phân tích và đưa ra một số giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động bao thanh toán tại ngân hàng tmcp ngoại thương việt nam - Pdf 40

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-----------------------------------------------

NGUYỄN MINH KHUÊ

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH VÀ ĐƯA RA MỘT SỐ GIẢI PHAPR HẠN CHẾ
RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN TẠI
NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
NGUYỄN VĂN NGHIẾN

HÀ NỘI – 2010


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là của riêng tôi, được nghiên cứu một cách độc lập.
Tất cả các trích dẫn, số liệu trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng.
HV: Nguyễn Minh Khuê


LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Trung tâm đào
tạo sau đại học và các thầy cô giáo Khoa Kinh tế & Quản lý Trường Đại học

1.1.1 Khái niệm

4

1.1.2 Phân loại

8

1.1.3 Các bên tham gia hoạt động

10

1.1.4 Các bước cơ bản trong quy trình

10

1.1.5 Vai trò của bao thanh toán

12

1.2 Phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động bao thanh toán

13

1.2.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt động bao thanh toán

13

1.2.2 Nhận dạng rủi ro trong hoạt động bao thanh toán



1.4 Kết luận

32

CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG
HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

33

2.1.1 Khái quát về sự hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức

33

2.1.2 Tổng quan hoạt động kinh doanh

36

2.2 Hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt

47

Nam
2.2.1 Khách hàng đã có doanh số Bao Thanh Toán

48

2.2.2 Khách hàng chưa có doanh số Bao Thanh Toán

Trường ĐH Bách Khoa HN

2.3.2 Giai đoạn thí điểm

55

2.3.3 Thực trạng hoạt động

59

2.4 Đánh giá thực trạng phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động

64

bao thanh toán tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
2.4.1 Ưu điểm

64

2.4.2 Hạn chế

67

2.4.3 Những vướng mắc trong quá trình triển khai Bao Thanh Toán

73

2.4.4 Nguyễn nhân

77

92

3.2.3 Xây dựng các tiêu chí lựa chọn đại lý bao thanh toán phù hợp

94

Học viên: Nguyễn Minh Khuê


Luận văn cao học QTKD

Trường ĐH Bách Khoa HN

3.2.4 Xác định hạn mức bao thanh toán cụ thể của người bán đối với người

95

mua
3.2.5 Xác định mức đảm bảo rủi ro tín dụng đối với người mua

96

3.2.6 Xác định giới hạn tín dụng của đại lý bao thanh toán bên mua

97

3.2.7 Phòng ngừa và hạn chế tranh chấp về hàng hoá

97



109

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

111

PHỤ LỤC

112

Học viên: Nguyễn Minh Khuê


Luận văn cao học QTKD

Trường ĐH Bách Khoa HN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACB:

Ngân hàng thương mại cổ phần Á châu

BTT:

Bao thanh toán

FC:

First Capital USA


Ứng trước

Vietcombank:

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (trước cổ phần hoá),
Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

XK:

Học viên: Nguyễn Minh Khuê

Xuất khẩu


Luận văn cao học QTKD

Trường ĐH Bách Khoa HN

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Sơ đồ 1.1

Các bước thực hiện bao thanh toán

13

Sơ đồ 2.1

Mô hình tổ chức của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt nam


44

Bảng 2.7

Doanh số bao thanh toán giai đoạn 2008 - 2010

58

Bảng 2.8

Tình hình giao dịch với thị trường quốc tế

58

Bảng 2.9

Phân tích mức độ sử dụng các chương trình hiện có

81

Bảng 3.1

Các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh sau cổ phần hoá

89

Học viên: Nguyễn Minh Khuê


Luận văn cao học QTKD

vụ này luôn mong tìm được câu trả lời và các giải pháp hữu hiệu để phát triển dịch

Học viên: Nguyễn Minh Khuê

1


Luận văn cao học QTKD

Trường ĐH Bách Khoa HN

vụ Bao thanh toán tại đơn vị mình.
Triển khai hoạt động bao thanh toán là cần thiết và là hướng đi đúng đắn của
ngân hàng. Một mặt, với sự tham gia của ngân hàng với tư cách là đơn vị bao thanh
toán, các thương nhân có chỗ dựa để lựa chọn phương thức mua bán hàng trả chậm
hết sức hiệu quả. Mặt khác, bản thân ngân hàng cũng có thêm cơ hội kinh doanh
mới, đối phó với nguy cơ suy giảm thu nhập tài trợ thương mại do xu hướng giảm
dần của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và nhờ thu kèm chứng từ.
Bao thanh toán là một hoạt động kinh doanh của ngân hàng và vấn đề rủi ro
luôn là mối quan tâm hàng đầu trong quá trình hoạt động kinh doanh của bất cứ
doanh nghiệp nào. Thực tế cho thấy, lợi nhuận càng cao thì mức độ rủi ro phải đối
mặt càng lớn. Vì thế, vấn đề rủi ro luôn là mối quan tâm hàng đầu trong quá trình
phát triển hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Nếu không biết được rủi ro
nằm ở đâu, không phân tích đo lường được, không đưa ra được các giải pháp phòng
ngừa, hạn chế rủi ro thì cầm chắc sự thất bại. Trong cuộc sống hay trên thương
trường, ai hiểu biết về rủi ro nhiều hơn sẽ trở thành người chiến thắng.
Bao thanh toán là hoạt động mới tại Việt Nam cũng như tại Vietcombank.
Yêu cầu nghiên cứu phân tích, đánh giá rủi ro để chủ động đưa ra các giải pháp
phòng ngừa, hạn chế rủi ro là đòi hỏi tất yếu để phát triển hoạt động bao thanh toán.
Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài Luận văn: “Phân tích và đưa ra một số giải

4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế;
kết hợp với vận dụng các cơ sở lý luận, quan điểm và chính sách kinh tế, tài chính
ngân hàng và định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước để phân tích, đánh giá và
đưa ra các giải pháp phòng ngừa hạn chế rủi ro trong hoạt động bao thanh toán.
Ngoài ra còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và xuất phát từ
thực tiễn để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
các chương:
-

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt
động bao thanh toán.

-

Chương 2: Thực trạng phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động bao
thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

-

Chương 3: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động bao
thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

Học viên: Nguyễn Minh Khuê

3



phải thu) cho một đơn vị bao thanh toán, với mục đích tài trợ hoặc không, để nhận
được ít nhất một trong các dịch vụ sau: Theo dõi khoản phải thu, thu nợ và bảo đảm

Học viên: Nguyễn Minh Khuê

4


Luận văn cao học QTKD

Trường ĐH Bách Khoa HN

rủi ro nợ xấu.
Theo Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng do NHNN
ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 của
Thống đốc NHNN, thì: “Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức
tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ
việc mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong
hợp đồng mua, bán hàng.”
Ngoài ra còn có nhiều định nghĩa khác về bao thanh toán như:
Bao thanh toán là một hình thức tài trợ thương mại mà nhờ đó, doanh nghiệp
bán khoản phải thu của họ (dưới hình thức các hoá đơn) theo giá chiết khấu. Nhờ đó
doanh nghiệp không phải phụ thuộc vào việc phải chờ đợi một thời gian 30 đến 90
ngày theo điều kiện thanh toán trả chậm từ khách hàng của họ mới có thể chuyển
các khoản phải thu này thành tiền mặt. Doanh nghiệp được hưởng lợi do có thể đẩy
nhanh tốc tộ luân chuyển vốn nhờ bán ngay các khoản phải thu cho đơn vị bao
thanh toán theo trị giá khoản phải thu trừ đi phí của đơn vị bao thanh toán
Bao thanh toán là việc bán các khoản phải thu của một công ty, với mức giá
chiết khấu, cho một đơn vị bao thanh toán là người sẽ đảm nhận rủi ro tín dụng đối
với khoản nợ và là người sẽ nhận tiền mặt khi con nợ (tức là người mua hàng) thanh

Bảo đảm rủi ro tín dụng bên mua hàng.

Trường ĐH Bách Khoa HN

Để hiểu rõ khái niệm về bao thanh toán, chúng ta cần đi sâu thêm một số nội
dung trong khái niệm trên:
Thứ nhất: Khoản phải thu là khoản tiền bên bán hàng được quyền thu từ bên
mua hàng sau khi đã giao hàng cho bên mua hàng theo đúng quy định tại hợp đồng
mua bán đã ký kết. Việc chuyển nhượng khoản phải thu bao gồm việc chuyển
nhượng toàn bộ các quyền và lợi ích liên quan đến khoản phải thu. Khoản phải thu
phải là ngắn hạn (thông thường có thời hạn thanh toán dưới 180 ngày). Khoản phải
thu trong bao thanh toán gắn với phương thức thanh toán ghi sổ hoặc nhờ thu D/A.
Thứ hai: Theo dõi các khoản phải thu là việc đơn vị bao thanh toán mở sổ
ghi chép toàn bộ các khoản phải thu từ người mua của người bán theo đúng hợp
đồng bao thanh toán đã ký kết: Chi tiết các hoá đơn, ngày đến hạn, các khoản nào
đã được thanh toán, thời hạn thanh toán, thời hạn trả chậm, các khoản còn treo, các
báo có, các khoản thanh toán..... Định kỳ theo yêu cầu của khách hàng, đơn vị bao
thanh toán gửi bảng kê xác nhận tình trạng các khoản phải thu cho khách hàng, nhờ
đó khách hàng có thể có đầy đủ thông tin chính xác để kiểm soát việc thực hiện giao
dịch của mình cũng như của người mua.
Thứ ba: Ứng trước là việc đơn vị bao thanh toán cho người bán vay tới 90%
trị giá hoá đơn khi xuất trình với lãi suất cho vay ngắn hạn. Khi đơn vị bao thanh
toán thu được tiền từ phía người mua, đơn vị bao thanh toán sẽ thu khoản nợ này và
trả phần chênh lệch còn lại cho người bán. Người bán không cần phải đợi đến hạn
thanh toán theo hợp đồng mới nhận được tiền. Nhờ đó có điều kiện quay vòng vốn
và đảm bảo đủ vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh. Tuỳ theo thoả thuận, cũng
có trường hợp đơn vị bao thanh toán ứng trước cho người bán ngay từ khi có đơn
hàng để người bán có vốn lưu động để thu mua hoặc sản xuất hàng chứ không nhất
thiết chỉ ứng trước sau khi người bán giao hàng. Cũng tuỳ từng đối tượng và từng
trường hợp, đơn vị bao thanh toán có thể ra điều kiện chỉ ứng trước khi người bán

mua cho người bán và chỉ chấp nhận đảm bảo rủi ro đối với các khoản phải thu
trong hạn mức đó mà thôi. Hạn mức này thường được duy trì ổn định, thậm trí
không có thời hạn và chỉ thay đổi khi tình trạng tài chính của người mua có biến
động. Vì vậy, với thông tin này, người bán cũng có thể điều chỉnh được quan hệ của
mình với người mua để đảm bảo an toàn cho chính mình.
Thứ sáu: Phân biệt bao thanh toán với một số hoạt động tương tự:
Tài trợ khoản phải thu: tương tự dịch vụ ứng trước trong bao thanh toán
nhưng khác ở chỗ có thể tài trợ trước giao hàng và có kỳ hạn cụ thể, thường là 6-24
tháng.
Bảo hiểm tín dụng: tương tự dịch vụ bảo đảm rủi ro tín dụng bên mua nhưng

Học viên: Nguyễn Minh Khuê

7


Luận văn cao học QTKD

Trường ĐH Bách Khoa HN

khác ở chỗ không cần chuyển nhượng khoản phải thu, mức độ bảo đảm chỉ từ 7090% giá trị khoản phải thu và thời điểm thực hiện nghĩa vụ là khi bên mua phá sản
hoặc chậm thanh toán 180 ngày.
1.1.2 Phân loại
1.1.2.1 Căn cứ vào địa bàn hoạt động của người mua và người bán
Bao thanh toán trong nước: là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng mua,
bán hàng, trong đó bên bán hàng và bên mua hàng là người cư trú theo quy định của
pháp luật về quản lý ngoại hối
Bao thanh toán quốc tế (Xuất - Nhập khẩu): là việc bao thanh toán dựa trên
hợp đồng xuất- nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ.
1.1.2.2 Căn cứ vào số lượng các đơn vị bao thanh toán tham gia vào giao dịch

Bao thanh toán miễn truy đòi khoản cho vay ứng trước: là việc bao thanh
toán trong đó đơn vị bao thanh toán cung cấp cho bên bán hàng dịch vụ cho vay ứng
trước dựa trên trị giá khoản phải thu. Đồng thời, trong mọi trường hợp, đơn vị bao
thanh toán không được quyền đòi lại bên bán hàng số tiền mà họ đã ứng trước đó.
Bao thanh toán có bảo đảm rủi ro tín dụng bên mua hàng: là việc bao thanh
toán trong đó đơn vị bao thanh toán (hoặc đại lý bao thanh toán bên bán giao dịch
với đại lý bao thanh toán bên mua hàng để đại lý bao thanh toán bên mua hàng)
cung cấp cho bên bán hàng dịch vụ bảo đảm rủi ro tín dụng bên mua hàng.
Bao thanh toán không có đảm bảo rủi ro bên mua hàng: là việc bao thanh
toán trong đó đơn vị bao thanh toán bên bán hàng giao dịch với đơn vị bao thanh
toán bên mua hàng để đơn vị bao thanh toán bên mua hàng cung cấp cho bên bán
hàng dịch vụ thu nợ đơn thuần mà không có bảo đảm rủi ro tín dụng bên mua hàng.
Bao thanh toán có bảo đảm rủi ro tín dụng đơn vị bao thanh toán bên mua
hàng: là việc bao thanh toán trong đó đơn vị bao thanh toán bên bán cung cấp cho
bên bán hàng dịch vụ bảo đảm rủi ro tín dụng đơn vị bao thanh toán bên mua hàng.
Theo đó, trong trường hợp đơn vị bao thanh toán bên mua hàng không hoàn thành
nghĩa vụ thanh toán cho đơn vị bao thanh toán bên bán đối với khoản phải thu được
chuyển nhượng, đến ngày thứ 100 kể từ ngày đáo hạn của khoản phải thu, đơn vị
bao thanh toán bên bán có trách nhiệm thanh toán 100% trị giá khoản phải thu cho
bên bán hàng.
Bao thanh toán không có bảo đảm rủi ro tín dụng đại lý bên mua hàng: là
việc bao thanh toán trong đó đơn vị bao thanh toán bên bán không cung cấp cho bên
bán hàng dịch vụ bảo đảm rủi ro tín dụng đơn vị bao thanh toán bên mua hàng.
Theo đó, bên bán hàng chịu mọi rủi ro trong trường hợp đơn vị bao thanh toán bên
mua hàng không hoàn thành nghĩa vụ của mình với bên bán hàng.

Học viên: Nguyễn Minh Khuê

9


Thoả thuận giữa đại lý bao thanh toán bên bán và đại lý bao thanh toán bên
mua: Hợp đồng đại lý bao thanh toán: Đối với Bao thanh toán hệ hai đại lý, hai đại
lý cần ký hợp đồng đại lý bao thanh toán nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa hai đại
lý trong quá trình cung cấp dịch vụ bao thanh toán cho khách hàng. Nội dung thoả

Học viên: Nguyễn Minh Khuê

10


Luận văn cao học QTKD

Trường ĐH Bách Khoa HN

thuận thường bao gồm một số vấn đề cơ bản như: Tên, địa chỉ giao dịch của đại lý;
Thoả thuận áp dụng các quy định hay thông lệ nào, thường là thoả thuận áp dụng
các quy tắc hiệp hội và những thoả thuận riêng nếu có; Thoả thuận phương thức
giao dịch giữa hai đại lý.
Thoả thuận giữa đại lý bao thanh toán bên bán và người bán: Hợp đồng Bao
thanh toán. Hợp đồng khung: Người bán và đại lý bao thanh toán thiết lập mối quan
hệ ban đầu về việc cung cấp và sử dụng dịch vụ bao thanh toán, hai bên ký với nhau
hợp đồng bao thanh toán khung. Nội dung gồm một số vấn đề cơ bản như: Tên, địa
chỉ giao dịch, phương thức giao dịch; Hạn mức bao thanh toán; Các điều khoản
chung về việc ứng trước, lãi suất, thu nợ, đảm bảo rủi ro bên mua, tranh chấp giữa
bên mua và bên bán; Quyền và nghĩa vụ giữa hai bên. Hợp đồng chi tiết: Khi người
bán đã xác định cụ thể người mua, thường là hai bên người bán và người mua đã có
đơn hàng chi tiết, người bán thông báo cho đại lý thông tin về người mua, đại lý
chấp nhận thực hiện bao thanh toán, hai bên ký với nhau hợp đồng bao thanh toán
chi tiết. Nội dung thoả thuận cụ thể về việc đại lý cung cấp dịch vụ bao thanh toán
cho người bán đối với một người mua xác định như tên, địa chỉ của người mua, loại

6. Đại lý BTT bên bán thanh toán cho bên bán sau khi đã tất toán khoản ứng
trước, lãi và phí bao thanh toán.
Sơ đồ 1.1 Các bước thực hiện bao thanh toán

1

Bên bán
6

3

2

Bên mua
4

5

3

Đại lý BTT

5

Đại lý BTT

1.1.5 Vai trò của bao thanh toán
1.1.5.1 Vai trò đối với người bán
Bao thanh toán giúp khách hàng có thêm nguồn tài chính mới và không bị
giới hạn bởi thiếu tài sản thế chấp, hỗ trợ việc tăng doanh số bán hàng, giảm rủi ro

Đa dạng hoá danh mục đầu tư: Nhiều quốc gia, nhiều ngành; Danh mục đầu
tư gồm nhiều khoản tín dụng tương đối nhỏ; Danh mục đầu tư có tính thanh khoản
cao do các khoản phải thu đều ngắn hạn; Có thể đi vào thị trường rộng hơn để mở
rộng kinh doanh; Người vay bán hàng cho nhiều người mua ở nhiều nước khác
nhau; Thâm nhập tốt vào các công ty nhỏ và vừa.
1.2 Phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động bao thanh toán
1.2.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt động bao thanh toán
Rủi ro hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến.
Rủi ro trong hoạt động bao thanh toán của ngân hàng thương mại là những vấn đề
xảy ra ngoài ý muốn trong quá trình tiến hành hoạt động bao thanh toán và ảnh
hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Để hiểu rõ hơn về rủi ro trong hoạt động bao thanh toán, chúng ta đi sâu
phân tích mối quan hệ giữa bao thanh toán và các phương thức thanh toán chủ yếu

Học viên: Nguyễn Minh Khuê

13


Luận văn cao học QTKD

Trường ĐH Bách Khoa HN

được sử dụng giữa người mua và người bán.
Trong thương mại, người bán luôn quan tâm đến việc có thu được tiền bán
hàng đầy đủ và đúng hạn hay không, còn người mua thì quan tâm đến việc có nhận
được hàng đầy đủ, đúng hạn và đảm bảo chất lượng theo theo yêu cầu hay không.
Xuất phát từ quan hệ tiền hàng giữa người mua và người bán, cấp độ rủi ro trong
thanh toán giữa người mua và người bán là trái chiều nhau. Phương thức thanh toán
an toàn nhất đối với người bán cũng đồng thời là phương thức rủi ro nhất đối với

Trường ĐH Bách Khoa HN

phương thức thanh toán khác. Trong giao dịnh với nước ngoài, trả chậm là phương
thức thanh toán thuận lợi nếu người mua được xác định là tốt, có ghi nhận về việc
thực hiện thanh toán tốt trong suốt thời gian dài, hoặc đã được kiểm tra kỹ về khả
năng tín dụng. Với phương thức thanh toán trả chậm, người xuất khẩu đơn giản chỉ
cần lập hoá đơn cho khách hàng thoả thuận thanh toán với điều kiện trả chậm. Một
số công ty lớn ở nước ngoài chỉ mua hàng với điều kiện trả chậm.
Nhờ thu (Collection)
Thanh toán bằng phương thức nhờ thu giúp hạn chế rủi ro cho cả người bán
và người mua, người bán sớm nhận được tiền hàng, vì ngân hàng đóng vai trò trung
gian thu tiền hàng từ người mua thanh toán cho số hàng người bán đã giao. Độ rủi
ro đối với người bán cao hơn vì người bán không có sự đảm bảo thanh toán của
ngân hàng như trong phương thức tín dụng chứng từ nhưng anh ta có thể kiểm soát
hàng hóa thông qua ngân hàng nhờ thu. Người bán sẽ yêu cầu người mua thanh toán
cho hối phiếu theo một trong hai cách sau:
ƒ D/P (documents against payment): trả tiền thì giao chứng từ. Ngân
hàng nhờ thu chỉ giao chứng từ khi người mua thanh toán hối phiếu.
ƒ D/A (documents against acceptance): chấp nhận thanh toán thì giao
chứng từ. D/A có nghĩa là người xuất khẩu đã cấp tín dụng cho người
nhập khẩu. Thời hạn cho vay chính là kì hạn của hối phiếu hay còn
gọi là kì hạn trả chậm. D/A đòi hỏi người mua phải chấp nhận hối
phiếu, ví dụ kí cam kết thanh toán vào thời điểm xác định trong tương
lai. Khi người mua đã chấp nhận hối phiếu, anh ta có thể nhận chứng
từ và lấy hàng. Đối với người bán, độ rủi ro của điều kiện D/A cao
hơn điều kiện D/P. Trong điều kiện D/P, thông qua ngân hàng người
bán vẫn kiểm soát hàng hóa cho đến khi người mua thanh toán. Trong
điều kiện D/A, người mua chỉ chấp nhận hối phiếu, cam kết thanh
toán khi đến hạn, tiếp nhận chứng từ và lấy hàng.
Tín dụng chứng từ (Documentary credit)

nghĩa với khả năng phát sinh rủi ro không thu được tiền đối với người bán hàng.
Với phương thức nhờ thu hay thư tín dụng, bản thân trong đó đã có sự tham gia của
ngân hàng làm trung gian giảm bớt mức độ phụ thuộc của người bán vào khả năng
hay thiện chí thanh toán của người mua. Tuy nhiên sự cam kết hay bảo đảm của
ngân hàng chỉ thực sự có ở phương thức tín dụng chứng từ và nhờ thu D/P. Việc
bán hàng trả chậm theo hình thức ghi sổ hay D/A là những phương thức an toàn
nhất đối với người mua hay nói cách khác là hấp dẫn nhất đối với người mua. Tuy
nhiên, có nhiều rủi ro đối với việc bán hàng trả chậm như đã trình bày trên đây.
Việc thiếu các chứng từ và các kênh ngân hàng có thể gây khó khăn trong việc phải
theo đuổi việc đòi tiền. Người xuất khẩu còn có thể phải thu tiền ở nước ngoài, sẽ

Học viên: Nguyễn Minh Khuê

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status