NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN – PHÁP LÝ VỀ TIỀN LƯƠNG VIÊN
CHỨC...............................................................................................................1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài.
Việt Nam đang tham gia tích cực vào quá trình hội nhập với nền kinh tế thế
giới. Bằng những sự kiện có tính chất và mang tầm quốc tế như sự kiện Việt Nam
gia nhập WTO đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc của nước ta trên con đường phát
triển và hội nhập kinh tế toàn cầu. Đóng góp đáng kể trong tiến trình đó không thể
không kể đến vai trò của Nhà nước trong quản lý, điều hành các chính sách vĩ mô
theo định hướng của Nhà nước. Tuy nhiên, chính sách tiền lương – một trong những
chính sách vĩ mô đang còn tồn tại nhiều bất cập, đứng trước đòi hỏi phải cải cách,
phải đổi mới, phải thay đổi. Cải cách tiền lương của viên chức nhằm đảm bảo tính
hiệu quả của công việc trong các lĩnh vực cung ứng dịch vụ công, đảm bảo mục
đích hoạt động của đơn vị sự nghiệp (ĐVSN), đảm bảo được tính cạnh tranh trong
thị trường lao động chung. Nguồn tiền để thực hiện chế độ tiền lương là một vấn đề
trọng tâm trong cải cách chế độ tiền lương cho viên chức. Bởi vì, tiền lương của
viên chức một mặt chịu sự chi phối của nguồn ngân sách Nhà nước (NSNN) một
mặt chịu tác động rất lớn từ sự phát triển của nền kinh tế.
Chính sách tiền lương là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Chính sách tiền lương nước ta đã trải qua nhiều
giai đoạn phát triển với các đặc điểm khác nhau. Tiếp theo những lần cải cách tiền
lương trong thập niên 1980 và 1990, trong 10 năm qua hệ thống tiền lương tiếp tục
trải qua hai giai đoạn cải cách 2003 -2007 và 2008 – 2012. Qua những lần cải cách
đó, hệ thống tiền lương của nước ta mang những đặc điểm của một hệ thống tiền
lương của một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Cùng với quá trình cải
cách, chính sách tiền lương trong khu vực sự nghiệp đã có những thay đổi căn bản,
song vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải được giải quyết.
Sự ra đời của Luật Viên chức là một điểm mốc lớn của chế định viên chức
trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Lần đầu tiên, có một văn bản mang giá trị pháp
Đề tài cấp Bộ năm 1998 “cơ chế quản lý tiền lương tiền công
đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” PTS. Nguyễn Quang Huề,
Trưởng phòng Tiền lương – Tiền công – Mức sống – Viện Khoa học Lao
động và Xã hội làm chủ nhiệm.
-
Đề tài cấp Bộ 1994 “Nghiên cứu tiền lương tối thiểu theo
vùng” do TS. Nguyễn Thị Lan Hương, Phó Viện trưởng KHLD &XH làm
chủ nhiệm.
-
Đề tài cấp Bộ 2003 “Xác định mức lương tối thiểu trong thời
kỳ 2006 – 2010 và các biện pháp giám sát để điều chỉnh mức lương tối thiểu
phù hợp với phát triển kinh tế xã hội, với thị trường lao động” do Hoàng
Minh Hào, Phó Vụ trưởng Vụ tiền lương – tiền công làm chủ nhiệm.
Đề tài cấp Bộ 2003 “Xác định những nguyên tắc xây dựng
thang lương, bản điểm, định mức lao động trong các doanh nghiệp” do Phạm
Minh Huân, Vụ trưởng Vụ Tiền lương – Tiền công làm chủ nhiệm, v..v…
Hơn nữa, Luật Viên chức số 58/2010/QH12 do Quốc Hội ban hành ngày
15/11/ 2010 mới ra đời và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2012 được xem là mộ thay
đổi lớn trong pháp luật điều chỉnh về viên chức. Do đó, hệ thống tiền lương của
viên chức vẫn chưa hoàn toàn độc lập là riêng biệt với các lao động khác cùng
hưởng lương từ NSNN.
Như vậy, cần thiết có một đề tài nghiên cứu chính sách tiền lương của viên
chức một cách tổng quát với đầy đủ ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Đề tài đi sâu
6. Dự kiến đóng góp của đề tài
-
Hệ thống hóa những lý luận liên quan đến chế độ tiền lương và
viên chức.
-
Làm rõ thực trạng về tiền lương của viên chức.
Đề ra một giải pháp nhằm điều chỉnh và thực hiện chế độ tiền
lương dành cho viên chức làm việc trong các ĐVSN trong thời gian tới.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được chia thành 2 chương như
sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận - pháp lý về tiền lương của viên chức.
Chương 2: Thực trạng về tiền lương của viên chức. Một số kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện tiền lương của viên chức.
CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN – PHÁP LÝ VỀ TIỀN LƯƠNG VIÊN CHỨC
1.1. Khái quát về tiền lương viên chức
1.1.1. Khái niệm tiền lương và tiền lương của viên chức
a. Khái niệm tiền lương
Lý luận về tiền lương đã được các nhà kinh tế đi sâu vào tìm tòi và
nghiên cứu từ rất lâu. William Petty là người đầu tiên trong lịch sử dựa trên lý
luận giá trị - lao động đặt nềm móng cho tiền lương với lý thuyết “quy luật sắt
về tiền lương”. Tiếp nối sau đó, các lý luận tiền lương của Adam Smith và
Ricardo ra đời. Ở thời kỳ này, với việc hiểu và quan niệm về tiền lương thì công
Trong quy định pháp luật của nước ta, chưa có văn bản nào đưa ra một
khái niệm cụ thể về tiền lương nhưng vấn đề về tiền lương đã được quan tâm từ
rất sớm. Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa nêu “lương là tiền lương chính, không kể các khoản phụ cấp
mà chủ đã hứa trả theo hợp đồng hay đã ghi trong khế ước, không thể lấy cớ đã
trả các khoản phụ cấp như phụ cấp thâm niên, phụ cấp gia đình … quy định
trong sắc lệnh này mà trừ một phần tiền lương đó”.
Như vậy, tiền lương được hiểu là khoản thu chủ yếu, cơ bản, thuờng
xuyên và không bao hàm các khoản phụ cấp khác ngoài lương. Tiền lương là số
tiền mà chủ sử dụng lao động trả cho người lao động tương ứng với số lượng và
chất lượng lao động tiêu hao trong quá trình làm việc.
Bộ luật Lao động sửa đổi bổ sung được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 02/4/2002 (BLLĐ 2002) đã xây dựng được
khái niệm tiền lương tương đối hoàn chỉnh. Theo đó,
“Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho
người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình
thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao
động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao
động khác”1
Mặc dù, chưa phải là một khái niệm chính xác và hoàn chỉnh về khái
niệm tiền lương, nhưng thông qua khái niệm về mức lương tối thiểu ta có thể
hiểu về bản chất của tiền lương.
BLLĐ 2002 dành một chương riêng quy định về chế độ tiền lương và các
1
Điều 56 BLLĐ 2002.
2
sửa đổi bổ sung một số điều của pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29/4/2003,
2
Chương VI BLLĐ 2002.
3
hưởng lương theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, với quy định tại Pháp
lệnh 2003, Nghị định 116 thì viên chức được hiểu là một loại của cán bộ, công
chức.
Luật Viên chức ra đời, chứa đựng những nội dung quy định chi tiết về
viên chức, một trong những nội dung quan trọng là xác định rõ khái niệm viên
chức, tạo ra một môi trường pháp lý riêng cho đối tượng viên chức. Lúc này,
viên chức mới được mặc chính cái áo của mình.
Tại Điều 2 Luật Viên chức, viên chức được định nghĩa “là công dân Việt
Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công
lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự
nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” với các tiêu chí xác định, có thể
đưa ra các đặc điểm về viên chức như sau:
Là công dân Việt Nam
Được tuyển dụng theo vị trí việc làm
Làm việc tại các ĐVSN công lập3 theo chế độ hợp đồng làm việc
Hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSN, gồm: nguồn từ NSNN và
từ nguồn thu sự nghiệp (NTSN)
Được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp, không thực hiện
nhiệm vụ quản lý nhà nước
Viên chức là một loại lao động đặc biệt, với những đặc trưng sau:
Là loại lao động mà hoạt động chủ yếu là chuyên môn nghiệp vụ.
Nơi làm việc của viên chức là các ĐVSN của Đảng Cộng sản Việt
tiền lương theo sản phẩm.
Hình thức tiền lương theo thời gian:
Tiền lương trả cho người lao động tính theo thời gian làm việc, cấp bậc,
chức danh và thang lương được xác định theo hai cách: Lương thời gian đơn
giản và lương thời gian có thưởng.
- Lương thời gian đơn giản được chia thành:
+ Lương tháng: Tiền lương trả cho viên chức theo thang bậc lương quy
định gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp (nếu có). Lương tháng
thường được áp dụng một cách tuyệt đối và mức cao hơn đối với các viên chức
làm công tác quản lý và các viên chức làm việc trong các ngành không có tính
chất sản xuất.
+ Lương ngày: Được tính bằng cách lấy lương tháng chia cho số ngày
làm việc theo chế độ. Lương ngày làm căn cứ để tính trợ cấp BHXH phải trả cho
5
khoản 5 Điều 3 Luật Viên chức.
5
viên chức, tính trả lương cho viên chức trong những ngày hội họp, học tập, trả
lương theo hợp đồng.
+ Lương giờ: Được tính bằng cách lấy lương ngày chia cho số giờ làm
trong ngày theo chế độ. Lương giờ thường làm căn cứ để tính phụ cấp làm thêm
giờ cho viên chức.
- Lương thời gian có thưởng: Là hình thức tiền lương thời gian đơn giản
kết hợp với chế độ tiền thưởng trong sản xuất.
Tiền lương tính theo thời gian mặc dù đã tính đến thời gian làm việc thực
tế. Tuy nhiên, nó vẫn còn hạn chế nhất định khi tiền lương chưa gắn với kết quả
lao động. Do đó, ĐVSN cần kết hợp với các biện pháp khuyến khích vật chất,
Theo đó, tiền lương viên chức nhận được phụ thuộc vào: vị trí việc làm,
kết quả thực hiện công việc, khả năng chi trả tiền lương của ĐVSN và các yếu tố
tác động từ thị trường lao động.
Viên chức được trả lương theo vị trí việc làm.
Luật Viên chức có bước chuyển biến mạnh dạn trong quy định. Luật này
tạo điểm nhấn với nội dung chuyển từ trả lương theo hệ thống ngạch, bậc hay
chức danh nghề nghiệp sang trả lương theo vị trí việc làm. Trước đây, chế độ
quản lý viên chức căn cứ vào chỉ tiêu biên chế và trả lương theo ngạch, bậc đã
bộc lộ những bất hợp lý, thiếu khoa học và thiếu tính tự chủ trong công tác tổ
chức, quản lý nhân sự tại các ĐVSN. Hơn nữa, việc trả lương còn mang tính cào
bằng. Với phương án này, việc trả lương cho viên chức sẽ phụ thuộc vào vị trí
công việc mà viên chức ký hợp đồng làm việc 6 với ĐVSN. Cũng dựa trên vị trí
việc làm này, hai bên thỏa thuận với nhau về mức tiền lương mà viên chức yêu
cầu và ĐVSN chấp thuận trả với mức lương đó và mức lương này phải nằm
trong điều kiện trả lương và khuôn khổ của Quy chế chi tiêu nội bộ (QCCTNB)
và phần quỹ lương của ĐVSN.
Viên chức được trả lương tương xứng với kết quả lao động.
Trả lương cho viên chức tuân theo nguyên tắc gắn với kết quả thực hiện
nhiệm vụ đã được đề cập đến trong Nghị định 204. Tại khoản 2 Điều 3 quy định
cụ thể “Việc trả lương phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ,
công chức, viên chức và nguồn trả lương của đơn vị.”
Luật Viên chức đã khẳng định lại một lần nữa theo hướng mở rộng hơn
khi hướng đến kết quả lao động của viên chức. Khoản 1 Điều 12 Luật này quy
định: “Viên chức được trả lương tương xứng với vị trí việc làm, chức danh
nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ
6
Khoản 5 Điều 3 Luật Viên chức.
7
dẫn đến tình trạng chán nản không chuyên tâm trong công tác, trở nên chây lười
trong lao động hoặc tìm mọi cách để tìm kiếm thu nhập từ các nguồn khác. Xét
từ góc độ tâm lý, khi được trả lương một cách tương xứng với phần công sức bỏ
ra sẽ khuyến khích, tạo động lực cho viên chức làm việc và trau dồi chuyên môn
8
của mình. Tiền lương là lợi ích xã hội của một người lao động nhận được, cho
nên việc đánh giá đúng sức lao động bỏ ra còn có ý nghĩa là sự công nhận, tôn
trọng của xã hội đối với những đóng góp đó.
Khả năng chi trả tiền lương cho viên chức của ĐVSN.
Nguồn tiền lương thực hiện việc trả lương cho viên chức mà ĐVSN sử
dụng bao gồm, lương từ NSNN, lương từ NTSN.
Nguồn từ NSNN là nguồn của phần lương cứng trong tiền lương của
viên chức phản ánh năng lực, trình độ, kỹ năng của viên chức. Việc sử dụng
NSNN để trả lương luôn nằm trong dự toán kinh phí hoạt động của ĐVSN.
NSNN không phải là loại nguồn duy nhất được quan tâm hàng đầu với
vai trò là nguồn kinh phí cải cách tiền lương. Tuy nhiên, NSNN lại là nguồn lớn
nhất và quyết định nhất để cải cách tiền lương đối với người lao động nói chung
và với viên chức nói riêng.
Xét về mặt bản chất, đây là khoản tiền lương được người sử dụng lao
động mà cụ thể ở đây là ĐVSN trả lương cho viên chức theo hình thức tiền
lương tính theo thời gian. Khi viên chức đảm bảo thời lượng quy định cho công
việc của mình.
Nguồn từ NTSN bao gồm:
Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc NSNN theo quy định pháp
luật;
Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả
năng của đơn vị phụ thuộc vào lĩnh vực, ngành nghề được quy định cụ thể cho
tiền lương mà họ nhận được. Thông qua đó, tiền lương của viên chức tiến gần
hơn đến việc tính đúng, tính đủ. Sự đa dạng của nguồn tiền lương và khoản
lương mà viên chức được nhận đã làm tăng tính cạnh tranh của các ĐVSN so
với khu vực ngoài Nhà nước, đẩy mạnh hơn nữa công cuộc xã hội hóa các
ĐVSN.
Từ những phân tích cụ thể về các đặc điểm của tiền lương viên chức cũng
cho ta cách nhìn rõ nét hơn về sự khác biệt về tiền lương của viên chức và tiền
lương của cán bộ công chức. Vốn dĩ, trước khi có sự ra đời và công nhận của
Luật Viên chức thì các đối tượng này luôn tồn tại sự nhập nhằng. Dưới đây là
những điểm cơ bản để phân biệt giữa tiền lương của viên chức và tiền lương
công chức:
7
khoản 2, Điều 14 Nghị định số 43.
8
khoản 2.1 mục VIII Thông tư 71.
10
Căn cứ trả lương: Đối với công chức, căn cứ vào ngạch, bậc, chức vụ mà
công chức nắm giữ khi được bổ nhiệm vào một chức vụ và hưởng lương tương
ứng với ngạch, bậc phù hợp với chức vụ đó. Trong khi viên chức lại căn cứ vào
vị trí việc làm, kết quả công việc mà viên chức thực hiện.
Nguồn kinh phí đảm bảo thực hiện việc trả lương: Tiền lương của công
chức tuân theo thang, bảng lương với những hệ số lương tương ứng với căn cứ
trả lương của công chức được đảm bảo toàn bộ bởi nguồn NSNN. Viên chức là
đối tượng lao động làm việc trong các ĐVSN. Do đó, tiền lương của viên chức
giúp cho xã hội ổn định và tạo điều kiện cho viên chức được làm việc, cống hiến
nhiều hơn nữa cho ĐVSN, cho toàn xã hội. Ý nghĩa của tiền lương được phát
huy mạnh mẽ khi tiền lương của viên chức được xây dựng trên nền tảng quan hệ
tiền lương đúng đắn. Theo đó, sẽ tạo ra một lợi thế cạnh tranh so với các đơn vị
khác trong khu vực ngoài Nhà nước.
Một chế độ tiền lương tốt dành cho viên chức phải phát huy được sức
sáng tạo và năng lực, hiệu quả công tác, cũng như thu hút được nguồn viên chức
có chất lượng cao, các chuyên gia giỏi, nhân tài ... Đối với viên chức, vấn đề
năng lực càng quan trọng. Khi mà, giá trị sức lao động của viên chức mang vào
tham gia là chuyên môn của mình. Việc đánh giá hoạt động chuyên môn này
thực sự không đơn giản như việc trả lương cho công nhân dựa vào thời gian họ
tham gia lao động và số lượng sản phẩm họ làm ra.
Tiền lương có ý nghĩa lớn đối với viên chức thể hiện ở một số nội dung
cơ bản sau:
Thứ nhất, tiền lương có ý nghĩa trong tái sản xuất sức lao động. Khi mà,
tiền lương được trả cho viên chức là dựa vào giá trị sức lao động mà viên chức
đó tiêu hao khi tham gia lao động. Tái sản xuất sức lao động của viên chức
không chỉ được hiểu theo cách đơn giản là bảo đảm các nhu cầu vật chất cho
cuộc sống của chính người lao động ở điều kiện bình thường nhất và ở mức bình
thường nhất, mà tiền lương của viên chức phải đảm bảo cho viên chức đó có thể
nuôi sống gia đình, tạo điều kiện học tập nâng cao trình độ, đảm bảo đời sống
vật chất và cải thiện đời sống tinh thần.
Thứ hai, tiền lương góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của viên
chức. Vì, viên chức tham gia lao động, không chỉ để duy trì cuộc sống của họ
mà phải hướng đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân và gia đình
họ. Ngoài việc đáp ứng nhu cầu đến việc cải thiện nâng cao về vật chất, yếu tố
chất lượng cuộc sống của viên chức còn phải được đề cập và đề cao đến yếu tố
phi vật chất trong cuộc sống của viên chức và gia đình họ. Mục tiêu mà chính
sách cải cách tiền lương đặt ra là để viên chức có thể sống bằng lương ở mức
đó, phát huy ý nghĩa của tiền lương về nền tảng là phải dựa vào bản chất và chức
năng của tiền lương.
13
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của chế định tiền lương viên chức
nước ta.
1.2.1. Giai đoạn từ 1945 đến 1985.
Giai đoạn từ 1945 - 1954
Từ năm 1945 hệ thống tiền lương ở Việt Nam đã chính thức tồn tại. Từ
sau Cách mạng tháng Tám, những năm đầu của thời kỳ kháng chiến chống Pháp,
trong hoàn cảnh chiến tranh nên bộ phận người làm việc, lao động trong các cơ
quan có đơn vị chủ quản là chính quyền lâm thời ở nước ta. Mọi hoạt động đều
dồn vào mục tiêu “tất cả hướng ra tiền tuyến”. Chế độ, chính sách đãi ngộ ban
đầu chỉ là chính sách tự túc, tự cấp về sau mới có chế độ phụ cấp cho bộ phận
người hoạt động trong các cơ quan, bộ phận thuộc chính quyền ở dạng phụ cấp
hàng tháng và áp dụng đồng loạt cho tất cả mọi người.
Từ năm 1948, hình thành chế độ tiền lương dưới dạng phụ cấp “sinh hoạt
phí” áp dụng chung cho cán bộ công nhân viên của mọi cơ quan. Đặc điểm tiền
lương của đối tượng là viên chức thời kỳ này mang tính bình quân, việc đề bạt
tăng lương, phân cấp quản lý chỉ dựa vào chỉ tiêu phân bổ giản đơn không theo
một công thức nào hay theo một phương thức thống nhất quản lý nào mà chỉ
đơn thuần là phân bổ theo chỉ tiêu.
Giai đoạn 1954 đến 1985
Trong nền kinh tế bao cấp, với sự độc quyền của kinh tế quốc doanh và
kinh tế tập thể, Nhà nước chính là người sử dụng lao động, trực tiếp trả lương
cho công nhân, viên chức nên tiền lương của công chức không phải là giá cả sức
lao động mà được hiểu là một phần thu nhập quốc dân, biểu hiện dưới hình thức
tiền tệ, được Nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân, viên chức cho phù
lương năm 1960 có hiệu lực áp dụng cho đến khi Nghị định 235/HĐBT ngày
18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng về cải cách chế độ tiền lương của công nhân,
viên chức và các lực lượng vũ trang có hiệu lực (Nghị định 235).
Năm 1964, hệ thống tiền lương của Việt Nam được sửa đổi, bổ sung với
quy định chế độ tiền lương bằng hiện vật trong hệ thống tiền lương. Đây được
xem là điểm nổi bật nhất của chế độ tiền lương trong thời kỳ bao cấp. Tiền
lương gồm 2 phần: Phần tiền mặt do Nhà nước phân phối theo thang, bảng
lương; Phần bằng hiện vật do Nhà nước phân phối theo tiêu chuẩn cán bộ.
Trong hoàn cảnh chiến tranh và giai đoạn đầu hình thành nên tiền lương
nói chung và tiền lương của viên chức nói riêng chịu sự chi phối mạnh mẽ của
hoàn cảnh đất nước và điều kiện kinh tế. Chưa có một chế định hợp lý, hoàn
chỉnh, đủ sức điều chỉnh quan hệ tiền lương và những quan hệ liên quan đến tiền
lương. Một điều đáng nói là tiền lương trong giai đoạn này không thể hiện được
15
bản chất cũng như chưa thực hiện được chức năng của tiền lương mà còn chịu
sự chi phối mạnh mẽ bởi ý chí của Nhà nước.
1.2.2. Giai đoạn từ 1985 đến nay
Giai đoạn 1985 đến 1993
Trong điều kiện đất nước thống nhất và chế độ xã hội chủ nghĩa được xây
dựng trên phạm vi cả nước, Nhà nước thực hiện chức năng của mình thông qua
các chính sách vĩ mô để định hướng xây dựng đất nước. Chính sách tiền lương
là một chính sách lớn, nhận thức được tầm quan trọng của chính sách này, Đảng
và Nhà nước ta đã quan tâm và dốc sức để xây dựng một chính sách tiền lương
hợp lý. Do đó, giai đoạn này chế định tiền lương có nhiều biến động lớn và có ý
nghĩa định hướng cho cả quá trình cải cách chính sách tiền lương của nước ta.
Nghị định 235 là văn bản quy định tiền lương cho viên chức đầu tiên
mang tính chính thức và phổ biến về tiền lương trong giai đoạn này. Nghị định
và Nhà nước ta đồng thời phải phù hợp với sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên,
như đã phân tích, hạn chế của Nghị định 235 là chưa phân biệt chế độ lương
trong khu vực hành chính sự nghiệp và khu vực kinh doanh.
Nghị định 235 ra đời trong thời kỳ bao cấp. Tuy nhiên, Nghị định này đã
có những bước tiến mới trong quy định của mình khi mang hơi hướng của nền
kinh tế thị trường về cách nhìn nhận vấn đề tiền lương. Nó được xem là bước
chuyển tiếp tạo đà trong quá trình chuyển hóa từ một nền kinh tế phi thị trường
sang xây dựng nền kinh tế thị trường.
Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chế độ tiền lương của viên
chức càng nhận được sự quan tâm hơn theo hướng “giải phóng sức lao động, ổn
định đời sống cán bộ công nhân viên chức, …”; “đảm bảo tiền lương khu vực
hành chính sự nghiệp không chênh lệch quá so với khu vực sản xuất kinh doanh,
phải gắn tiền lương với kết quả lao động và hiệu quả sản xuất, bảo đảm tiền
lương thực tế …”10. Trên tinh thần này, Nghị định 202/1988/NĐ-HĐBT về tiền
lương công nhân viên chức hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang và các đối
tượng chính sách ra đời. Với Nghị định này, lương của công nhân viên chức
trong đơn vị hành chính sự nghiệp đã được tách ra khỏi chế độ tiền lương của
khu vực sản xuất kinh doanh. Mức tiền lương tối thiểu cũng được nâng lên mức
22 500 đồng/tháng mức này được áp dụng cho đến năm 1993 khi pháp luật tiền
lương có những chuyển biến lớn.
Giai đoạn 1993 đến 1998
Năm 1993, cùng với việc đổi mới nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang
nền kinh tế thị trường, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII đã đưa ra quan
điểm, chủ trương mới về tiền công, tiền lương. Theo đó, cải cách chính sách tiền
công và tiền lương theo nguyên tắc “dựa trên số lượng và chất luợng lao động,
10
Nghị quyết kỳ họp thứ 4 khóa VIII, tháng 12/1988
17
hiện. Cải cách chính sách tiền lương và các chính sách có liên quan năm 1993
12
11
Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX, năm 1996.
12
Đặng Như Lợi –
Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội – Bài viết “20 năm nhìn lại chính sách cải
cách tiền lương”, đăng ngày 15/03/2012.
18
thực sự là một cuộc cách mạng với những thay đổi rất cơ bản, quan trọng: Mở
đầu cho chuyển đổi chính sách tiền lương và các chính sách có liên quan sang cơ
chế thị trường; Cơ bản tính đúng, tính đủ tiền lương, xóa bỏ bao cấp; Giảm khá
lớn tính bình quân, cào bằng trong chính sách và phân phối tiền lương, giao
nhiều quyền chủ động về tiền lương hơn cho các ĐVSN có thu, doanh nghiệp
nhà nước, giảm bớt mức độ can thiệp cụ thể, trực tiếp của Nhà nước đối với khu
vực doanh nghiệp nhà nước và ĐVSN.
Như vậy, chỉ trong thời gian chưa đầy 5 năm, mức tiền lương tối thiểu
của viên chức tăng đáng kể, điều này chứng tỏ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước
đối với đời sống của lao động hưởng lương từ NSNN và cũng thể hiện sự tăng
trưởng mạnh của nền kinh tế. Cũng trong giai đoạn này chế độ tiền lương của
cán bộ công nhân viên chức làm việc trong đơn vị hành chính sự nghiệp, lực
lượng vũ trang đã có sự phân biệt với cán bộ công nhân viên trong cơ quan
Đảng, đoàn thể. Tuy nhiên, ở giai đoạn này khái niệm về viên chức vẫn chưa
chức.
Nghị định 175/1999/NĐ-CP ngày 15/12/1999 của Chính phủ về điều
chỉnh mức tiền lương tối thiểu và mức trợ cấp sinh hoạt phí từ nguồn kinh phí
thuộc NSNN. Tiếp đó là Nghị định 77/2000/NĐ-CP ngày 15/12/2000 của Chính
phủ về việc điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu, mức trợ cấp và sinh hoạt phí đối
với các đối tượng hưởng lương, phụ cấp, trợ cấp và sinh hoạt phí theo hướng
tiếp tục tăng mức tiền lương tối thiểu. Tiếp theo là Nghị định 03/2003/NĐ-CP
ngày 15/1/2003 của Chính phủ về điều chỉnh tiền lương, trợ cấp xã hội và đổi
mới một bước cơ chế quản lý tiền lương đã nâng mức tiền lương tối thiểu thêm
một nấc mới. Trong giai đoạn này, với mức tiền lương tối thiểu nằm ở mức khá
hợp lý khi đã có bước tiến trước sự lạm phát và trượt giá của hàng hóa, khối Nhà
nước đã thu hút được nguồn lao động trẻ, giàu năng lực.
Giai đoạn 2003 đến nay
Liên tục trong giai đoạn này là hàng loạt văn bản điều chỉnh về tiền
lương tối thiểu được ban hành mang tính hệ thống:
Nghị định số 203/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ quy
định tiền lương tối thiểu (Nghị định 203).
Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về
chế độ tiền lương đối với cán bộ công chức, viên chức và lực lượng vũ trang
(Nghị định 204).
Nghị định số 118/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ về điều
chỉnh mức lương tối thiểu chung.
Nghị định số 94/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về điều
chỉnh mức lương tối thiểu chung.
20