LỜI MỞ ĐẦU
Từ trước đến nay, nền kinh tế nước ta luôn luôn có những đóng góp không
nhỏ của các sản phẩm từ tài nguyên nước và khoáng sản. Cũng chính vì những lợi
ích kinh tế từ những sản phẩm này đem lại nên chúng đã trở thành một vấn đề cần
quan tâm và sát sao hơn trong việc quản lý và khai thác, sử dụng. Các nhà làm luật
cũng đã hiện thực hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý về lĩnh vực
này. Và mới đây là Nghị định số 142/2013/NĐ-CP quy định về “xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản”.
Tuy nhiên, sau một thời gian ban hành và được thực thi trong đời sống, các
nhà làm luật nhận thấy những quy định trong nghị định trên đã không còn phù hợp
với thực tiễn hoạt động và không mấy hiệu quả, Bộ tài nguyên và môi trường đã
đưa ra một dự thảo mới thay thế cho Nghị định số 142/2013 vào năm 2016 và đang
cho lấy ý kiến của nhân dân quy định về “xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực tài nguyên nước và khoáng sản” vào năm 2016. Để xem xét và đưa ra những ý
kiến của nhóm về dự thảo này, nhóm em xin đi sâu và phân tích liệu việc sửa đổi
trên là cần thiết hay không ?
1
NỘI DUNG
I- Cơ sở lý luận :
1. Các khái niệm :
Tài nguyên nước là nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể
được dùng vào những mục đích khác phục vụ nhu cầu cuộc sống.
Khoáng sản là thành tạo khoáng vật của lớp vỏ Trái Đất, chúng được
sử dụng có hiệu quả và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất.
2 loại tài nguyên trên là 2 loại tài nguyên rất quan trọng với nền kinh
tế của các quốc gia, đặc biệt với nước ta- là một quốc gia giàu tài nguyên thiên
nhiên.
2. Những quy định của pháp luật :
nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến
700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng... cao gấp nhiều lần giới hạn
cho phép.Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến
84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã
gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư.
Cùng với sự ra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng
nghề thủ công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Việc phát
triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và
giải quyết việc làm ở các địa phương. Tuy nhiên, hậu quả về ô nhiễm nguồn nước
do các hoạt động sản xuất đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng. Tình trạng ô
3
nhiễm nước, chủ yếu là do nhiên liệu là than, lượng bụi và khí độc thải ra trong quá
trình sản xuất khá cao, gắt và quan trọng nhất là ý thức của các thợ thủ công chưa
cao.
Không chỉ các khu công nghiệp tập trung hay tại các làng nghề, nước
ô nhiễm cũng chính là bài toán khó giải tại các khu đô thị lớn. Những năm gần đây,
dân số ở các đô thị tăng nhanh khiến hệ thống cấp thoát nước không đáp ứng nổi
và xuống cấp nhanh chóng. Nước thải, rác thải sinh hoạt (vô cơ và hữu cơ) ở đô thị
hầu hết đều trực tiếp vứt ra sông, hồ mà không có bất kỳ một biện pháp xử lí môi
trường nào nào ngoài việc vận chuyển đến bãi chôn lấp. Mỗi ngày người dân ở các
thành phố lớn thải ra hàng nghìn tấn rác; các cơ sở sản xuất thải ra hàng trăm nghìn
mét khối nước thải độc hại; các phương tiện giao thông thải ra hàng trăm tấn bụi,
khí độc.
Việc sử dụng khai thác vô ý thức và không có quy hoạch làm cho mực
nước so với mặt đất bị hạ thấp. Đây là hiện tượng rất phổ biến tại các khu vực
đồng bằng Bắc bộ hay đồng bằng Sông Cửu Long.Tại các thành phố lớn như Hà
Nội, Thành phố Hồ Chính Minh... lượng nước thải sinh hoạt rơi vào tầm 600.000
mét khối mỗi ngày với khoảng 250 tấn rác, còn nước thải công nghiệp thì chỉ được
hành Nghị định 142/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản. Tuy nhiên, qua hơn 3 năm triển khai
thực hiện, một số nội dung không còn phù hợp. Bên cạnh đó, nhiều văn bản quy
phạm pháp luật về tài nguyên nước, khoáng sản đã được xây dựng, sửa đổi, bổ
5
sung. Do đó, cần phải sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Nghị định số
142/2013/NĐ-CP cho phù hợp với các hành vi quy định tại các văn bản quy phạm
pháp luật về tài nguyên nước và khoáng sản.
Cụ thể, những quy định của nghị định 142/2013 đã không còn hiệu quả với
thực trạng hiện nay khi không còn tính răn đe nghiêm khắc và quy định chi tiết cho
từng hành vi. Do đó, các cán bộ thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường đã có những
điểm mới trong dự thảo lần này.
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã dự thảo Nghị định gồm 5 chương, 61 điều.
Bên cạnh những quy định chung, dự thảo đã nêu rõ quy định cụ thể về: Hành vi vi
phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước, hình thức xử phạt, mức phạt và
biện pháp khắc phục hậu quả; hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng
sản, hình thức xử phạt, mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả; thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực
tài nguyên nước và khoáng sản. Cụ thể như sau :
- Về nhóm quy định chung và thẩm quyền, cần bổ sung các vi phạm hành
chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản trong phạm vi điều
chỉnh; giữ nguyên 2 hình thức xử phạt như Nghị định 142/2013/NĐ-CP
là cảnh cáo và phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép sẽ chuyển sang
hình thức xử phạt bổ sung đi kèm hình thức xử phạt chính; phân định rõ
thẩm quyền xử phạt của các lực lượng theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng
Chính phủ…
- Sửa đổi, bổ sung các hành vi theo Nghị định thay thế Nghị định
15/2012/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Khoáng sản, đồng
7
Không chỉ được đưa vào đạo luật cao nhất của đất nước, các vấn đề về việc
bảo vệ và sử dụng tài nguyên thiên nhiên cũng đã được triển khai đồng bộ và sát
sao quán triệt tại các cuộc họp, và cụ thể bằng các văn bản, các chỉ thị của Bộ tài
nguyên và môi trường ban hành. Đảng và Chính Phủ luôn nêu cao chủ trương :
“tăng cường quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản. Kiểm soát chặt
chẽ các nguồn gây ô nhiễm môi trường, nhất là tại các làng nghề, khu, cụm công
nghiệp, lưu vực sông, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm nặng. Kiên quyết xử
lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Chủ động ứng phó với biến đổi
khí hậu, phòng tránh thiên tai. Phát triển ngành tài nguyên và môi trường trên cơ
sở đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đồng bộ với thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm đảm bảo phát triển bền
vững, đồng thời gia tăng đóng góp của ngành cho ngân sách nhà nước.”
KẾT LUẬN
8
Với những tìm hiểu và đánh giá ở trên, nhóm em khẳng định rằng việc sửa
đổi lại các quy định tại Nghị định 142/2013/NĐ-CP quy định về “xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản” là cần thiết và hợp lý
vào thời điểm mà tài nguyên nước ta đang bị sử dụng và khai thác một cách lãng
phí và các cá nhân, tổ chức có liên quan không thực hiện đúng chủ trương, đường
lối của Nhà nước và cần phải có những chế tài thật chặt chẽ đối với họ.
MỤC LỤC