LỜI MỞ ĐẦU
Trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế , phù hợp với các điều kiện
kinh tế, chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt
Nam đã quyết định thành lập thị trường chứng khoán với những đặc thù riêng
biệt trên cơ sở tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình chứng khoán
trên thế giới. Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh đấu
bằng việc đưa vào vận hành trung tâm giao dịch chứng khoán tại Thành phố Hồ
Chí Minh và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000. Đến ngày
8/3/2005 thị trường chứng khoán Hà Nội chính thức khai trương hoạt động, đánh
đấu một bước phát triển mới của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương Mại
Thế Giới trong năm qua đã đưa ra cơ hội lớn cho Việt Nam, taọ ra nhiều điều
kiện thuận lợi để phát triển thị trương chứng khoán. Tuy nhiên bên cạnh đó, Việt
Nam cũng gặp nhiều khó khăn và đặt ra nhiều yêu cầu và thách thức mới , đòi
hỏi chúng ta phải thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ và hiệu quả cao hơn nữa.
Muốn vậy chúng ta phải từng bước xây dựng và phát triển đồng bộ các loại thị
trường trong đó có thị trường vốn mà nổi bật là thị trường cổ phiếu.
Thị trường cổ phiếu là một bộ phận cơ bản của thị trường chứng khoán,
hoạt động của thị trường này diễn ra khá sôi nổi và nhạy cảm, phụ thuộc vào kết
quả sản xuất kinh doanh của công ty. Với những chức năng, vai trò quan trọng
của thị trường cổ phiếu trong việc góp phần phát triển kinh tế thì việc phát triển
thị trường cổ phiếu ở Việt Nam hiện nay là thực sự cần thiết, có thể nói là nhu
cầu thiết yếu giúp chúng ta hội nhập nhanh chóng và tiến kịp với trình độ của các
nước trên thế giới.
Xuất phát từ thực trạng thị trường cổ phiếu Việt Nam hiện nay. Chúng tôi
chọn đề tài “ Thị trường cổ phiếu” để nghiên cứu và hiểu rõ hơn về thực trạng thị
trường cổ phiếu Việt Nam hiện nay, sự quan trọng của thị trường cổ phiếu đối
với nền kinh tế, phân tích những thành tựu đạt được cùng những tồn tại yếu kém.
Từ đó đề ra những giải pháp góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt
Nam hiện nay.
1
♥ Ưu đãi hoàn lại vốn
♥ Ưu đãi về quyền biểu quyết
- Căn cứ vào phương thức góp vốn:
+ Cổ phiếu hiện kim: dành cho những cổ đông góp vốn bằng tiền
+ Cổ phiếu hiện vật: dành cho những cổ đông góp vốn bằng tài sản như nhà
xưởng, máy móc, thiết bị…
- Căn cứ vào quyền tham gia vào bỏ phiếu:
+ Cổ phiếu đơn phiếu
+ Cổ phiếu đa phiếu
2
1.3 Đặc điểm
- Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn do đó không có kỳ hạn và không hoàn vốn
- Cổ tức của cổ phiếu thường tùy thuộc vào kết quả kinh doang của doanh
nghiệp, do đó không cố định. Khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt cổ đông cũng
được hưởng lợi nhuận cao hơn nhiều so với loại chứng khoán khác có lãi xuất cố
định. Nhưng ngược lại cổ tức có thể rất thấp hoặc hoàn roàn không có khi công
ty làm ăn thua lỗ.
- Khi công ty phá sản, cổ đông thường là người cuối cùng được hưởng giá trị còn
lại của tài sản thanh lý
- Giá cổ phiếu biến động rất nhanh nhạy, đặc biệt trên thị trường thứ cấp, do
nhiều nhân tố nhưng nhân tố cơ bản nhất là hiệu quả kinh doanh và giá trị thị
trường của công ty.
1.4 Điều kiện phát hành
- Là công ty cổ phần có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành
cổ phiếu tối thiểu 5 tỷ VND
- Hoạt động kinh doanh năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi đồng
thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán
- Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành cổ phiếu.
1.5. Quyền lợi và nghĩa vụ của cổ đông thường
a. Trách nhiệm
hưởng cổ tức nhưng không có quyền bầu cử. Do đó loại cổ phiếu này có giá thấp
hơn loại cổ phiếu thường được bỏ phiếu.
+ Cổ phiếu thường loại “B”: thường được gọi là cổ phiếu sáng lập viên, có quyền
bầu cử, nhưng chỉ được hưởng cổ tức khi khả năng sinh lợi của công ty đã đến
một giai đoạn tăng trưởng nhất định.
+ Cổ phiếu thường gộp lãi: người cầm loại cổ phiếu này không đươc nhận cổ tức
bằng tiền mặt mà sẽ được nhận cổ tức bằng một số cổ phiếu- có giá trị tương
đương- mới phát hành mà không phải bỏ thêm vốn
Ngoài ra, tùy theo đặc điểm của công ty mà còn những loại cổ phiếu thường
khác:
Cổ phiếu thượng hạng
Cổ phiếu tăng trưởng
Cổ phiếu thu nhập
Cổ phiếu chu kỳ
Cổ phiếu theo mùa
Công ty tăng trưởng và cổ phiếu tăng trưởng
Công ty thận trọng và cổ phiếu thận trọng
Công ty chu kỳ và cổ phiếu chu kỳ
Công ty đầu cơ và cổ phiếu đầu cơ
2. Thị trường cổ phiếu
2.1 Khái niệm
- Thị trường cổ phiếu là một bộ phận cở bản của thị trường chứng khoán. Vì cổ
phiếu là loại chứng khoán có lãi suất thường phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất
kinh doanh của công ty do đó những nhân tố có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp
4
đến tình hình hoạt động của công ty như khủng hoảng giá dầu, giá USD, đình
công, lạm phát, thất nghiệp, chiến tranh đều ảnh hưởng đến giá cả của thị trường
cổ phiếu.
- Thị trường chứng khoán là hình thức vận động điển hình của thị trường vốn với
khối lượng giao dịch và sức thu hút mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư, thị trường
3. Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
Các dự báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và
chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh
tế tăng trưởng; Và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu
cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tếvà
là công cụ quan trọng để chính phủ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô.
2.4 Vai trò của TTCK
1. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khóan.
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu
thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. TTCK hoạt động
càng năng động và hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của
các của các chứng khoán giao dịch trên thị trường.
2. Đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp.
Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một
cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các
doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra được môi
trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu qủa sử dụng vốn, kích thích áp
dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Sự biến đổi không ngừng giá của giá cổ phiếu, nhà đầu tư có thể đánh gia doanh
nghiệp một cách khách quan và khoa học tại bất kỳ thời điểm nào.
Ngoài ra, đối với các công ty niêm yết, nghĩa vụ công khai thông tin trên TTCK
Giúp các nhà đầu tư, các nhà quản trị thị trường có thể đánh giá sự tăng trưởng
ổn định hay suy thoái bất ổn định của các công ty.
3. Hỗ trợ và thúc đẩy các công ty cổ phần ra đời và phát triển.
TTCK hỗ trợ chương trình cổ phần hóa cũng như việc thành lập và phát triển của
các công ty cổ phần qua việc quảng bá thông tin, định giá doanh nghiệp, bảo lãnh
phát hành, phân phối chứng khoán một cách nhanh chóng, tạo tính thanh khoản
cho chúng và như thế hút các nhà đấu tư đến góp vốn vào công ty cổ phần
4. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
TTCK không những thu hút vốn đầu tư nội địa mà còn giúp Chính phủ hoặc
Năm 2011, chính sách tiền tệ thắt chặt được triệt để thực thi nhằm đối phó với
sự bùng phát của lạm phát. Dưới tác động của việc thực thi chính sách tiền tệ
này, TTCK- lĩnh vực được xem là phi sản xuất- đi vào vòng xoáy suy giảm trầm
trọng cả về điểm số lẫn thanh khoản. TTCK VN trở thành một trong những thị
trường có mức suy giảm mạnh nhất trong khu vực. kết thúc năm 2011,
VNINDEX còn 351,55 điểm và HNINDEX còn 58,74 điểm, giảm lần lượt 27,5%
và 48,6% so với cuối năm 2010
7
Những giai đoạn chính của TTCK năm 2011
Xu hướng chủ đạo của năm 2011 là giảm điểm, với hai đợt giảm mạnh nhất
diễn ra vào 5/2011 và ba tháng cuối năm
Giai đoạn 1: năm tháng đầu năm.
Thị trường bám sát và phản ứng khá mạnh với những biến động của nền kinh
tế vĩ mô và các trạng thái chính sách tiền tệ. các sóng giảm diễn ra trong giai
đoạn này đánh dấu biến động khắc nghiệt của nền kinh tế vĩ mô như tỉ giá bất
ngờ bị điều chỉnh tăng mạnh, lạm phát bùng phát dẫn đến sự ra đời của nghị
quyết 11 về thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, đặc biệt với lĩnh vực phi sản
xuất. Nghị quyết 11, trong đó ra hạn mức cụ thể cho tăng trưởng tín dụng ở các
lĩnh vực phi sản xuất, là nút thắt cản trở dòng tiền chảy vào thị trường chứng
khoán. Thị trường trải qua đợt suy giảm mạnh và nhanh nhất vào tháng 5/2011
khi thời hạn đưa tỉ trọng tín dụng phi sản xuất về dưới 22% gần kề, buộc các
NHTM tiến hành thu nợ chứng khoán dẫn đến làn sóng bán giải chấp mạnh. Chỉ
trong 5 tháng đầu năm VNINDEX giảm 20% và HNINDEX giảm 40% so với
cuối năm 2010
8
Giai đoạn 2: Sóng giảm nhẹ trong ba tháng tiếp theo do thiếu vắng thông tin
Sau khi giảm mạnh và lập đáy vào ngày 25/5, thị trường có một tuần phục hồi
khá tôt sau đó. Đợt phục hồi này chủ yếu mang tính kĩ thuật khi giá cổ phiếu đã
giảm xuống mức thấp nhất sau hơn 1 năm. Sau tuần phục hồi này, các chỉ số liên
tục đi vào kênh giảm điểm với mức độ nhẹ hơn do vắng bóng thông tin hỗ trợ và
làn sóng M&A
Không chỉ nền kinh tế trong nước, kinh tế thế giới cũng trải qua năm 2011
với nhiều biến động tiêu cực: sau khá nhiều gói kích thích, đà phục hồi ở các nền
kinh tế phát triển chậm hơn kì vọng, thậm chí đang mấp mé bờ vực suy thoái
trong khi lạm phát làm mối đe dọa lớn; khủng hoảng nợ công ở khu vực châu Âu
lan rộng; và thảm họa kép khiến kinh tế Nhật Bản chưa thoát khỏi chu kì suy
thoái. Trước những khó khăn này, dòng vốn đầu tư nước ngòai có xu hướng rút
khỏi các thị trường mới nổi để bù đắp các khoản đầu tư trong nước. Làn sóng rút
vốn đặc biệt diễn ra mạnh mẽ ở quý cuối năm 2011. Tại thị trường Việt Nam nhà
đầu tư nước ngoài mua ròng hơn 1.800 tỉ đồng trong năm 2011, chỉ bằng 10%
tổng giá trị mua ròng trong năm 2010 mặc dù vẫn giữ vị thế mua ròng song khối
10
này bán ra khá nhiều bluechips. Cụ thể, các cổ phiếu bị bán ròng mạnh nhất là
STB, với 69 triệu cổ phiếu tương đương 1.017 tỉ đồng tiếp đến là VIC 17,6 triệu
cổ phiếu tương đương 1.819 tỉ đồng, HAG (-9,9 triệu cp), PPC(-8,2 triệu cp),
SAM(-7,6 triệu cổ phiếu)…
Trái với giao dịch hạn chế trên sàn niêm yết, nhà đầu tư nước ngoài tỏ ra khá
tích cực đối với các thương vụ M&A trên thị trường việt nam. Theo Vneconomy,
giá trị giao dịch trên M&A của nhà đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 81,3% tổng
giá trị giao dịch M&A năm 2011, tương đương khoảng 2,17 tỉ USD. Các thương
vụ nổi bật là Pokphand trung quốc vào CTCP chăn nuôi Cp. Việt Nam; IFC của
CTG; Mizuho vào VCB; Diageo vào Halico; Vimpelcom vào BeeLine;
Unicharm mua Diana…
Tác động từ các quỹ đầu tư chỉ số
Các quỹ đầu tư chỉ số nước ngòai bắt đầu thực hiện đầu tư tại thị trường việt
nam từ cuối năm 2010 và đã có tác động không nhỏ đến biến động các mã trụ cột
và là nguyên nhân gây ra hiện tượng “xanh vỏ đỏ lòng” thường thấy trên sàn
HSX. Sang năm 2011, trái với bức tranh ảm đạm chung của toàn thị trường, một
số cổ phiếu vẫn lội ngược dòng khá tốt khi có thông tin được đưa vào rổ tính chỉ
số sau mỗi đợt soát xét lại danh mục của các quỹ đầu tư chỉ số này điển hình
13
2.2 Giai đoạn 2012: 6 tháng đầu năm
a. Tình hình thị trường chứng khoán 6 tháng đầu năm
2012
488,07 là mốc điểm cao nhất mà VN-Index đạt được trong 6 tháng đầu năm 2012
(xác lập ngày 8/5/2012). 336,73 là mốc điểm thấp nhất mà VN-Index đạt được
trong 6 tháng đầu năm (xác lập ngày 6/1/2012). Như vậy, VN-Index từng có thời
điểm đạt mức tăng trưởng tới 44,94%.
14
83,79 là mốc điểm cao nhất mà HNX-Index đạt được trong 6 tháng đầu năm
2012 (xác lập ngày 7/5/2012). 55,27 là mốc điểm thấp nhất mà HNX-Index đạt
được trong 6 tháng đầu năm 2012 (xác lập ngày 9/1/2012). Như vậy, HNX-Index
đã có mức tăng trưởng tới 51,60%. Tuy nhiên, nếu tính từ đỉnh thị trường tháng
5/2012, hiện tại cả hai chỉ số đã sụt giảm khoảng 15% giá trị.
15
Trên sàn UPCoM, chỉ số UPCoM-Index trong 6 tháng đầu năm 2012 xác lập
mức đỉnh cao nhất là 36,49 điểm (ngày 25/5), mức thấp nhất là 33,31 điểm (ngày
13/1). Như vậy, chỉ số UPCoM-Index chỉ có mức tăng trưởng 9,55%. So với mức
đỉnh đã thiết lập trong nửa đầu năm, hiện UPCoM-Index cũng chỉ giảm chưa đầy
1% giá trị.
16
Trong 6 tháng đầu năm, nhà đầu tư ngoại đã mua ròng tổng cộng hơn 195,376 tỷ
đồng trên TTCK Việt Nam. Cụ thể, khối ngoại mua ròng gần 970 tỷ đồng trên
HNX, bán ròng hơn 780 tỷ đồng trên HOSE và mua ròng 6,1 tỷ đồng trên
1.164,34 tỷ đồng là giá trị giao dịch trung bình của sàn TP. HCM. Trong khi đó,
bình quân mỗi phiên, sàn UPCoM chỉ có 29,2 tỷ đồng giá trị được chuyển
nhượng trong 6 tháng đầu năm. Như vậy, tổng giá trị giao dịch bình quân mỗi
phiên trên TTCK Việt Nam trong 6 tháng đầu năm đạt hơn 1.817 tỷ đồng, tăng
74% so với con số 1.044 tỷ đồng bình quân cả năm 2011.
b. Tình hình kinh doanh chứng khoán
Dù khó khăn chung toàn nền kinh tế, các công ty kinh doanh chứng khoán vẫn
kiếm "bộn tiền" trong 6 tháng đầu năm 2012 nhờ đà tăng của thị trường
cùng những khoản thu ổn định như phí môi giới.
Theo báo cáo hợp nhất đã kiểm toán do Công ty chứng khoán VNDIRECT
cung cấp, trên tổng số 26 công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính,
khoảng 80% doanh nghiệp niêm yết ở 2 sàn chứng khoán báo lãi quý
II/2012 và lũy kế 6 tháng đầu năm. Trong đó, Công ty cổ phần Chứng
khoán Sài Gòn (SSI) có lợi nhuận sau thuế cao nhất sàn HOSE, đạt 304,09
tỷ đồng. Tại HNX, vị trí này thuộc về Công ty cổ phần chứng khoán Bảo
Việt (BVS) với 65,56 tỷ đồng.
19
Biểu đồ doanh thu 6 tháng đầu năm của các công ty kinh doanh tài
chính trên sàn HOSE. Đơn vị tính: Tỷ Đồng. Nguồn: VNDIRECT
Đặc biệt, trong danh sách này, cả 5 công ty kinh doanh chứng khoán niêm yết
trên sàn HOSE đều báo lãi. Xét về doanh thu, Chứng khoán Nông nghiệp và phát
triển nông thôn Agriseco (AGR) đạt mức cao nhất, lên tới 482,88 tỷ đồng qua 6
tháng đầu năm 2012, kết quả này chủ yếu do hoạt động tự doanh tại công ty
mang lại. Trong khi đó, Chứng khoán Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt Nam
chỉ đạt 157,8 tỷ đồng,
20
Biểu đồ lợi nhuận sau thuế các công ty kinh doanh tài chính trên sàn
HOSE. Đơn vị tính: Tỷ đồng. Nguồn: VNDIRECT
Tổng kết lợi nhuận sau thuế, SSI dẫn đầu danh sách lãi khi thu về trên 300 tỷ
đồng qua 6 tháng đầu năm. Tính đến 30/06/2012, vốn đầu tư chủ sở hữu của SSI
doanh nghiệp các ngành khác vẫn kêu than vì chi phí sản xuất, lãi vay tăng cao
thì một số doanh nghiệp ngành tài chính vẫn "rủng rỉnh" tiền trong túi. Thậm chí,
hồi tháng 1, Vn-Index còn chạm đáy và về mức 331 điểm.
Báo cáo tài chính sau kiểm toán cho thấy, tính đến thời điểm này, trên 2 sàn
chứng khoán có 8 công ty niêm yết đạt doanh thu cao trên 100 tỷ đồng. Đứng
đầu là AGR với 482,88 tỷ đồng, theo ngay phía sau là SSI với 409,64 tỷ đồng.
Chương 3. Giải pháp cho sự phát triển bền vững
TTCP Việt Nam
Hiện nay, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn chỉ ở giai đoạn sơ khai “
mới hết tuổi 11, ngày đầu tuổi 12” trong khi thị trường chứng khoán ở các nước
khác đã có hằng trăm năm . Tuy nhiên trong thời gian qua thị trường chứng
khoán Việt Nam đã có sự phát triển nhanh, vượt xa những dự báo của cơ quan
quản lý nhà nước. Có được kết quả này phải kể đến vai trò các chủ thể trên
TTCK đặc biệt là vai trò của các doanh nghiệp và các nhà đầu tư, chính họ đã
24
làm cho thị trường phát triển. Đó cũng là kết quả của hơn việc phát triển và xây
dựng thị trường chứng khoán dưới sự chỉ đạo của đảng và chính phủ Việt Nam,
TTCK phát triển đã khơi dạy nguồn vốn đầ tư xã hội, điều này có ý nghĩa hết sức
quan trọng. Cùng với sự kiên trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương
mại thế giới WTO nước ta đã có nhiều điều kiện thuận lợi để tạo đà phát triển
TTCK, đồng thời đã đúc rút được nhiều bài học kinh nghiệm từ thực tiễn. Tuy
nhiên bên cạnh đó hoạt động của thị truờng chứng khoán còn gặp những khó
khăn nhất định, quy mô thị trường còn nhỏ, tính ổn định và bền vững của thị
trường chưa cao, trong khi đó quá trình hội nhập cũng đặt ra những cơ hội và
thách thức cho hoạt động thị trường.
Trong bối cảnh chung đó, thị trường chứng khoán Việt Nam cần phải có
những thay đổi để phù hợp với tình hình mới đó.Với mục tiêu phát triển thị
trường chứng khoán nói chung và thị trường cổ phiếu nói riêng nhằm phát huy
chức năng là kênh huy động vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển đồng thời
duy trì hoạt động thị trường an toàn hiệu quả trên cơ sở phát triển thị trường một