HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
CHỦ ĐỀ
NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
DANH SÁCH NHÓM
Quách Thùy Trang
Trần Minh Nguyệt
Vũ Ngọc Anh
Bùi Thị Hồng Hà
Dương Vân Lan Anh
Đặng Thị Hương Ly
Tạ Thị Liên
Lê Thị Thùy Linh
Nguyễn Thị Thùy Linh
Đỗ Nhã Linh
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
Năng suất lao động xã hội =
Tổng sản phẩm trong nước (GDP)
Tổng số người làm việc bình quân
Chỉ tiêu NSLĐ thường được phân tổ theo ngành kinh tế (hoặc khu vực kinh tế)
và loại hình kinh tế. Nguồn số liệu tính NSLĐ được lấy từ: (i) Số liệu GDP hàng
năm; (ii) Số lao động đang làm việc bình quân (số lao động có việc làm). Cả hai chỉ
tiêu này được thu thập, tính toán theo tiêu chuẩn quốc tế, trong đó chỉ tiêu GDP
được Tổng cục Thống kê áp dụng các khái niệm, nguyên tắc, nguồn thông tin và
phương pháp tính theo đúng quy định trong hệ thống tài khoản quốc gia của Liên
hợp quốc; chỉ tiêu lao động đang làm việc (lao động có việc làm) được tính theo
khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
II. THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT LAO
ĐỘNG VIỆT NAM
1. Thực trạng năng suất lao động Việt Nam
1.1. Năng suất lao động của toàn nền kinh tế
NSLĐ của toàn nền kinh tế năm 2015 đạt 79,3 triệu đồng/lao động (tương
đương khoảng 3.657 USD/lao động) tăng 6,4% so với năm 2014, bình quân giai
đoạn 2006-2015 tăng 3,9%/năm, trong đó giai đoạn 2006-2010 tăng 3,4%/năm; giai
đoạn 2011-2015 tăng 4,3%/năm.
NSLĐ của Việt Nam thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể theo hướng
tăng đều qua các năm, khoảng cách tương đối về NSLĐ với các nước ASEAN được
thu hẹp dần. Cụ thể, nếu năm 1994 NSLĐ của Singapore, Malaysia, Thái Lan,
Philippines và Indonesia lần lượt gấp 29,2 lần; 10,6; 4,6; 3,1 và 2,9 lần NSLĐ của
Việt Nam thì năm 2013 khoảng cách tương đối này giảm xuống tương ứng còn 18
dựng
KV dịch vụ
2005
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
7,5
13,6
14,1
16,8
22,9
52,2
57,9
63,8
76,5
83,7
92,8
99,9
106,6
Tổng
21,4
34,8
37,9
44,0
55,2
63,1
8,3 lần khu vực ngoài Nhà nước (44,5 triệu đồng).
1.4. Năng suất lao động trong khu vực doanh nghiệp
NSLĐ bình quân toàn bộ khu vực doanh nghiệp 9 năm 2014 theo giá hiện
hành ước tính đạt 281,4 triệu đồng/lao động, trong đó doanh nghiệp Nhà nước đạt
732,5 triệu đồng/lao động; doanh nghiệp ngoài Nhà nước đạt 168,2 triệu đồng/lao
động; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 317,4 triệu
đồng/lao động. Theo ngành kinh tế, NSLĐ bình quân các doanh nghiệp trong khu
vực dịch vụ đạt mức cao nhất với 349,6 triệu đồng/lao động, doanh nghiệp khu vực
công nghiệp và xây dựng đạt 253,5 triệu đồng/lao động
NSLĐ trong khu vực doanh nghiệp (Theo giá hiện hành)
Đơn vị : Triệu đồng
Năm
2001
2007
2011
2012
2013
Tổng số
Chia theo loại hình doanh
nghiệp
Doanh nghiệp Nhà nước
Doanh nghiệp ngoài Nhà nước
Doanh nghiệp FDI
728,8
171,9
242,5
734,9
153,9
301,8
732,5
168,2
317,4
18,1
49,8
103,0
60,8
104,2
209,9
157,9
200,2
350,7
138,4
214,1
373,0
142,1
NSLĐ theo giờ năm 2014 tăng 6,8% so với năm 2013 (cao hơn mức tăng 4,9% của
NSLĐ tính theo lao động), bình quân giai đoạn 2010-2014 tăng 5,4% (bình quân tốc
độ tăng NSLĐ tính theo lao động giai đoạn 2010-2014 là 3,8%). Điều này cho thấy,
NSLĐ trên mỗi giờ làm việc của Việt Nam có sự gia tăng đáng kể.
So với một số nước trong khu vực, số giờ làm việc trung bình mỗi tuần của
một lao động Việt Nam tương đương với Malaysia (trung bình 44,9 giờ/tuần); cao
hơn Thái Lan (42,7 giờ/tuần), nhưng thấp hơn nhiều mức bình quân 51,7 giờ/tuần
của Singapore. Do số giờ làm việc của một lao động ở Singapore cao hơn so với ở
Việt Nam, nên khoảng cách giữa năng suất tính theo mỗi giờ làm việc giữa
Singapore và Việt Nam năm 2012 tuy vẫn lớn (15,7 lần).
Năm
Singapore
Malaysia
Thái Lan
Việt Nam
Số giờ làm việc trung bình một tuần
(giờ)
2009
2010
2011
2012
51.2
51.7
51.7
51.7
42.4
44.4
44.4
15.0
6.5
2.3
Nguồn: TCTK và tính toán số liệu của Các chỉ số phát triển thế giới - World Development Indicators
-Worldbank
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của Việt Nam
Xuất phát điểm và quy mô nền kinh tế
Mặc dù quy mô kinh tế Việt Nam đã tăng gấp 29 lần trong vòng 24 năm
(1990-2014) và khoảng cách về GDP với các nước được thu hẹp dần, nhưng so với
một số nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore và
Philipines thì quy mô kinh tế Việt Nam vẫn còn nhỏ. Tại thời điểm năm 2014, GDP
của Indonesia gấp 4,8 lần GDP của Việt Nam; Thái Lan gấp 2 lần; Malaysia gấp 1,8
lần; Singapore gấp 1,7 lần và Philipines gấp 1,5 lần. Với xuất phát điểm thấp , quy
mô kinh tế nhỏ, việc thu hẹp khoảng cách tương đối về thu nhập bình quân và
NSLĐ của Việt Nam với các nước trong thời gian qua là thành tựu đáng ghi nhận,
nhưng vẫn chưa đủ để thu hẹp khoảng cách tuyệt đối về giá trị NSLĐ so với các
nước trong khu vực.
Chất lượng lao động, cơ cấu nhân lực và hiệu quả sử dụng lao động
qua đào tạo
Năm 2015, cả nước có hơn 10,5 triệu lao động được đào tạo trong tổng số
52,9 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm, chiếm 19,9%. Như vậy, cả nước
hiện có trên 42,4 triệu người (chiếm 80,1% tổng số lao động) chưa được đào tạo để
đạt trình độ chuyên môn kỹ thuật nào đó. Chất lượng lao động có sự chênh lệch rõ
nhất giữa khu vực nông thôn và thành thị. Ở thành thị lao động đã được đào tạo
chiếm 36,3%, trong khi ở nông thôn chỉ có 12,6%. Đây chính là rào cản lớn cho
làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, khó có điều kiện để thúc đẩy
tăng NSLĐ như khu vực công nghiệp và dịch vụ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ ở cấp độ doanh nghiệp
Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao NSLĐ
và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Có nhiều nhân tố tác động đến NSLĐ ở cấp
độ doanh nghiệp như: Trình độ và kỹ năng của người lao động; tài sản, khả năng tổ
chức, quản lý và đổi mới; vị trí địa lý, mức độ tập trung doanh nghiệp, đô thị hóa...
III. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM
1. Giải pháp nâng cao NSLĐ cho toàn nền kinh tế
1.1. Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô
Thực hiện hiệu quả các đột phá chiến lược, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế
gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và
sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp, của nền kinh tế. Nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản trị nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh cải cách thủ
tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý
Nhà nước. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ.
1.2. Đẩy nhanh tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang
phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng
nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững. Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế,
Thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế nhanh và bền vững; phát triển hài hòa, cân đối
giữa các vùng/ miền. Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực
có NSLĐ thấp sang khu vực NSLĐ cao
1.3. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động đầu tư cho khoa học công nghệ (KHCN), thu
hút các thành phần xã hội tham gia hoạt động KHCN
Tăng cường sự gắn kết chặt chẽ giữa KHCN với sản xuất, gắn kết các viện
nghiên cứu, các trường đại học với doanh nghiệp nhằm thương mại hóa sản phẩm
ngay trên ghế nhà trường.
- Nhanh chóng hoàn thành việc xây dựng và triển khai hệ thống trung tâm
thông tin, dự báo cung cầu nhân lực quốc gia; làm tốt công tác dự báo về nhu cầu
nhân lực đến từng ngành/lĩnh vực của nền kinh tế theo từng giai đoạn,
- Tiến hành đào tạo nhân lực một cách bài bản, nghiêm túc, trang bị cho
người học đầy đủ kiến thức từ lý thuyết đến thực hành, kỹ năng đáp ứng tối đa nhu
cầu sử dụng lao động của DN, cơ quan, tổ chức.
1.7. Nghiên cứu cải cách chính sách tiền lương, tiền công theo nguyên tắc thị
trường, phù hợp giữa tăng tiền lương và tăng NSLĐ.
- Thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở, mức lương tối thiểu theo lộ trình
phù hợp, bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động. Xây dựng và vận hành hệ
thống thông tin thị trường lao động; nâng cao năng lực dự báo, kế hoạch hóa nguồn
nhân lực.
- Điều chỉnh nhanh hơn mức lương tối thiểu khu vực DN
- Điều chỉnh mức lương tối thiểu khu vực hưởng lương từ ngân sách nhà
nước theo lộ trình tiến tới bảo đảm nhu cầu tối thiểu của người hưởng lương gắn với
đổi mới hoạt động sự nghiệp công và phù hợp với khả năng của nền kinh tế.
- Đối với khu vực hành chính nhà nước, đảng, đoàn thể, cần tiếp tục đẩy
mạnh cải cách hành chính, thu gọn đầu mối và tinh giản biên chế, khoán kinh phí
quản lý hành chính
- Đối với khu vực sự nghiệp công, cầm đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài
chính và tiền lương gắn với kết quả hoạt động của đơn vị
- Thiết kế thang lương, bảng lương đảm bảo bản chất là thước đo giá trị lao
động xã hội, phản ánh mức độ phức tạp của công việc mà người lao động đảm nhận.
2. Giải pháp nâng cao NSLĐ cho khu vực doanh nghiệp
2.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Tiến hành đào tạo nhân lực một cách bài bản, nghiêm túc, trang bị cho người
học đầy đủ kiến thức từ lý thuyết đến thực hành, kỹ năng mềm (ngoại ngữ, tin học,
nghỉ ngơi hợp lý để tái tạo sức lao động, tham gia các hoạt động xã hội, góp phần
nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển.
2.5. Tăng cường khả năng tiếp cận vốn
Tiếp tục tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là
doanh nghiệp nhỏ và vừa để các doanh nghiệp có điều kiện tăng cường đầu tư trang
thiết bị, ứng dụng khoa học, công nghệ thông tin, đào tạo nhân lực… góp phần nâng
cao NSLĐ. Cần có chính sách hỗ trợ vốn để nuôi dưỡng và triển khai các ý tưởng
sáng tạo, đổi mới của doanh nghiệp.
2.6. Xác định chiến lược kinh doanh
Doanh nghiệp cần xác định lại chiến lược kinh doanh phù hợp với tình hình
thực tế và sở trường, năng lực tài chính của doanh nghiệp. Lựa chọn quy mô phù
hợp, phát triển những sản phẩm mới có giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ cao.
Hội nhập sâu rộng vào thị trường quốc tế. Giữ vững các thị trường truyền thống và
từng bước thâm nhập vào các thị trường hoặc những phân đoạn thị trường cao cấp.
2.7. Chính sách xây dựng vùng/ngành kinh tế
Nhà nước phải có chính sách xây dựng vùng kinh tế, ngành kinh tế trọng
điểm phù hợp với lợi thế và tiềm năng của từng vùng, ngành. Khuyến khích phát
triển cụm công nghiệp, khu công nghiệp gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ, tạo
mạng liên kết sản xuất và hình thành chuỗi giá trị.