ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
ĐÀO THỊ THU ANH
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG VIÊM ĐƢỜNG HÔ HẤP
Ở LỢN NÁI NGOẠI VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠI LỢN
CÔNG TY CP BÌNH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khoá học: 2011– 2015
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
ĐÀO THỊ THU ANH
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG VIÊM ĐƢỜNG HÔ HẤP
Ở LỢN NÁI NGOẠI VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠI LỢN
CÔNG TY CP BÌNH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI”
Hoàng Lân đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo tôi tận tình
trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại
học này.
Để góp phần cho việc thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đạt
kết quả tốt, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của gia đình
và bạn bè. Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý
báu đó.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Đào Thị Thu Anh
ii
LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện
phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất”,
thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập
của tất cả các trường đại học nói chung và Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên nói riêng.
Giai đoạn thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối
với mỗi sinh viên trước khi ra trường. Đây là thời gian giúp sinh viên củng cố,
hệ thống hóa kiến thức đã được học, bước đầu làm quen với công tác nghiên
cứu khoa học, thực tiễn sản xuất. Qua đó giúp sinh viên nâng cao trình độ
chuyên môn, nắm vững được phương pháp nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc
đúng đắn, tính sáng tạo để khi ra trường về cơ sở sản xuất, góp phần xứng
đáng vào sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp nước ta.
Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của Nhà trường, Ban chủ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Cs
Cộng sự
Kg
Kilôgam
M2
Mét vuông
Ml
Mililít
Nxb
Nhà xuất bản
%
Phần trăm
TT
Thể trọng
VTM
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................ 27
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 27
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 27
3.4.1. Phương pháp xác định tình hình mắc bệnh ........................................... 27
3.4.2. Phương pháp chẩn đoán lâm sàng. ........................................................ 28
3.4.3. Phương pháp so sánh hiệu quả điều trị bệnh viêm đường hô hấp của hai
phác đồ điều trị bệnh ....................................................................................... 28
vi
3.4.4. Các chỉ tiêu theo dõi.............................................................................. 29
3.4.5. Công thức tính toán các chỉ tiêu theo dõi.............................................. 30
3.4.6. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 30
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................... 31
4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ........................................................... 31
4.2. Kết quả thực hiện chuyên đề .................................................................... 39
4.2.1. Tình hình mắc bệnh viêm đường hô hấp ở lợn nái sinh sản tại trại lợn
CP Bình Minh, Mỹ Đức, Hà Nội .................................................................... 39
4.2.2. So sánh hiệu lực điều trị bệnh viêm đường hô hấp của hai phác đồ..... 48
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................... 50
5.1. Kết luận .................................................................................................... 50
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 1
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
nhân gây ra như: Vi khuẩn, virut, ký sinh trùng, Mycoplasma,… gây ảnh
hưởng đến chức năng hô hấp của lợn. Mặc dù, tỷ lệ chết không cao nhưng
bệnh làm giảm năng suất chăn nuôi do bệnh đường hô hấp lây lan nhanh và
tác động kéo dài đối với cơ thể lợn. Mầm bệnh tồn tại rất lâu trong cơ thể lợn
cũng như môi trường bên ngoài làm cho việc phòng trị bệnh gặp rất nhiều khó
khăn, khi lợn bị bệnh chi phí điều trị cao, thời gian và liệu trình điều trị kéo
dài. Đặc biệt với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm như ở nước ta thì bệnh
về đường hô hấp thường xuyên xảy ra phổ biến ở lợn ngoại sinh sản theo hình
thức tập trung trang trại.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Tình hình mắc hội chứng viêm đường hô hấp ở lợn nái ngoại và biện
pháp điều trị tại trại lợn công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá đươ ̣c tin
̀ h hiǹ h mắ c h ội chứng viêm đường hô hấp ở lợn nái
ngoại nuôi ta ̣i tra ̣i Chăn nuôi CP Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội.
- Đánh giá đươ ̣c hiê ̣u lực c ủa một số loại thuốc kháng sinh và hóa dược
trong điều trị bệnh.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Các kết quả nghiên cứu hội chứng viêm đường hô hấp ở lợn nái ngoại
là những tư liệu khoa học quan trọng phục vụ cho công tác phòng và trị bệnh
này tại trại lợn CP Bình Minh trong những năm tiếp theo.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Giảm bớt thiệt hại về kinh tế do hội chứng viêm đường hô hấp gây ra
ở lợn.
- Đánh giá đươ ̣c hiê ̣u lực của thuố c sử du ̣ng , có thể đư a ra các phác
đồ điề u tri ̣hiê ̣u quả h ội chứng viêm đường hô hấp từ đó áp dụng rộng rãi
trong chăn nuôi.
4
Một động tác hít vào và thở ra được gọi là một lần hít thở. Tần số hô
hấp là số lần thở/phút. Tần số hô hấp ở lợn khỏe là: 10 - 20 lần/phút. Trong
trường hợp lợn mắc bệnh hoặc gặp phải một số kích thích thì tần số hô hấp sẽ
thay đổi có khi tăng lên hoặc giảm xuống.
2.1.2. Biểu hiện lâm sàng của hội chứng viêm đường hô hấp ở lợn
2.1.2.1. Biểu hiện lâm sàng của hội chứng hô hấp ở lợn
Ho, khó thở là triệu chứng bệnh lý đặc thù của viêm đường hô hấp. Triệu
chứng này có ở mọi lứa tuổi, đặc biệt thường gặp ở lợn sau cai sữa, lợn choai và
lợn nái.
Ho là một phản xạ tống ra ngoài những vật lạ xâm nhập và gây kích
thích niêm mạc đường hô hấp như chất tiết, bụi bẩn, vi khuẩn... Cung phản xạ
ho bắt đầu từ những nốt nhạy cảm trên niêm mạc qua hệ thần kinh mê tẩu đến
trung khu ho ở hành tủy. Kích thích hầu, khí quản, cuống lưỡi, màng phổi,
niêm mạc mũi đều có thể gây ho.
Ho từng cơn do viêm thanh quản, viêm phế quản, lòng khí quản có
nhiều đờm, ho đến lúc tống hết các chất kích thích đó.
Ho mạnh, nhiều, vang thường do bệnh ở họng, ở khí quản, phế quản.
Trường hợp này tổ chức phổi ít bị tổn thương.
Ho yếu, tiếng trầm đục do tổ chức phổi bị tổn thương nặng, bị thấm
ướt, tính đàn hồi giảm, màng phổi bị dính như trong bệnh viêm phổi, viêm
màng phổi, lao, tỵ thư.
Ho ngắn hay dài chủ yếu do thanh quản quyết định. Ho vang, gọn là do
thanh quản khỏe, đóng kín. Ho kéo dài do thanh quản không đóng kín.
Ho ướt do viêm khí quản, viêm phổi, có nhiều niêm dịch.
Ho khan do viêm khí quản, viêm màng phổi, lao phổi...
Ho có biểu hiện đau gặp trong bệnh viêm màng phổi, họng thủy thũng
vùng ngực.
Ngoài ra, tần số hô hấp tăng gia súc thở khó đột ngột, chảy dịch mũi...
cũng là biểu hiện của các bệnh có liên quan tới phổi hay bệnh đường hô hấp.
6
John Carr (1997) [11], Cù Hữu Phú và cs (2002) [22], Stan Done
(2002) [24] cho biết: các hội chứng hô hấp có thể gây ra những tổn thất kinh
tế đáng kể trong ngành chăn nuôi lợn ở nhiều nước trên thế giới nói chung và
ở Việt Nam nói riêng. Trong điều kiện chăn nuôi của chúng ta hiện nay, hầu
như chưa có khu vực chăn nuôi tập trung nào có thể khống chế và loại trừ
được hoàn toàn hội chứng hô hấp. Bệnh xảy ra quanh năm, đặc biệt vào vụ hè
- thu khi điều kiện nhiệt độ và độ ẩm không khí tăng cao.
Để khống chế hội chứng hô hấp là vấn đề gặp nhiều khó khăn. Bởi hội
chứng này liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau như: Dinh dưỡng, điều kiện
chăm sóc, các yếu tố ngoại cảnh, môi trường khí hậu, các nguyên nhân do vi
khuẩn, virút, ký sinh trùng, trong đó có yếu tố được xem là nguyên nhân
nguyên phát, có yếu tố được xem là thứ phát. Hội chứng này do nhiều nguyên
nhân kết hợp với nhau hoặc tạo điều kiện cho nguyên nhân thứ phát gây bệnh.
Việc phân biệt cụ thể từng nguyên nhân rất khó khăn và chỉ có tính tương đối,
chỉ nêu lên được yếu tố nào là chính xuất hiện trước và yếu tố nào là phụ xuất
hiện sau, từ đó có biện pháp phòng trị kịp thời, hiệu quả.
Trên thực tế có nhiều nguyên nhân gây ra hội chứng hô hấp của lợn,
việc xem xét thật đầy đủ các nguyên nhân này cho đến nay chưa thật thống
nhất. Tuy nhiên đối tượng nghiên cứu là lợn nái ngoại, có một số nguyên
nhân chính sau:
2.1.2.2. Nguyên nhân gây bệnh
* Nguyên nhân do vi khuẩn
Có nhiều tác giả khi nghiên cứu về hội chứng hô hấp ở lợn đều đưa ra
kiện nhiệt độ, độ ẩm cao, thời tiết thay đổi đột ngột. Triệu chứng của bệnh
chủ yếu là con vật sốt cao, ho, khó thở, bụng hóp lại để thở, tần số hô hấp
tăng. Giai đoạn sau của bệnh: xuất hiện các nốt xuất huyết, tụ huyết ở tai,
bụng, phía trong đùi, có thể bị tiêu chảy. Thể mãn tính là thể đặc trưng thường
thấy của bệnh do vi khuẩn gây ra , bê ̣nh tić h chủ yế u ở phổ i như : viêm phổ i
với các mức đô ̣ khác nhau từ sưng đế n thủy thũng , nhục hóa hoặc gan hóa ,
nế u kế phát các loa ̣i cầ u khuẩ n có thể ta ̣o thành các ổ viêm có mủ , ổ bã đậu .
Mức đô ̣ viêm khác nhau có thể tiế n triể n của từng kỳ từng vùng hoă ̣c ở cả
trường phổ i . Màng phổi , bao tim viêm dính và o lồ ng ngực (Lê Văn Ta ̣o ,
2007) [25]
Theo Trần Văn Bình (2008) [4], lợn mắc bệnh ở thể này có biểu hiện
đang bình thường đột nhiên kêu rống lên rồi lăn ra chết, sau khi chết xác lợn
tím bầm, sùi bọt mép. Trường hợp này xảy ra khi mầm bệnh đã có sẵn ở cơ sở
chăn nuôi.
+ Vi khuẩn Bordetella brochiseptica gây bệnh viêm phổi, viêm teo mũi
lợn từ sau cai sữa đến 5 tháng tuổi (Nicolet J., 1992) [39]. Triệu chứng của
bệnh: con vật ngứa mũi, hắt hơi, chảy nước mũi. Nước mũi lúc đầu lỏng, về
sau trở nên đặc, có lẫn máu mủ; xoang mũi, xương của hàm trên bị teo, méo
mó, biến dạng, hàm dưới nhô ra, mõm nghiêng về một bên hoặc các vùng bị
8
teo lại một cách đối xứng làm cho da bị nhăn lại, con vật khó lấy thức ăn.
Bệnh có tỷ lệ chết thấp nhưng kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển của lợn
(Cù Hữu Phú, 2002) [22].
+ Vi khuẩn Haemophilus parasuis là nguyên nhân gây bệnh thể kín
(Glasser’s) và viêm phổi lợn trong giai đoạn từ sau 2 tuần đến 4 tháng tuổi
(Nicolet J., 1992) [39]. Triệu chứng chủ yếu của bệnh là con vật bị viêm các
khớp như khớp gối và khớp cổ chân, liệt do viêm khớp, khó thở. Ngoài ra, ở
thẩm xuất dịch.
Chẩn đoán bệnh có thể dựa trên quan sát các triệu chứng lâm sàng
kết hợp với các bệnh tích đặc trưng khi mổ khám. Nuôi cấy bệnh phẩm
phân lập có thể cho kết luận chính xác. Các phản ứng huyết thanh học bao
gồm phản ứng chẩn đoán kết hợp bổ thể và các xét nghiệm ELISA cũng
thường được sử dụng.
+ Vi khuẩn Streptococcus suis gây các triệu chứng bệnh rất đa dạng
bao gồm như nhiễm trùng máu cấp tính, viêm màng não, viêm đa khớp và
viêm phổi ở lợn, thường dẫn đến chết đột ngột (Đào Trọng Đạt và cs, 1996)
[6].
Lê Văn Tạo (2007) [25] cho biết để gây bệnh vi khuẩn Streptococcus
suis sau khi vào cơ thể sẽ nhân lên tại hạch hạch nhân rồi vào máu gây nhiễm
trùng huyết, nên triệu chứng đầu tiên là sốt 40,6 - 41,70C, triệu chứng thần kinh
như run rẩy, đứng không vững, liệt, dẫn đến chết. Bệnh thường xảy ra cấp tính,
gây chết lợn đột ngột. Bệnh có thể lây cho người và một số gia súc khác. Thể
bệnh viêm não, màng não thường xảy ra ở lợn con từ 1 đến 3 tuần tuổi. Thể
viêm khớp, viêm phổi thường xảy ra ở lợn con sau cai sữa và lợn trưởng
thành. Ngoài ra Streptococcus cũng là tác nhân gây bệnh đường sinh dục, sảy
thai ở lợn nái, gây viêm vú... Streptococcus suis thường xuyên cư trú ở niêm
mạc đường hô hấp trên của lợn khỏe mạnh. Mẫu bệnh phẩm thường lấy để
phân lập Streptococcus suis là dịch mũi, trong khi hạch amidan không được
sử dụng vì thường tạp nhiễm và có mặt nhiều loại vi khuẩn khác. Trịnh Phú
Ngọc (2002) [18] cho biết vi khuẩn Streptococcus suis phân lập được mẫn
10
cảm với penicilin và trong thực tế, khi sử dụng penicilin kết hợp
dexamethasone điều trị bệnh do Streptococcus suis gây ra ở lợn, điều trị từng
cá thể kết hợp với chăm sóc và nuôi dưỡng tốt có thể khỏi bệnh hoàn toàn.
trong các thùy phổi. Bệnh tích viêm, tụ huyết ở phổi thường có màu đỏ hồng,
có thể phát hiện dễ dàng. Tuy nhiên, kiểm tra bệnh tích của phổi ở lò sát sinh
không cho phép xác định chính xác về thời gian lúc bắt đầu nhiễm bệnh ở
trong đàn.
Việc phân lập mầm bệnh thường khó thực hiện đối với Mycoplasma
hyopneumoniae, nên phương pháp nuôi cấy ít khi được sử dụng phổ biến như
một xét nghiệm chẩn đoán. Phương pháp chẩn đoán phổ biến hiện nay dùng
phản ứng miễn dịch huỳnh quang, với bệnh phẩm là tổ chức mô phổi lợn nghi
mắc bệnh. Hoặc sử dụng phản ứng kết hợp bổ thể hay kỹ thuật ELISA.
* Nguyên nhân do virus
+ Nguyên nhân do virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp
Theo Stan Done (2002) [24]: Các virus gây bệnh cho lợn thường xuyên
nhất là virus gây bệnh cúm lợn (Swine Influenza) và virus gây hội chứng rối
loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory
Syndrome - PRRS). Ngoài ra còn có một loại virus khác nữa là PCV2
(Porcine circo virút type 2).
Kết quả nghiên cứu của Benfield (1992) [29], Li (2006) [38] cho thấy
virus PRRS có quan hệ gần gũi về mặt sinh học, cấu trúc và di truyền với
virus gây viêm động mạch truyền nhiễm ở ngựa, virus LDV ở chuột và virus
SHF ở khỉ. Dựa vào các đặc điểm đó mà người ta đưa 4 virus vào một nhóm
mới, các Arteri virus.
Đây là loại virus ARN, có vỏ bọc và cũng có khả năng sinh sản trên các
tế bào đơn nhân và tế bào đại thực bào, và có khả năng đi qua nhau thai để
gây bệnh cho bào thai.
12
Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện lần đầu vào năm 1997 trên đàn lợn
nhập từ Mỹ (10/51 con có huyết thanh dương tính). Kể từ đầu năm 2007 đến
sinh ra yếu, tai chuyển màu xanh, khoảng dưới 5% và duy trì trong vài giờ.
Pha cấp tính kéo dài trong đàn tới 6 tuần, điển hình là đẻ non, tăng tỷ lệ thai
chết hoặc yếu, tăng số thai gỗ, chết lưu trong giai đoạn 3 tuần cuối trước khi
sinh, ở một vài đàn có thể tới 30% số lợn con được sinh ra. Tỷ lệ chết ở đàn
con có thể tới 70% ở tuần thứ 3 - 4 sau khi xuất hiện triệu chứng. Rối loạn
sinh sản có thể kéo dài 4 - 8 tháng trước khi trở lại bình thường. Ảnh hưởng
lâu dài của PRRS tới việc sinh sản rất khó đánh giá, đặc biệt với những đàn
tăng số lần phối giống lại hoặc sảy thai. Ảnh hưởng của PRRS tới sản xuất
như sau: tỷ lệ sinh giảm 10 - 15%, giảm số lượng con sống sót sau sinh, tăng
lượng con chết khi sinh, lợn hậu bị có khả năng sinh sản kém, đẻ sớm, tăng tỷ
lệ sảy thai, chiếm 2 -3%, lợn mẹ bỏ ăn giai đoạn sinh con .
- Lợn đực: sốt trong thời gian ngắn, kém ăn, hôn mê và có triệu chứng
lâm sàng ở đường hô hấp. Lợn đực giống mắc PRRS sẽ không còn sinh lực và
tinh trùng kém chất lượng.
- Lợn con theo mẹ: hầu như lợn con sinh ra chết sau vài giờ. Nếu sống
sót sẽ tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh, một số tiếp tục sống đến lúc
cai sữa nhưng có thể có triệu chứng khó thở và tiêu chảy. Tỷ lệ chết trước khi
cai sữa từ 10 - 40%. Triệu chứng chủ yếu: lợn ủ rũ, gầy còm do bị đói, chân
cong, thở nhanh; sưng mí mắt và kết mạc, đôi khi người ta cho đây là triệu
chứng mang tính chẩn đoán đối với lợn con dưới 3 tuần tuổi mắc hội chứng
PRRS; lợn con đôi khi ỉa chảy, khi được điều trị bằng kháng sinh không cho
thấy hiệu quả.
- Ở lợn choai, lợn thịt: lợn mắc bệnh sốt cao 400C đến 420C, bỏ ăn, ủ
rũ, khó thở, ho; những phần da mỏng gần tai, phần da bụng lúc đầu có màu
hồng nhạt, dần dần chuyển sang màu hồng thẫm và xanh nhạt. Lợn con mới
sinh hầu như sẽ chết sau vài giờ; số còn sống sót tiếp tục chết vào tuần thứ
14
Trong các đàn mắc bệnh mãn tính triệu chứng có thể nhẹ hơn, cũng
không phải mọi triệu chứng đều được biểu hiện. Virus đôi khi phân lập được
từ những lợn không có triệu chứng bệnh hô hấp. Kháng thể thụ động từ mẹ có
thể bảo hộ lợn con tới 12 tuần tuổi, dẫn đến hiện tượng lợn mắc bệnh nhưng
không biểu hiện lâm sàng này, các triệu chứng lâm sàng đôi khi biểu hiện khi
lợn đã được 12 - 24 tháng tuổi.
Virus lây lan qua tiếp xúc trực tiếp, qua bụi khí hoặc những hạt nước
nhỏ. Nó không tồn tại lâu trong môi trường. Virus dễ bị vô hoạt nhưng tồn tại
lâu trong điều kiện lạnh. Chim có thể mang trùng.
Qua mổ khám thấy những vùng tụ huyết có ranh giới ở thùy đỉnh, thùy
tim và có thể ở các thùy khác của phổi. Chất nhầy và dịch rỉ viêm thấy ở phế
quản. Chẩn đoán lâm sàng các ổ dịch cổ điển được đơn giản hóa nhờ đặc tính
lây lan nhanh của bệnh đường hô hấp. Bệnh mãn tính khó xác định hơn. Hiệu
giá kháng thể tăng lên trong các mẫu huyết thanh cần được xem là nghi ngờ.
Phản ứng HI thường được sử dụng, nhưng các phản ứng ELISA có vai trò
quan trọng để xác định bệnh.
+ Rối loạn hô hấp do Coronavirus (Porcine Respiratory Corona virus).
Corona virus hô hấp của lợn có thể được xác định bằng một số phản
ứng huyết thanh học từ các trường hợp nghi ngờ. Virus có thể gây viêm phổi
biểu hiện: sốt, ho, mệt mỏi và chết. Tuy nhiên, bệnh cũng có thể xuất hiện ở
dạng cận lâm sàng.
* Nguyên nhân do ký sinh trùng
Theo Corwin và cs (1992) [33], một trong những nguyên nhân gây
bệnh ở đường hô hấp là do giun phổi lợn Metastrongylus gây bệnh khi ký sinh
ở khí quản và nhánh phế quản của lợn. Triệu chứng: lợn bệnh gầy còm, suy
dinh dưỡng, hiện tượng ho rõ nhất vào sáng sớm và buổi tối. Giai đoạn đầu
con vật vẫn ăn uống bình thường nhưng gầy dần, giai đoạn sau ăn ít, khó thở
và chết.
17
- Phòng bệnh bằng vệ sinh thú y
Thực hiện vệ sinh chuồng trại và môi trường chăn nuôi lợn. Đảm bào
chuồng trại kín, ấm vào mùa đông và thoáng mát, khô sạch vào mùa hè, mật
độ nuôi nhốt vừa phải.
Phòng trừ tổng hợp là biện pháp quan trọng nhất gồm: Vệ sinh, tiêu độc
chuồng trại thường xuyên, định kỳ phun thuốc sát trùng: kiểm soát nồng độ
NH3, CO2 trong chuồng nuôi.
Nên tự túc về con giống, nếu nhập giống từ bên ngoài thì nên mua
giống từ những vùng an toàn dịch. Lợn mua về phải nhốt riêng để theo dõi ít
nhất một tháng, nếu không có triệu trứng ho, khó thở thì mới nhập đàn. Đối
với đực giống, cần phải chặt chẽ hơn: kiểm tra lại lai lịch, nguồn gốc, nhốt
riêng ít nhất hai tháng, hàng ngày theo dõi triệu chứng hô hấp sao cho đảm
bảo mới đưa vào sử dụng.
- Phòng bệnh bằng vaccine:
Vaccine dựa trên cơ sở các vi sinh vật có tính gây bệnh nhưng
không có tác động có hại. Điều này đạt được bằng các biến đổi vi sinh vật
đó theo một số cách nên khi gây nhiễm vào cơ thể sẽ kích thích đáp ứng
miễn dịch tế bào hoặc miễn dịch dịch thể nhưng không gây ra hậu quả
bệnh lý do vi sinh vật đó.
Vaccine vô hoạt: Loại vaccine này dựa trên các vi sinh vật đã bị diệt
bằng hóa chất, nhiệt độ hay tia xạ. Nói chung, các vaccine vô hoạt an toàn
nhưng có nhược điểm là kích thích đáp ứng miễn dich tương đối yếu nên phải
định kỳ tiêm nhắc lại để tạo miễn dịch chắc chắn.
Vaccine nhược độc: Vaccine này dựa trên các vi sinh vật sống đã được
biến đổi nên khi gây nhiễm vào cơ thể gia súc sẽ tạo ra các đáp ứng miễn dịch
nhưng không gây được bệnh, hay cùng lắm là bệnh nhẹ (chỉ là phản ứng đáp