TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ - ĐỀ TÀI: " THỰC TRẠNG ĐÔ LA HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỀN KINH TẾ" - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA KẾ TOÁN-KIỂM TOÁN
 TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

THỰC TRẠNG ĐÔ LA HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ
NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỀN KINH TẾ
GVHD: Ths. Trần Mạnh Kiên
SV: Nguyễn Thị Tố Quyên
Lớp: EC003_1_102_T05
MSSV: 030525090188
TP. HỒ CHÍ MINH, 12/04/2011
Nguyễn Thị Tố Quyên, lớp EC003_1_102_T05
2 MỞ ĐẦU
1

Tổng quan về hiện tượng đô la hóa 4

1.1

Khái niệm đô la hóa 4

1.2

Nguồn gốc của hiện tượng đô la hóa 4

1.3

Phân loại đô la hóa 5

2

Thực trạng và nguyên nhân của hiện tượng đô la hóa ở Việt Nam hiện nay 5

2.1

Thực trạng đô la hóa 5

2.1.1

Sơ lược về tình hình đô la hóa trong những năm qua 5

Nguyễn Thị Tố Quyên, lớp EC003_1_102_T05
4

1 Tổng quan về hiện tượng đô la hóa
1.1 Khái niệm đô la hóa
 Khái niệm thông thường
“Đô la hóa” có thể hiểu một cách một cách thông thường là trong một
nền kinh tế khi ngoại tệ được sử dụng một cách rộng rãi, thay thế đồng nội tệ
trong toàn bộ hoặc một số chức năng của tiền tệ, thì nền kinh tế đó bị coi là đô la
hóa toàn bộ hoặc một phần.
 Theo tiêu chí của IMF đưa ra
Một nền kinh tế được coi là có tình trạng đô la hóa cao khi tỷ trọng tiền
gửi bằng ngoại tệ chiếm trên 30% trong tổng khối tiền tệ mở rộng (M2) bao gồm:
tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn và tiền gửi
ngoại tệ. IMF đã xếp Việt Nam thuộc nhóm quốc gia đô la hóa không chính thức.
1.2 Nguồn gốc của hiện tượng đô la hóa
Tình trạng đô la hóa là hiện tượng phổ biến xảy ra ở nhiều nước, đặc biệt
là ở các nước chậm phát triển hoặc là các nước đang phát triển. Và nguồn gốc của
hiện tượng này có thể là:
 Thứ nhất, tỷ lệ lạm phát cao ở Việt Nam khiến sức mua của đồng bản tệ
giảm sút thì người dân phải tìm các công cụ dự trữ giá trị khác, trong đó có đồng
ngoại tệ có uy tín như USD. Song song với chức năng làm phương tiện cất giữ giá
trị, dần dần đồng ngoại tệ sẽ cạnh tranh với đồng nội tệ trong chức năng làm
phương tiện thanh toán hay làm thước đo giá trị.
 Thứ hai, hiện tượng đô la hoá bắt nguồn từ cơ chế tiền tệ thế giới hiện

Dollarization), đô la hóa bán chính thức (semiofficial dollarization) và đô la hóa
chính thức (official dollarization).
 Đô la hóa không chính thức là trường hợp đồng đô la được sử dụng rộng
rãi trong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận.
Đô la hóa không chính thức có thể bao gồm các loại sau:
- Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài
- Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài
- Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước
 Đô la hóa bán chính thức (hay còn gọi là đô la hóa từng phần) là những
nước có hệ thống lưu hành chính thức hai đồng tiền. Ở những nước này, đồng
ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợp pháp, và thậm chí có thể chiếm ưu thế trong
các khoản tiền gửi ngân hàng, nhưng đóng vai trò thứ cấp trong việc trả lương,
thuế và những chi tiêu hằng ngày. Các nước này vẫn duy trì một ngân hàng trung
ương để thực hiện chính sách tiền tệ của họ.
 Đô la hóa chính thức (hay còn gọi là đô la hóa hoàn toàn) xảy ra khi
đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành. Nghĩa là đồng ngoại
tệ không chỉ được sử dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa các bên tư nhân mà
còn hợp pháp trong các khoản thanh toán của Chính phủ. Nếu đồng nội tệ còn tồn
tại thì nó chỉ có vai trò thứ yếu và thường chỉ là đồng tiền xu hay các đồng tiền
mệnh giá nhỏ. Thông thường, các nước chỉ áp dụng đô la hóa chính thức khi đã
thất bại, trong việc thực thi các chương trình ổn định kinh tế.
2 Thực trạng và nguyên nhân của hiện tượng đô la hóa ở Việt Nam hiện nay
2.1 Thực trạng đô la hóa
2.1.1 Sơ lược về tình hình đô la hóa trong những năm qua
Trong giai đoạn 1995 - 1996 tỷ lệ tiền gửi khá ổn định ở mức 20%. Từ
khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên
tổng phương tiện thanh toán tăng lên và ở mức khoảng 30% trong giai đoạn 2000-
2001; từ năm 2002 đến 2007, đô la hóa có xu hướng giảm trở lại nhờ lợi tức của
VND hấp dẫn hơn ngoại tệ, mức biến động của tỷ giá không lớn (tỷ giá chỉ tăng
Nguyễn Thị Tố Quyên, lớp EC003_1_102_T05


Trung Quốc tỷ lệ này luôn ở mức dưới 10% thì tỷ lệ đô la hóa của Việt Nam vẫn
ở mức cao hơn rất nhiều.
Rất nhiều đồng tiền đã xâm thực vào Việt Nam, đặc biệt là đối với đồng
Đôla Mỹ. Hàng chục năm nay, Đôla Mỹ không những được chấp nhận mà nó
còn được nhiều người bán hàng chỉ định làm phương tiện thanh toán, và đôi khi
thanh toán bằng Đôla Mỹ còn dễ dàng, nhanh gọn, tiện dụng hơn cả dùng tiền
Việt Nam, và gần như là phượng tiện thanh toán thứ hai tại Việt Nam. Nhiều
người Việt Nam gửi tiền đô la tại ngân hàng, thay vì tiền đồng do lo ngại về tình
trạng lạm phát và sự bất ổn của tiền đồng. Ngoài ra, cho vay bằng USD trong
dân cư, cũng như tín dụng bằng USD trong hệ thống ngân hàng hiện nay rất phổ
biến và thị trường đầu cơ ngoại tệ còn quá lớn.
Doanh nghiệp cũng sử dụng USD nhiều hơn so với thời gian trước đây,
vì giá của các mặt hàng nhập khẩu phụ thuộc hoàn toàn vào USD, do vậy, để
tránh rủi ro tỷ giá cho mình, buộc phải niêm yết giá bằng USD. Ngoài ra, việc
niêm yết giá bằng USD còn để tăng tính "hiện đại", "thương mại điện tử” trong
kinh doanh. Các công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài, một số cũng
đã trả lương nhân viên bằng USD
.
Bất Động Sản, Ôtô, thời trang hàng hiệu…
cho đến những đồ uống, đều thanh toán bằng USD.

Quản lý một cửa hàng bán
xe thương hiệu Piaggio khẳng định dù trên hợp đồng có ghi hai loại tiền là USD
và VND nhưng quyết định giá bán vẫn theo USD
.
Thậm chí sử dụng dịch vụ
chăm sóc sắc đẹp, người ta cũng có thể thanh toán bằng Đôla Mỹ, Trung tâm
làm đẹp White Lotus trên đường Phùng Khắc Khoan, Quận 1, thành phố Hồ Chí
Minh là ví dụ điển hình. Việc niêm yết giá tour du lịch cũng bằng USD. Không

thì thấy sang và thời thượng, còn trẻ con, dù trong tâm thức chưa hiểu rõ giá trị,
nhưng cho rằng: Đôla vẫn là nhiều hơn
Hiện nay, hoạt động thu đổi ngoại tệ đã tạm ngưng, phần lớn các tiệm
vàng không còn cất trữ ngoại tệ và cũng không nhận mua ngoại tệ từ khách hàng
do sợ bị phát hiện. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn diễn ra ngầm, chủ yếu qua
hình thức điện thoại, email và trao tiền tận nhà.
2.2 Nguyên nhân của hiện tượng đô la hóa ở Việt Nam hiện nay
 Thứ nhất, nền kinh tế tăng trưởng cao nhưng chưa thật bền vững, hiệu
quả đầu tư thấp, đặc biệt nhập siêu còn cao, cán cân thanh toán tổng thể vẫn
thâm hụt lớn, cân đối vĩ mô chưa thật ổn định…
 Thứ hai, đến nay vẫn chưa có chế tài xử lý cụ thể và có tính răn đe mạnh
những hành vi vi phạm, để các cơ quan chức năng như công an, kiểm soát, tòa
án thực thi, nên giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ tiền mặt vẫn tồn tại trên thị
trường tự do. Với sự tồn tại của thị trường này, mỗi khi kinh tế có rủi ro bất ổn,
thị trường ngoại hối sẽ bị xáo trộn, tồn tại hai tỷ giá chênh lệch nhau giữa tỷ giá
chính thức và tỷ giá thị trường chợ đen, xuất hiện tâm lý đầu cơ ngoại tệ.
 Thứ ba là do tâm lí tích trữ USD của người dân. Người dân không yên
tâm về tỷ giá giữa đồng Việt Nam và USD, sự mất lòng tin vào đồng nội tệ vì sự
mất giá của đồng Việt Nam so với đồng ngoại tệ nói chung và đồng USD nói
riêng ngày càng tăng, do lãi suất thực tế và kì vọng, nhất là khi đồng Việt Nam
chưa phải là đồng chuyển đổi, cùng với tình trạng lạm phát ngày càng cao hiện
nay, giá cả trên thị trường thế giới biến động, một số hàng hóa như xăng dầu, sắt
thép,…tăng cao tác động đến giá cả trong nước, làm cho chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) tăng nên việc nắm giữ USD là biện pháp bảo vệ tài sản cho họ. Ngoài ra
người dân có xu hướng găm giữ đồng ngoại tệ trong nhà, không gửi tiền vào
ngân hàng bởi vì các giao dịch diễn ra khá tự do và phổ biến trên thị trường nên
với đồng ngoại tệ trong tay, họ vẫn có thể thực hiện các chức năng tiền tệ như
đồng nội tệ. Một mặt khác, tâm lí tích trữ của người dân là do thu nhập của các
tầng lớp dân cư còn thấp, đa số người dân có tâm lí tiết kiệm để dành, lo xa cho
cuộc sống, mà đồng USD khá ổn định nên người dân có xu hướng tích trữ bằng

 Đô la hóa gắn chặt hơn nền kinh tế trong nước với nền kinh tế quốc tế,
mở ra cơ hội cạnh tranh với thị trường này; giảm chi phí in tiền cho Ngân Hàng
Trung Ương (NHTW)
 Với nền kinh tế đô la hóa sẽ giúp thu hút đầu tư nước ngoài do chi phí
giao dịch được hạ thấp và các nhà đầu tư biết rõ giá trị tài sản quy ra tiền của họ
sẽ gặp ít rủi ro. Đô la hóa có thể là yếu tố thu hút khách du lịch bởi việc mua bán
và trao đổi ngoại tệ dễ dàng.
 Các nền kinh tế đô la hóa có thể được chênh lệch lãi suất đối với vay nợ
nước ngoài thấp hơn, chi ngân sách giảm xuống và thúc đẩy tăng trưởng, đầu tư.
 Thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và phi chính
thức. Tỷ giá chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo động cơ để
chuyển các hoạt động từ thị trường phi chính thức (bất hợp pháp) sang thị
trường chính thức (thị trường hợp pháp)
 Nguồn cung USD đầy đủ trong nền kinh tế cũng đã góp phần ổn định tỷ
giá đồng bạc Việt Nam. Những năm 2006, 2007 khi đầu tư trực tiếp và gián tiếp
Nguyễn Thị Tố Quyên, lớp EC003_1_102_T05
10

của nước ngoài tăng vọt cùng với sự gia tăng mạnh mẽ của nguồn kiều hối, tỷ
giá đồng bạc Việt Nam đã ổn định ở mức cao, dự trữ ngoại tệ quốc gia tăng
nhanh mặc dù nhập siêu lớn chưa từng có.
 Hơn nữa, hiện tượng Dollar hóa dẫn đến tỉ giá gần như cố định và do đó
giá cả sẽ ổn định hơn”.
Mặc dù, đô la hóa có những tác động tích cực nói trên, nhưng tình trạng
đô la hóa vẫn không có lợi cho nền kinh tế Việt Nam vì việc sử dụng đồng ngoại
tệ nói chung và đồng USD nói riêng như thế nào cho hiệu quả là điều vô cùng
phức tạp.
3.1.2 tác động tiêu cực
 Đô la hóa không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế, mà còn là vấn đề chủ
quyền quốc gia, phân phối lợi ích dân tộc, nhất là khi có xung đột lợi ích quốc

11

 Gây áp lực làm cho Ngân hàng Nhà nước ở trong tình huống khó khăn.
Các khu vực của nền kinh tế có xu hướng găm giữ ngoại tệ, không bán cho hệ
thống ngân hàng nhưng mặt khác, lại có nhu cầu mua ngoại tệ, tạo căng thẳng
trên thị trường ngoại hối, kết quả là Ngân hàng Nhà nước phải can thiệp trên thị
trường ngoại hối với mức độ lớn, để đáp ứng cho nhu cầu ngoại tệ của nền kinh
tế. Nếu ngoại tệ được thông suốt giữa các khu vực, cung cầu ngoại tệ cho các
giao dịch tự định tự cân đối được, Ngân hàng Nhà nước không cần phải bán ra.
 Gây ra sự thay thế giữa tài sản bằng ngoại tệ và nội tệ ngay ở trong nước.
Ở nền kinh tế không có đô la hóa, khi chu chuyển vốn vẫn chịu sự kiểm soát, sự
thay thế tài sản nội tệ và ngoại tệ sẽ kém nhạy cảm với chênh lệch giữa lãi suất
quốc tế và trong nước. Nhưng trong điều kiện của Việt Nam là đô la hóa đang ở
mức ngày càng gia tăng thì sự thay thế tài sản nội tệ và ngoại tệ có thể diễn ra
nhanh chóng và khá nhạy cảm bởi chênh lệch lãi suất trong nước và quốc tế (sự
thay thế diễn ra càng nhiều thì biến động về cân đối theo loại tiền của hệ thống
ngân hàng càng lớn).
 Tình trạng đô la hóa nền kinh tế đã khiến nhu cầu găm giữ USD và nhu
cầu sử dụng USD trong giao dịch mua bán tài sản, du học nước ngoài tăng
mạnh, trong khi ngân hàng lại không muốn bán USD cho người dân khiến cho
nhu cầu mua USD thị trường tự do tăng lên dẫn tới khó kiểm soát, các ngân
hàng thương mại không đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho doanh nghiệp và người
dân thì thị trường “chợ đen” ngoại hối sẽ phát triển dẫn đến thị trường “chợ
đen” sẽ không thể giải quyết triệt để, cơ chế hai tỷ giá sẽ lại hình thành và việc
điều chỉnh tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước trở lên vô nghĩa trong tương lai.
3.2 Giải pháp khắc phục tình trạng đô la hóa nền kinh tế
Để khắc phục tình trạng đô la hóa, đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ,
không chỉ các giải pháp từ Chính phủ, hệ thống ngân hàng, mà cần có nhiều giải pháp
được thực hiện bởi nhiều ý thức của từng doanh nghiệp và từng người dân. Cụ thể:
 Về phía các cơ quan quản lý, cần có những đánh giá về tình hình thực

tệ. Công cụ có thể sử dụng là giảm lãi suất huy động USD, tăng dự trữ bắt buộc
áp dụng đối với tiền gửi ngoại tệ cao hơn nhiều so với dự trữ bắt buộc áp dụng
đối với tiền gửi (có nước đã tăng dự trữ bắt buộc lên tới mức 30 - 50% áp dụng
đối với tiền gửi ngoại tệ nhằm thu hẹp quy mô nắm giữ đồng ngoại tệ) hay trần
lãi suất đối với tiền gửi ngoại tệ, để đảm bảo trên đất Việt Nam chỉ tiêu tiền Việt
Nam.
 Thu hút tiền mặt ngoại tệ trong dân cư, thà chấp nhận đô la hóa tiền gửi
và dư nợ cho vay của hệ thống Ngân hàng Nhà nước còn quản lý chặt chẽ được,
còn hơn là để trôi nổi trong dân: Phát triển mạnh lưới các mạng lưới các quầy
thu đổi ngoại tệ rộng khắp. Tạo môi trường đầu tư trong nước có khả năng hấp
thụ được số vốn ngoại tệ hiện có trong dân. Từ năm 2003, chính phủ Việt Nam
cũng đã bắt đầu huy động thu hút nguồn vốn ngoại tệ trong xã hội bằng cách
phát hành trái phiếu ngoại tệ (Căn cứ vào Quyết định số 155 và 156/2003/QÐ-
BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc phát hành trái phiếu Chính phủ bằng
ngoại tệ và đồng VN) để tập trung phát triển các công trình trọng điểm quốc gia.
Biện pháp này còn giúp nhà nước giảm việc đi vay vốn nước ngoài, chịu rủi ro
về tỷ giá, làm gia tăng gánh nặng vay nợ nước ngoài của Việt Nam.
 Thực hiện cơ chế tỷ giá linh hoạt được xác định trên cơ sở cung cầu
ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, nhằm giảm bớt khoảng
cách tỷ giá giữa thị trường chính thức và thị trường “chợ đen”.
 Về nguyên tắc, nên tập trung vào hạn chế tình trạng đô la hóa bên tài sản
Có trước, nghĩa là thu hẹp quy mô tín dụng ngoại tệ, để hạn chế việc sử dụng lãi
suất để cạnh tranh thu hút tiền gửi ngoại tệ. Ngân hàng Nhà nước cần sớm
nghiên cứu, xây dựng cơ chế chuyển dần từ cơ chế huy động và cho vay ngoại tệ
sang quan hệ mua bán ngoại tệ.
 Cuối cùng là ý thức của cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong việc
thực hiện nghiêm các quy định pháp luật ngoại hối. Có như vậy, kinh tế vĩ mô
mới ổn định, tác động tốt tới hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng.
Tóm lại, nếu kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định và môi trường kinh
doanh liên tục được cải thiện thì sẽ nâng cao được vị thế của tiền đồng Việt

/>119010939.html
 VOA Tiếng Việt (15/05/2009) bài “Kinh tế VN bị tác động bởi tình trạng
đô la hóa”
/>81759882.html
 Huỳnh Bửu Sơn (15/08/2009) bài “sống chung với đô la hóa”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status