1 tiểu luận cao học mặt trận tổ quốc việt nam với vai trò giám sát, phản biện xã hội trong lĩnh vực phòng chống tham nhũng - Pdf 40

TÊN TIỂU LUẬN
“MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VỚI VAI TRÒ GIÁM SÁT,
PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC PHÒNG CHỐNG THAM
NHŨNG

Học viên:
Mã số học viên:
Lớp:

HÀ NỘI – NĂM 2016


MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ hiện nay cùng với việc phát triển kinh tế xã hội tệ nạn tham
nhũng xuất hiện và ngày càng có chiều hướng phát triển tăng cao cả về số lượng
và tính chất nghiêm trọng. Trong những năm qua, việc hoàn thiện hệ thống pháp
luật về phòng chống tham nhũng đã được Đảng và nhà nước ta tiến hành, song
để đáp ứng nhu cầu về mặt thực tiễn đảm bảo hiệu quả trong phòng chống tham
nhũng, vai trò giám sát và pbản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc là vô cùng quan
trọng, bởi Nhà nước của chúng ta là của dân, do dân và vì dân. Chính người dân
mới là người tham gia giám sát, phản biện xã hội, MTTQ đại diện cho nhân dân,
nhận gánh nặng mà nhân dân giao phó. Giám sát, phản biện xã hội của MTTQ là
nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật và chính sách cụ thể của nhà nước, góp phần
hoàn thiện các chủ trương, chính sách, pháp luật sát hợp với thực tiễn của đời
sống xã hội, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và thể hiện được ý chí,
nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
nâng cao năng lực, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ngày càng trong sạch,
vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Bởi vậy giám sát và phản biện xã

3


NỘI DUNG
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
1.1 Khái niệm về tham nhũng
1.1.1. Khái niệm:
Trên thế giới bàn về khái niệm tham nhũng, cho đến nay đã có nhiều tổ
chức, nhà nghiên cứu làm rõ nội hàm của khái niệm này và đã có nhận thức
tương đối thống nhất của giới khoa học cũng như của các chính khách trong
nước và thế giới.
Theo Liên Hợp Quốc: Bản Hiệp Ước của Liên Hợp Quốc về Chống Tham
Nhũng (UNCAC) không định nghĩa tham nhũng. Các thành viên tham dự Hội
nghị của Liên Hợp Quốc về các Biện Pháp Chống Tham Nhũng, Quản Trị Hiệu
Quả và Nhân Quyền năm 2006 cũng không đạt tới đồng thuận về một định nghĩa
chung cho tham nhũng, mà chỉ nói một các chung chung về tham nhũng như là
“sự lạm dụng quyền lực công để theo đuổi lợi ích tư.”
Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI), tham
nhũng là hành vi "của người lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý làm trái
pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân".
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới: tham nhũng là “lạm dụng công
quyền để tư lợi”
Theo Vito Tanzi: Tham nhũng là “hành động cố tình không tuân thủ các
nguyên tắc công minh nhằm trục lợi cho cá nhân hoặc cho những kẻ có liên quan
tới hành động đó”.
Theo Michael Johnston: Tham nhũng là “sự lạm dụng chức vụ công hay
của cải công cho lợi ích tư”.




Thứ hai, người có chức vụ, quyền hạn đã thực hiện hành vi lợi dụng chức
vụ quyền hạn, lợi dụng địa vị công tác được giao để không làm hoặc làm trái với
công vụ mà mình phải thực hiện và thực hiện đúng qui định của pháp luật, gây
thiệt hại chung cho lợi ích của nhà nước, xã hội và công dân.
Thứ ba, người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi với động cơ vụ lợi
cho bản thân mình, cho người khác hoặc một nhóm người mà mình quan tâm.
1.2. Mặt trận tổ quốc và vai trò giám sát và phản biện xã hội.
1.2.1. Mặt trận tổ quốc
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là
cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại
đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nơi hiệp thương, phối
hợp và thống nhất hành động của các thành viên."
1.2.2. Vai trò của mặt trận tổ quốc
Trong điều kiện Đảng nắm chính quyền, Đảng độc quyền lãnh đạo xã hội,
thì Mặt trận tổ quốc là tổ chức có vai trò to lớn trong việc xây dựng Đảng và tạo
điều kiện cho Đảng làm tốt các vai trò của mình, trong đó có việc giám sát và
phản biện xã hội. Điều này Đảng đã có chủ trương và Hiến pháp cũng đã quy
định, vấn đề là tổ chức giám sát, phản biện thế nào cho thiết thực và có hiệu quả
trong xã hội. Đây cũng là nội dung rất quan trọng mà Đại hội Mặt trận toàn quốc
lần thứ VIII tiếp tục thảo luận để tạo sự thống nhất cao và có những quyết định
mạnh mẽ thực hiện tốt hơn vai trò quan trọng này. Quan điểm của Đảng đã rõ,
Hiến pháp cũng đã khẳng định, Luật Mặt trận tổ quốc Việt Nam đã nêu rõ vai trò
giám sát và phản biện của Mặt trận. Vấn đề là tổ chức thực hiện thế nào cho tốt.

6



nhũng đã và đang xảy ra ở hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ sản xuất
kinh doanh, liên doanh liên kết, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý và sử dụng đất
đai, quản lý và sử dụng ngân sách, thuế, ngân hàng, hải quan, xuất nhập khẩu, tư
pháp, giáo đục, y tế thực hiện chính sách xã hội trong quản lý hành chính, công
tác xã hội... Có đủ mức độ tham nhũng của cá nhân, của tập thể, tham nhũng
không có tổ chức và tham nhũng có tổ chức gồm nhiều đối tượng tham gia.
Những thiệt hại do tham nhũng gây ra rất lớn, có vụ tham nhũng về kinh tế làm
thiệt hại cho Nhà nước, nhân dân tới hàng trăm, hàng nghìn tỉ đồng, làm thoái
hóa, biến chất hàng loạt cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ cao cấp của Đảng
và Nhà nước. Cái thiệt hại đáng kể hơn, nặng nề hơn là tham nhũng đã làm xấu
chế độ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào tương lai của một chế độ tốt đẹp
mà Đảng ta đang phát động xây dựng.
Thống kê về chỉ số tham nhũng của nước ta trong nhưng năm gần đây
cho thấy rằng số lượng vụ tham nhũng cũng như số người vi phạm ngày càng
tăng, mặc dù chúng ta đã có những giải pháp nhất định trong đấu tranh phòng
chống tham nhũng ở nước ta trong những năm gần đây. Hiện nay tham nhũng ở
nước ta là khá phổ biến và có chiều hướng gia tăng cả về số vụ cũng như tính
chất nghiêm trọng gây thiệt hại cho nhà nước rất lớn. Đặc biệt tham nhũng trong
các cơ quan công quyền ngày càng lớn và tinh vi, đã xuất hiện sự móc nối giữa
các cá nhân trong cơ quan nhà nước nhằm che đậy các hành vi tham nhũng của
mình khi hát hiện thì thường có liên quan đến rất nhiều người trong đó có cả
những người giữ chức vụ chủ chốt trong Đảng và cơ quan nhà nước. Một thực
trạng tham nhũng phổ biến nữa hiện nay là tham nhũng chính sách xảy ra rất phổ
biến và thường là những vụ án lớn gây thất thoát rất lớn cho tài sản nhà nước
cũng như làm giảm lòng tin của các nhà đầu tư vào trong nước, giảm các kênh
cung cấp vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế đối với các dự án mang tính an sinh
xã hội của nước ta.
8



đảo cán bộ cấp cơ sở, những “quan lại” mới ở nông thôn bớt xén tiền do dân
đóng góp, tiền từ đầu tư của nhà nước, tiền thuế, tiền viện trợ nhân đạo của các
cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.
Như vậy, tham nhũng mang tính phổ biến, nhỏ nhặt là đặc điểm quan
trọng nhất của nạn tham nhũng ở nước ta và cũng chính nó làm cho tham
nhũng trở nên trầm trọng. Thực trạng này rất nguy hiểm không những nó làm
xói mòn lòng tin của nhân dân vào chế độ ta, phá hoại sự nghiệp xây dựng và
phát triển của đất nước mà còn làm băng hoại đạo đức xã hội, phá hoại các giá
trị truyền thống văn hoá của dân tộc - vốn là nguồn sức mạnh của dân tộc ta từ
trước đến nay.
Nguyên nhân tham nhũng.
Là nước ta đang nghèo cơ chế để đảm bảo ổn định đời sống của cán bộ
công chức còn thấp, nhiều cán bộ công chức đồng lương không đảm bảo sinh
hoạt gia đình, dẫn đến sự nhiệt tình trong công việc không cao, nhận thức về hậu
quả của tham nhũng đối với đất nước của một số cán bộ còn non kém .
Cơ chế pháp lý để xử lý các đối tượng tham nhũng là không cao và chưa
đủ tính răn đe, cơ chế pháp lý vừa thiếu lại vừa yếu nên nhiều vụ không biết
xử lý như thế nào hoặc xử lý qua cho xong, tâm lý nể nang trong quá trình xử
lý các đối tượng vi phạm trong cán bộ công chức là nguyên nhân tái phạm lại
tham nhũng.
Phần lớn các biện pháp can thiệp vào thị trường của chính phủ đều mang
tính chất cấm đoán, tức là các chủ thể kinh tế không được phép làm điều gì đó
trừ phi chính phủ công khai cho phép một số được làm như vậy. Điển hình là
việc cấp phép nhập khẩu. Chỉ những công ty được cấp phép nhập khẩu mới được
nhập một số loại hàng hóa nào đó và chỉ với số lượng cụ thể đã nêu trong giấy
phép. Điều đó chắc chắn sẽ gây ra sự khan hiếm trên thị trường, cung không
được tính toán theo chi phí cận biên của các nhà sản xuất, nhập khẩu mà thông
10



chót), với sự tùy tiện của các cán bộ trong quá trình thực hiện, sẽ tạo ra một cơ
hội lớn cho tham nhũng. Không chỉ đạo luật đó tạo ra động cơ cho tham nhũng
mà nó còn giảm thiểu khả năng bị phát hiện, do đó làm cho những kẻ hối lộ và
nhận hối lộ không còn tin nhiều vào những mối đe dọa với chúng.
Như vậy, từ những nguyên nhân trên đòi hỏi Đảng và nhà nước ta phải
quan tâm hơn đến vấn đề tham nhũng, đòi hỏi phải chữa tận gốc tệ nạn này, góp
phần tạo lòng tin của nhân dân vào chế độ và ngày càng đưa đất nước phát triển
giàu mạnh.
2.2. Vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt
Nam.
Giám sát và phản biện xã hội là nhiệm vụ quan trọng trong công tác tham
gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của MTTQ và các tổ chức đoàn thể.
Trong đó, giám sát đã được quy định trong Hiến pháp 1992 và trong một số văn
kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước. Còn phản biện xã hội là chức
năng mới, vừa được xác định trong Văn kiện Đại hội X, XI của Đảng.
Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động giám sát và phản biện xã hội của MTTQ
và các tổ chức đoàn thể là rất lớn. Trong đó, hoạt động giám sát chủ yếu dựa trên
3 hình thức:
- Tham gia giám sát với cơ quan quyền lực Nhà nước;
- Vận động nhân dân giám sát;
- Tự mình giám sát.
Thực tế những năm qua, MTTQ các cấp luôn chủ động thực hiện vai trò
giám sát thông qua việc tham gia với Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực
HĐND, các ban của HĐND các cấp giám sát việc chấp hành và thực hiện pháp
luật trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; tham gia việc tuyển chọn bổ nhiệm
Thẩm phán, Kiểm sát viên; giám sát công tác xét đặc xá. Động viên nhân dân
thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt
12



X, đã phản ánh sự ủng hộ, hoan nghênh của nhân dân đối với việc Đảng đưa ra
Nghị quyết về phòng, chống tham nhũng.
Thứ hai, thực hiện công tác giám sát để phòng, chống tham nhũng
Có thể nói, giám sát là hoạt động đạt được hiệu quả nhất trong công tác
phòng, chống tham nhũng của Mặt trận.
Để kịp thời nắm bắt được những điều nhân dân phản ánh, kiến nghị có liên
quan đến tham nhũng, Mặt trận các cấp bố trí cán bộ tiếp dân tại trụ sở và cử cán
bộ tham gia tiếp dân định kỳ cùng chính quyền. Trong quá trình tiếp dân, Mặt
trận kịp thời phát hiện những vụ việc có liên quan đến tham nhũng để trình lên
các cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Ngoài việc tiếp dân, Mặt trận còn tổ chức
hòm thư phát hiện tham nhũng. Thông qua hai hình thức này, nhiều vụ việc tiêu
cực do nhân dân phát hiện đã được Mặt trận chuyển đến các cơ quan hữu quan
xem xét.
Trong công tác giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo của
các cơ quan Nhà nước. Ban Thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn đã tích cực
phát huy vai trò của mình. Nhiều nơi Ban Thanh tra nhân dân hoạt động tích cực,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nên được nhiều cá nhân, tổ chức liên quan
ở địa phương cung cấp thông tin, tài liệu về việc khiếu nại, tố cáo, giúp cho công
tác giám sát được tốt hơn. Thông qua việc tích cực tham gia giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo, Mặt trận góp phần hạn chế tham nhũng.
Ngoài công tác giám sát, Mặt trận các cấp còn thực hiện việc quản lý kinh
tế trong chính đơn vị mình, quản lý tốt các nguồn quỹ do nhân dân đóng góp để
xoá đói, giảm nghèo, ủng hộ đồng bào bị thiên tai... Mặt trận thường xuyên tập
hợp, kiến nghị bức xúc của nhân dân, qua đó phát hiện những hành vi tiêu cực,
đề nghị với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. Trong quá trình thực
hiện công tác hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu
14



lượng giám sát và phản biện tích cực, thì khi ấy tính chính xác và khả năng thực
thi đầy đủ những chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước vào trong đời
sống xã hội mới được đảm bảo.
Ba là, thực hiện tốt mối quan hệ giữa tổ chức Đảng, chính quyền với
MTTQ và các đoàn thể. Cần xây dựng quy chế và xác định rõ mối quan hệ giữa
Đảng với Mặt trận. Đảng phải đặt trong mối quan hệ vừa là người lãnh đạo của
Mặt trận, đồng thời là thành viên của Mặt trận. Chỉ có xác định đúng mối quan
hệ đó mới tạo điều kiện để MTTQ và các đoàn thể thực hiện tốt chức năng giám
sát và phản biện xã hội. Xây dựng cơ chế thích hợp nhằm phát huy vai trò của
các tổ chức thành viên, nhân sĩ, trí thức, Hội đồng tư vấn vào hoạt động phản
biện xã hội. Quy định cụ thể và đầy đủ về quyền hạn, trách nhiệm của MTTQ
đối với các tổ chức thành viên; về trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền đối với
những kiến nghị, phản ánh của MTTQ và của nhân dân trong quá trình giám sát
phản biện. Như vậy, MTTQ mới thể hiện đúng và đầy đủ vai trò là tổ chức liên
minh chính trị rộng lớn, đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân.
Bốn là, cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, thống nhất.
Để hoạt động giám sát và phản biện xã hội của MTTQ và các đoàn thể phát huy
hiệu quả, nhất thiết phải có một hệ thống cơ chế đầy đủ, đủ mạnh. Vì vậy, đề
nghị Quốc hội trong sửa đổi Hiến pháp và Luật MTTQ Việt Nam lần này phải có
những sửa đổi, bổ sung cơ bản về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của MTTQ
và các tổ chức đoàn thể. Sớm xây dựng và ban hành luật về giám sát của nhân
dân. Đánh giá đúng thực trạng để bổ sung hoàn chỉnh các quy định pháp luật để
MTTQ và các tổ chức đoàn thể thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã
hội trong thực tế.
Năm là, muốn giám sát và phản biện được, MTTQ Việt Nam phải giữ
được một vị thế của một chủ thể giám sát và phản biện xã hội độc lập. Do đó,
Đảng và Nhà nước cần tạo cho Mặt trận thực sự có được vị trí tương đối độc lập,
16





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status