện tiếp thu và biết áp dụng những khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, trở thành tấm gương lao động giỏi ở buôn Ea Sút. ở huyện
Cư Mgar cũng như cả vùng Tây Nguyên, vào những năm cà phê
triệu đồng/người/tháng. Mỗi khi có hộ nào trong buôn cần sự giúp đỡ về vốn đầu tư, gạo ăn khi thiếu
đói… Y On luôn sẵn lòng giúp đỡ. Mỗi năm anh dành ra hàng chục triệu đồng cho bà con trong buôn
và cả những buôn khác mượn không lấy lãi.
Y On không chỉ được biết đến là nông dân biết làm kinh tế giỏi, mà anh còn là người cán bộ, đảng
viên có trách nhiệm với dân. Từ cán bộ y tế của Nông trường cà phê Ea Pốc, Y On được bà con và
cấp uỷ, chính quyền tín nhiệm giao các chức vụ Bí thư đoàn, Phó công an, rồi Phó Chủ tịch UBND
thị trấn Ea Pốc. ở cương vị nào, Y On cũng phấn đấu làm tốt nhiệm vụ của người cán bộ, đảng viên.
Anh tâm sự: “Người cán bộ muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ trước hết phải thực sự gần dân, hiểu dân
và phải biết nói cho dân hiểu, làm cho dân theo. Cán bộ mà không nắm chắc tư tưởng và đời sống
của dân thì không làm được việc gì cho dân cả!”. ở Tây Nguyên, có được những cán bộ “hai giỏi”
như Y On thật đáng quý
Câu 8: Suy nghĩ, cảm xúc của bản thân về lịch sử vẻ vang của Đảng bộ tỉnh ta qua 70
năm hình thành và phát triển:
Đắk Lắk là một tỉnh nằm trên địa bàn Tây Nguyên có vị trí chiến lược rất quan trọng về chính
trị, kinh tế và quốc phòng - an ninh. Hiện nay, sau khi chia tách tỉnh, Đắk Lắk thành Đắk Lắk (mới)
và Đắk Nông, từ 1-1-2004 Đắk Lắk (mới) có diện tích tự nhiên là 13.085 km2, dân số gần 1,7 triệu
người, với gần 44 dân tộc khác nhau cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm
khoảng 29,5% dân số toàn tỉnh.
Tỉnh Đắk Lắk nằm ở độ cao từ 400m- 600m so với mặt biển, có vùng đất bazan rộng lớn,
tương đối bằng phẳng và rất màu mỡ, thích hợp với các loại cây công nghiệp, hiện có 210.000 ha cà
phê với sản lượng 350.000 tấn nhân, nhiều nhất cả nước. Sản phẩm cà phê của tỉnh chiếm tỷ trọng
70% tổng giá trị kinh tế của ngành nông nghiệp. Diện tích cao su khoảng 25.000 nghìn ha với sản
lượng mủ khai thác 17.000 tấn mủ khô/năm. Diện tích cây bông vải đạt trên 12.000 ha, cao nhất cả
nước. Ngành công nghiệp của tỉnh phát triển chủ yếu ở các lĩnh vực chế biến nông sản với quy mô
vừa và nhỏ, trên địa bàn có Nhà máy Thuỷ điện Đray H'linh với công suất 12 MW. Hiện nay, Nhà
nước đang đầu tư xây dựng công trình thuỷ điện Buôn Kuốp công suất 260 MW và công trình thuỷ
điện ĐrayH'linh2 với công suất 18 MW trên dòng sông Sêrêpốc.
Là một tỉnh có tiềm năng lớn về kinh tế, tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng, phong phú, đặc
Trường THPT Buôn Ma Thuột| 16
Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và
cứu tìm hiểu thị trường xuất khẩu và đối tác kinh doanh, đặc biệt là trên lĩnh vực xuất khẩu lao động
bắt đầu triển khai thực hiện có kết quả, mở ra hướng đi mới trong công tác giải quyết việc làm cho
người lao động. Bên cạnh việc tăng cường thông tin đối ngoại, Đắk Lắk cũng không ngừng xây dựng
mối quan hệ láng giềng hữu nghị với tỉnh bạn Mondunkiri, Campuchia, thiết lập quan hệ gắn bó, gần
gũi, đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam nói chung, đồng bào các dân tộc Đắk Lắk nói riêng. Những
thành tựu trên là rất to lớn, mở cho ra hướng mới cho sự phát triển của Đắk Lắk trong thời gian tới.
Nhìn lại quãng đường 70 năm qua, tỉnh Đăk Lăk đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm, biến
cố của lịch sử “Hết đánh Pháp lại kiên cường đánh Mĩ ” nhưng hơn thế-hôm nay Đăk Lăk càng ngày
càng phát triển đi lên không ngừng về mọi lĩnh vực: chính trị, văn hoá, kinh tế… Có được như ngày
hôm nay, trước hết phải kể đến vai trò lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng. Thêm nữa là nhờ sự
nỗ lực của toàn thể cán bộ và nhân dân trên toàn tỉnh. Mặt khác còn nhờ ở sự cộng tác đắc lực của
các tỉnh bạn…Suốt chặng đường dài đầy khó khăn ,gian khổ, hy sinh và mất mát, Đảng ta đã từng
bước làm thay đổi bộ mặt của miền đất đỏ bazan đầy nắng và gió này.
Đạt được những thành tựu trên đây trước hết là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng,
của các cơ quan , ban ngành và cùng với sự nỗ lực của toàn dân trong tỉnh
Chúng ta thật tự hào về những trang lịch sử vẻ vang của đảng bộ tỉnh ta! Cảm ơn Đảng đã đưa
đường chỉ lối để cho bộ mặt tỉnh Đăk Lăk có nhiểu khởi sắc!
Là những nhà giáo từ mọi miền Tổ quốc về đây làm công tác giáo dục, chúng ta nguyện đem
hết năng lực, trí tuệ và lòng nhiệt tình của mình phục vụ cho sự nghiệp giáo dục của tỉnh ta ngày
một tiến triển không ngừng cả về số lượng và chất lượng. Tự hào về truyền thống vẻ vang của Đảng,
chúng ta quyết tâm đem công sức của mình để đào tạo thế hệ trẻ tương lai thành những nhân tài hữu
ích cho quê hương đất nước.
Buôn Ma Thuột, ngày 25 tháng 01 năm 2010
Trường THPT Buôn Ma Thuột| 17
Bài dự thi-Tìm hiểu 70 năm lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk và
35 năm chiến thắng lịch sử Buôn Ma Thuột
Trường THPT Buôn Ma Thuột| 18