TIỂU LUẬN
CHUYÊN ĐỀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA
TRẺ MẦM NON
ĐỀ TÀI:“NỘI
DUNG PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO
TIẾP CỦA TRẺ NHÀ TRẺ. THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG
CỤ THỂ ĐỂ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA
TRẺ NHÀ TRẺ”
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2016
1
I.
Ý nghĩa:
Trong năm đầu tiên chào đời, rất nhiều điều kỳ diệu mang tính chuyển
biến quyết định xảy ra ở trẻ em như trẻ tăng gấp 3 cân nặng so với khi
mới sinh, trẻ chuyển từ lẫy, bò sang đi đứng, chạy nhảy, từ bập bẹ sang
nói, hát. Điều ngạc nhiên là trẻ sớm có thể hiểu được ngôn ngữ trước khi
trẻ học nói: đến tháng thứ 6 là trẻ có thể ý thức về tên gọi cũng như bản
thân là một cá nhân độc lập. Sự phát triển của khả năng ngôn ngữ song
hành với sự phát triển của các mối quan hệ xã hội. Não bộ là nơi tiếp
nhận, hình thành ngôn ngữ, và trẻ em ở bất cứ nơi đâu trên thế giới cũng
đều tiếp thu ngôn ngữ theo cùng một cơ chế như nhau, sự phát triển của
kỹ năng này lại là tiền đề cho sự phát triển của kỹ năng kia: như kỹ năng
xã hội và cảm xúc phát triển cùng với sự vận động, kỹ năng giao tiếp hoàn
Lý luận:
1. Giao tiếp là gì?
Giao tiếp là một hoạt động rất phức tạp, là đối tượng nghiên cứu của
nhiều khoa học. Ở Mỗi góc độ khác nhau, người ta đưa ra định nghĩa khác
về giao tiếp.
Giao tiếp là quá trình chuyển giao, tiếp nhận và xử lí thông thông giữa
người này với người khác.
Giao tiếp là quá trình nhận thức lẫn nhau:
Trong quá trình giao tiếp, con người không chỉ trao đổi thông tin cho nhau
mà còn nhận thức về nhau.. Tùy theo sự nhân xét, đánh giá về nhau như thế
nào mà quyết định thiết lập các mối quan hệ với nhau. Có thể là mối quan hệ
xã giao, quan hệ bạn bè, quan hệ làm ăn,...
Giao tiếp là quá trình tác động và ảnh hưởng lẫn nhau:
Quá trình giao tiếp không thể tồn tại bên ngoài hoạt động, mà quá trình hoạt
động được tổ chức trong các nhóm. Như vậy, quá trình hoạt động chung của
nhóm chính là nguyên nhân của sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các
thành viên. Sự có mặt và tham gia đồng thời của nhiều người vào hoạt động
chung đòi hỏi mỗi người phải có những đóng góp nhất định vào việc thực
hiện hoạt động này. Điều này cho phép giải thích sự tác động và ảnh hưởng
lẫn nhau như là việc tổ chứ hoạt động chung. Vì vậy, trong giao tiếp con
người không chỉ trao đổi thông tin và thông qua đó thay đổi hành vi của
người khác, mà còn tổ chức các hành động cho phép cả nhóm thực hiện một
Các kỹ năng giao tiếp cơ bản:
Kỹ năng định hướng giao tiếp:
Kĩ năng này được biểu hiện ở khả năng dựa vào các biểu lộ bên ngoài như:
3.
sắc thái, giọng nói, ánh mắt,điệu bộ, động tác,... mà phán đoán tương đối
chính xác về diễn biến tâm lí đối tượng, từ đó đinh hướng cho mối quan hệ
tiếp theo. Kĩ năng định hướng bao gồm:
4
º
Kĩ năng tri giác là dựa vào tri giác để nhận biết đầy đủ các biểu hiện bên
ngoài của đối tượng giao tiếp (kĩ năng đọc trên nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời
nói).
Kĩ năng chuyển từ tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất bên trong của
nhân cách là khả năng căn cứ vào những dấu hiệu bên ngoài phán đoán tâm
lí bên trong như động cơ, nhu cầu, cá tính của đối tượng giao tiếp.
Người có kĩ năng định hướng giao tiếp là người có khả năng quan sát tốt,
tích lũy nhiều kinh nghiệm trong quá trình sống, tham khảo kinh nghiệm dân
gian về nhân tướng học, tri giác tinh tế, nhạy bén các trạng thái tâm lí qua
nét mặt, cử chỉ, ngữ điệu của lời nói mà phát hiện tương đối chính xác và
đầy đủ thái độ, tâm trạng của đối phương. Ngôn ngữ diễn tả tình cảm hay
còn gọi là ngôn ngữ biểu cảm rất phong phú. Nó thể hiện tính cách, trí tuệ,
tình cảm, ý chí của con người. Tính chủ dộng hay thụ động, chân thành hay
giả dối, tin tưởng hay hoài nghi, vui vẻ hay buồn bực, thoải mái hay gò ép,
Người có thông tin nhiều và có vị thế cao hơn thì ngôn ngữ sẽ tùy theo tác
phong lãnh đạo mà có Sắc thái riêng, có thể là nhẹ nhàng, ít tính mệnh lệnh,
º
có tác phong dân chủ,…
Người có thông tin ít và vị thế thấp sẽ khép nép, bị động, e ngại, ngôn ngữ
trong quá trinh giao tiếp thường mang tính chất từ tốn,…
Kỷ năng định vị còn thể hiện ở chổ biết xác năng định đúng không gian và
thời gian giao tiếp: chọn thời điểm mở đầu, dừng, tiếp tục và kết thúc quá
trình giao tiếp; khoảng cách giữa mọi người trong quá trình giao tiếp không
phải là ngẩu nhiên mà thường được xác định bởi mục đích, nội dung giao
tiếp và nói lên mức độ thân tình của chủ thể và đối tượng giao tiếp.
Rèn luyện các kỷ năng định vị bằng cách rèn luyện tính chủ động và điều tiết
các đặc điểm tâm lý vốn có của bản thân và của đối tượng giao tiếp.
Kỹ năng điều khiển trong giao tiếp:
Nhóm kĩ năng này biểu hiện ở chỗ biết thu hút người cùng giao tiếp và biết
tìm ra đề tài giao tiếp, duy trì đề tài, xác định được nguyện vọng, hứng thú của
người cùng giao tiếp. Nhóm kĩ năng này bao gồm:
Kĩ năng làm chủ trạng thái cảm xúc của bản thân: biết tự kiềm chế, che giấu
được tâm trạng khi cần thiết, biết điều chỉnh và điều khiển diễn biến tâm lí
của mình trong những trường hợp nhất định đảm bảo cho sự giao tiếp có
hiệu quả.
Kĩ năng mở đầu sự giao tiếp: cần phải biết tâm trạng của mình, tìm hiểu nhu
cầu hứng thú của người cùng giao tiếp. Cần phải nói gì, làm gì để thu hút
người cùng giao tiếp để bắt đầu cuộc giao tiếp sao cho thoải mái. Cần thể
tiếp. khi nhận thấy mục đích giao tiếp đã đạt được cần khéo léo chuyển lên
thật hào hứng, sôi nổi trước lúc tạm biệt. Điều đó sẽ để lại cho đối tượng
cảm giác tiếc nuối phải chia tay. Lúc chia tay nên thể hiện mong muốn rõ
ràng rằng mong sớm gặp lại đối tượng cũng như thái độ vui thích của mình.
Ví dụ: bắt tay thật chặt nói câu (nhờ có anh tôi có được giây phút vui vẻ).
4. Vai trò của giao tiếp với sự phát triển tâm lý của trẻ:
Ngay từ khi bé chào đời, thì giao tiếp đã là một kỹ năng quan trọng giúp bé
tồn tại và phát triển, bé giao tiếp qua ánh mắt, qua các cử động của tay chân
và đặc biệt là qua tiếng khóc,… Một người mẹ có sự quan tâm và gần gũi
7
con chắc chắn sẽ hiểu khi nào bé khóc vì đói, khi nào bé khóc vì đau, vì sợ
và cả vì nhõng nhẽo nữa !
Trẻ hài nhi luôn có nhu cầu giao tiếp cảm xúc vời người lớn. trẻ vui mừng
khi được giao tiếp với người lớn, cùng với sự giao tiếp trực tiếp của người
lớn trẻ xuất hiện nhu cầu sờ mó, cầm nắm các đồ vật từ đó giao tiếp trực tiếp
sẽ chuyển sang nhu cầu giao tiếp với đồ vật lúc này người lớn là khâu trung
gian là người hướng dẫn trẻ chơi giao tiếp vời đồ vật hoạt động với đồ vật
đơn giản.
Khi biết nói ở lứa tuổi lên 3, thì bé bắt đầu sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp,
đồng thời với khả năng bộc lộ cảm xúc thông qua giao tiếp phi ngôn ngữ qua
ánh mắt với những nét mặt và các dấu hiệu của cơ thể, nếu được đáp ứng
đầy đủ sẽ giúp cho bé hình thành sự tự tin vào bản thân cũng như xây dựng
những mối tương giao với mọi người xung quanh.
Nhờ quá trình giao tiếp người lớn luôn hướng dẫn uống nắn hành vi của trẻ
như nụ cười hay lời khen tỏ vẽ hài lòng hoặc vẻ mặt câu có cái lắc đầu của
người lớn đứa trẻ có thể nhận ra hành vi của mình đúng hay không đúng vì
vậy dần hình thành ở trẻ những thói quen tốt và giúp trẻ học cách cư sử đúng
đắn. cũng chính nhờ giao tiếp phương tiện ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển.
º
thích không”,…vừa giúp cho sự giao tiếp vừa giúp bé gia tăng vốn từ vựng.
Tuy nhiên, không phải cứ nói nhiều, nói hoài với trẻ là tốt, mà nhiều khi một
bà mẹ nói chuyện quá nhiều với con, nói những câu dài và trả lời luôn cho
con khiến trẻ chỉ biết gật gù , lại là một trong những nguyên nhân gây ra sự
thụ động hay chậm nói cho trẻ.
5. Nội dung phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ nhà trẻ:
Phát triển nhu cầu giao tiếp:
Tiếp tục phát triển nhu cầu giao tiếp xúc cảm với người lớn:
Giao tiếp cảm xúc trực tiếp với người lớn là một nhu cầu bức thiết của trẻ. Sở dĩ
có nhu cầu này là do yêu cầu khách quan của cuộc sống, trẻ em cần phải được
chăm sóc thường xuyên của người lớn mới thoả mãn được những yêu cầu của cơ
thể, mặt khác cũng lại do cư xử của người lớn, đã khơi gợi ở trẻ những xúc cảm
ban đầu.Trẻ mong được người lớn khen ngợi, âu yếm, rất sợ người lớn không
bằng lòng. Ở trẻ cũng xuất hiện tình cảm xấu hổ khi bị chê trách.
Giao tiếp trực tiếp với người lớn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển tâm lý
của trẻ. Đặc biệt là về mặt xúc cảm.
Từ nhu cầu tiếp xúc da thịt với người lớn đến giao tiếp thực sự với người lớn,
khi mà trẻ đã có những phương thức giao tiếp là một bước phát triển rõ rệt từ
tuổi sơ sinh đến tuổi hài nhi. Trong giao tiếp với người lớn, trẻ tiếp nhận được
những sắc thái xúc cảm khác nhau của người lớn, rồi dần dần trẻ cũng thể hiện
được những xúc cảm khác nhau của mình.
Nhu cầu giao tiếp xúc cảm có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của trẻ. Đến
tuổi ấu nhi, nhu cầu này tiếp tục được phát triển.
9
của người lớn và hình thành ngôn ngữ tích cực riêng của đứa trẻ.
Trong khi hoạt động với đồ vật, trẻ thường gặp những tình huống cụ thể trong
đó các đồ vật và các hành động với đồ vật chưa thể tách rời nhau. Vì vậy trẻ
1
0
không thể lĩnh hội các từ biểu đạt đồ vật riêng, hành động riêng mà chỉ có thể
lĩnh hội ngôn ngữ biểu đạt cả tình huống trọn vẹn ấy.
Ví dụ: Trẻ chỉ hiểu lời nói "đánh trống" khi thấy một người đang đánh trống.
Điều quan trọng khi lĩnh hội những hành động sử dụng đồ vật trẻ lĩnh hội
những qui tắc hành vi trong xã hội. Đồ chơi đối với trẻ rất cần thiết giúp trẻ
khám phá chức năng và phương thức sử dụng,tuy nhiên người lớn cần mạnh dạn
cho trẻ tiếp xúc vật thật và đồ chơi có nhiều thao tác nhằm kích thích trẻ hành
động. Trẻ 1 - 1.5 tuổi, có nhu cầu giúp đỡ trong hoạt động với đồ vật.
Sự tiếp xúc thế giới xung quanh càng rộng thì phương thức hành động với đồ
vật càng phong phú,trong đó những hành động thiết lập các mối tương quan và
những hành động công cụ là hoạt động có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển
của trẻ. Trẻ muốn và yêu cầu người lớn cùng trẻ tham gia hoạt động với đồ vật.
Người lớn cần giúp trẻ nói rõ ràng và yêu cầu trẻ trình bày rõ ý muốn của mình
bằng lời theo khả năng của nó.
Trẻ hướng đến sự cộng tác với người lớn.
Ví dụ: Thấy mẹ lau nhà, trẻ cũng muốn và bắt chước lau nhà.
Thấy chị nhặt rau, trẻ cũng làm theo.
Thông qua đó, trẻ phát triển nhận thức, ngôn ngữ, thể chất, khả năng tự phục
vụ,...
Người lớn có thể giúp trẻ phát triển giao tiếp bằng cách:
º
Tổ chức cho trẻ chơi với các đồ chơi, hướng dẫn cho trẻ cách chơi bằng
hành động cụ thể, kèm theo những lời nói ngắn gọn, rõ ràng; tạo điều kiện
xuyên đặt các câu hỏi và câu trả lời rõ ràng, ngắn gọn để trẻ bắt chước học theo.
Sau 1.5 tuổi, sự hiểu biết của trẻ tiến bộ rõ rệt, trẻ chủ động hơn trong giao
tiếp với người lớn, thể hiện rõ nhu cầu nhận thức.
2 tuổi, lúc này ngôn ngữ của bé phát triển đến 70% khả năng và số từ vựng để
dùng trong cả đời. Bé có thể hiểu các câu phức, nắm được ngôn ngữ sơ bộ và
ngày càng tích cực phát âm. Bé còn rất thích bắt chước những câu nói có âm
điệu như: “đồng nát ơ”, “phớ ơ”,... nghe rất ngộ nghĩnh. Trẻ chủ động giao tiếp
và mong nhận được câu trả lời. Nghe và thực hiện các yêu cầu bằng lời nói.
Nghe các câu hỏi “Cái gì?”, “Làm gì?”, “Ở đâu?”, “Như thế nào?”. Trả lời và
đặt các câu hỏi “Cái gì?”, “Làm gì?”, “Ở đâu?”, “Như thế nào?”, “Để làm gì?”,
“Tại sao?”. thể hiện nhu cầu, mong muốn và hiểu biết bằng 1 - 2 câu đơn giản
và câu dài. Hiểu được những đặc điểm tâm lí đó, người lớn cần phải giúp trẻ
phát triển nhu cầu giao tiếp nhận thức dựa trên những gì trẻ có.
Ví dụ: giáo viên tập cho trẻ đặt câu hỏi “ Cô đang cầm vật này trên tay, nếu các
con muốn biết đây là gì thì các con phải hỏi cô như thế nào đây?”, “Bạn Hoa
đang làm gì thế kia, con lại hỏi bạn xem?”.
Tập cho trẻ thói quen không biết thì phải hỏi.
Phát triển kĩ năng nghe - nhìn:
Tiếp tục rèn luyện kĩ năng nghe và hiểu ngôn ngữ cho trẻ:
Để luyện khả năng nghe hiểu cho trẻ, chúng ta có thể yêu cầu trẻ thực hiện yêu
cầu bằng lời nói của người lớn. Tùy theo độ tuổi mà chúng ta có thể có số lượng
yêu cầu phù hợp.
Ví dụ: Đối với trẻ 2,3 tuổi, người lớn có thể yêu cầu trẻ thực hiện từng yêu cầu
một: con hãy đi dép vào, con đi rửa tay đi...
Khi trò chuyện với trẻ, người lớn nên sử dụng các từ chỉ đồ vật, con vật, đặc
điểm, hành động quen thuộc, cung cấp cho trẻ thêm vốn từ mới, giúp trẻ mở
1
2
thích khám phá đồ dùng - đồ chơi, các hành động thử - sai xuất hiện giúp trẻ
1
3
khám phá chức năng - công dụng của đồ vật và biết làm lần lượt trong hoạt động
với đồ vật cùng người lớn.
Ví dụ: Trẻ chăm chú quan sát người lớn chơi xong đồ chơi, trẻ bắt chước làm
theo.
Nhờ người lớn hướng dẫn và các hành động thử - sai của trẻ đã giúp trẻ biết
xếp chồng các khối gỗ vuông lên nhau lần lượt từ to nhất đến nhỏ nhất, hay trẻ
lắp được vòng tròn vào trụ gỗ lần lượt từ lớn đến nhỏ.
Trẻ thực hiện được một số quy định đơn giản trong sinh hoạt ở nhóm, lớp: xếp
hàng chờ đến lượt, để đồ chơi vào nơi quy định.
Tập thực hiện lần lượt trong hội thoại với người lớn:
Người lớn cần làm gương cho trẻ bắt chước. Người lớn nói chuyện, người này
nói phải có người khác nghe, không nên ngắt lời đối phương khi giao tiếp. Hơn
2.5 tuổi, trẻ thường đặt ra những câu hỏi nói lên những thắc mắc, suy nghĩ của
mình mà không cần phải chờ đợi câu trả lời, người lớn cần giáo dục trẻ khi hỏi
phải nhận được câu trả lời rồi mới hỏi tiếp; tập cho trẻ thói quen không cướp lời
và nói leo khi người khác nói.
Giáo dục và phát triển kĩ năng sử dụng phương tiện giao tiếp:
Rèn kĩ năng sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ trong giao tiếp với người
lớn và với bạn:
Người lớn thường xuyên sử dụng phi ngôn ngữ để giao tiếp với trẻ giúp trẻ phát
triển khả năng hiểu và sử dụng phi ngôn ngữ để diễn đạt thay lời nói.
Ví dụ: bằng cử chỉ, nét mặt, giọng nói và tình huống giao tiếp, người mẹ yêu cầu
trẻ chỉ đầu, mắt, mũi,... và trẻ chỉ đúng.
Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp với người lớn và với
- Trẻ rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp với người lớn.
Nội dung:
Cô trò chuyện về các bộ phận trên khuôn mặt trong tranh, từ đó áp dụng
trên khuôn mặt trẻ. Thông qua lời nói và hạnh động cụ thể đi kèm của cô,
giúp trẻ rèn luyện kĩ năng nghe - hiểu.
Sau khi đặt câu hỏi, cô cho trẻ khoảng thời gian suy nghĩ để trả lời. Cô
nhấn mạnh lại câu trả lời đúng và đầy đủ tập cho trẻ thói quen thực hiện
lần lượt trong hội thoại với người lớn, đồng thời giúp trẻ phát triển nhu
cầu giao tiếp nhận thức bởi vì cô đã kích thích và tạo điều kiện cho trẻ
biết cách hỏi và trả lời; rèn luyện kĩ năng sử sụng ngôn ngữ trong giao
III.
tiếp với người lớn.
Cách tiến hành:
Hoạt động của cô
* “Các con ơi, lại đây với cô nào!”, cô lắc lục lạp
gây chú ý đến trẻ.
Hoạt động của trẻ
Trẻ bị thu hút bởi âm
thanh của lục lạp và lại
gần cô.
Cô đem chiếc hộp bí mật ra gây tò mò đến trẻ và
Trẻ nhìn chiếc hộp và chú
cho trẻ đoán xem bên trong có gì? À! đây là những ý cô
bức tranh, chúng ta cùng xem trong tranh này có gì
nha!
-“Cái gì đây?”, cô chỉ tay vào đôi mắt trong tranh Trẻ trả lời
hỏi trẻ.
+ Bịch tai lại nào? Các con còn nghe thấy tiếng gì
không?
+ Tai dùng để làm gì vậy các con?(nghe những âm
thanh xung quanh)
+ Chúng ta làm gì để bảo vệ tai? (không bỏ đồ vật
hoặc nước vào tai, không hét vào tai bạn).
* Bạn nào xung phong kể về các bộ phận trên
khuôn mặt của mình nào? (nếu không kịp thời
gian, có thể đưa hoạt động này vào giờ chơi - tập
chiều của trẻ)
II.
Trẻ nghe và trả lời
Trẻ trả lời
Trẻ trả lời
Trẻ ngửi xung quanh
Trẻ trả lời
Trẻ trả lời
Trẻ trả lời
Trẻ suy nghĩ và trả lời
Trẻ chỉ và sờ miệng
Trẻ trả lời
Trẻ trả lời
Trẻ làm theo yêu cầu của
cô và trả lời câu hỏi
Trẻ kể về các bộ phận trên
diễn tả rõ ý tưởng, những điều mà bé quan tâm, cũng như lôi cuốn bé vào
những niềm đam mê mới.
Phát âm:
º
Bé học từ và kiểu phát âm từ mới bằng cách lập lại những gì mà bạn nói cho
bé nghe, ngay cả khi bé chưa hiểu được từ mới đó có nghĩa là gì. Quá trình
lặp lại này đôi khi được gọi là “thói nhại lời”, đây là biểu hiện hoàn toàn
bình thường đối với trẻ từ khoảng14 tháng đến 3 tuổi hoặc hơn nữa.
º
Cách phát âm của bé vẫn còn theo kiểu trẻ con. Chẳng hạn, lúc bé 2 tuổi,
thậm chí là 2 tuổi rưỡi, thường có xu hướng không phát âm những phụ âm
cuối của từ. Cách tốt nhất nhằm giúp bé phát âm đúng là đừng cố gắng sửa
bé ngay, chỉ cần lặp lại cho bé nghe, hoặc có thể lồng vào trong một câu dài
phức tạp hơn.
º
Lúc 2 tuổi, khi phát âm những từ có hai phụ âm kế tiếp nhau bé thường bỏ đi
một phụ âm. Mặc dù vậy, mọi người vẫn hiểu được bé đang nói gì do có
những từ khác trong câu tạo nên ngữ cảnh thích hợp. Nếu phát hiện thấy bé
1
7
có giọng đơn điệu hoặc chỉ có giọng mũi, bạn cần kiểm tra xem bé có bị rối
loạn về thính giác hoặc về phát âm không.
Từ 2 tuổi trở đi, bé tự tin hơn, ít rụt rè, nhút nhát hơn so với trước đây. Bé tỏ
ra cởi mở hơn, ngay cả đối với người lạ. Tuy nhiên điều này còn tùy thuộc
vào cá tính của từng bé, có bé dám chủ động bắt chuyện làm quen với người
lạ nữa. Trong những tình huống quen thuộc, bé cảm thấy hoàn toàn thoải
mái, mặc dù đôi lúc bé hơi e dè, thậm chí còn chạy vù đến ôm chầm lấy cha
mẹ để có cảm giác thoải mái hơn.
1
8
º
Một số bé lại tỏ ra rất kín đáo, dè dặt, ngay cả khi bé đã 2 tuổi rưỡi. Có thể
lúc mới gặp ai đó bé tỏ vẻ rụt rè, nhút nhát khá lâu nhưng sau đó bé sẽ dần
dần hoạt bát trở lại. Nếu trong khung cảnh gia đình bé vẫn trò chuyện thoải
mái thì những biểu hiện e dè, rụt rè như trên cũng không có gì đáng lo ngại
cả.
Bày tỏ cảm xúc:
º
Từ giai đoạn này trở đi, bé cũng đã có khả năng “đọc hiểu” cảm xúc của
những người khác. Khả năng này ở bé gái thường tốt hơn so với bé trai, mặc
dù điều này không phải lúc nào cũng đúng. Điều quan trọng là từ khoảng 2
tuổi tở đi, bé đã bắt đầu nhận ra một điều rằng những người khác cũng có
nhu cầu riềng. Tuy nhiên phải cần thêm một thời gian nữa để bé hoàn thiện
khả năng này. Đây là lý do tại sao đến độ tuổi này bé vẫn còn xem nhu cầu
và những mong muốn của bé là tối thượng và luôn luôn cấp bách. Bé 2 tuổi
chưa biết cách chờ đợi bất cứ điều gì. Khoảng từ 2 tuổi trở đi, ở bé mới xuất
Bạn có thể để cho bé tự làm lấy mọi việc. Nếu không, nên khéo léo, mềm
mỏng trong việc giúp đỡ bé. Chẳng hạn khi bé không kéo dây kéo quần lên
được dù đã cố gắng giật mạnh, bạn có thể kéo giúp bé và nói: “Ừ, chắc lần
sau thì cái dây kéo này mới chịu nghe lời con!”. Nói như thế, bé sẽ cảm thấy
dễ chịu hơn, và cách bạn nói cũng mang tính khuyến khích hơn, thay vì nói
rõ ràng bé không thể tự kéo dây kéo quần được.
º
Một số bé thể hiện thái độ cố ý, không hợp tác rất rõ nét. Chẳng hạn, nếu bạn
bảo bé dọn dẹp đồ chơi và cởi áo quần để đi tắm, nhưng bé vẫn cứ ngồi lỳ ở
sàn nhà tiếp tục chơi. Trong trường hợp này đôi khi bạn có thể “thắng” bé
nhờ một mẹo nhỏ bằng cách bày ra một trò chơi mới. Bạn có thể vờ nói với
bé rằng: “Ba đánh cuộc với con là con không thể cất những viên gạch nhựa
vào thùng xong trước khi ba đem mấy quyển sách này để lên bàn!”.
º
Bạn cũng có thể chơi với bé trò chơi thay phiên nhau làm những công việc
đơn giản. Chẳng hạn, bé và bạn lần lượt cất một món đồ chơi. Bé có thể vui
thích làm điều này hơn khi bạn nói với bé rằng các bé lớn đều sắp xếp đồ
chơi gọn gàng như vậy. Hiếm có bé 2 tuổi nào cưỡng lại niềm vui được coi
là “người lớn!” đó.
2. Kiến
nghị:
Những bài tập phát triển kĩ năng giao tiếp ở trẻ:
chuyện với bé về những gì bạn nhìn thấy.
Chơi với bút viết. Nếu bé quan tâm đến bút chì và giấy, hãy để bé thử viết.
Chơi trò trốn tìm. Giấu một món đồ chơi yêu thích và yêu cầu bé tìm nó.
Chơi các trò chơi đặt tên. Chỉ vào những thứ quen thuộc và yêu cầu bé đặt
tên cho chúng. Hoặc yêu cầu bé thực hiện một số hoạt động để giải thích từ
ngữ, như thu thập dữ liệu, nhảy hoặc ngủ.
Hát cho bé nghe. Chỉ cho bé vần điệu, lượt ngón tay và đếm nhịp điệu. Nghe
băng đĩa. Chơi trò chơi bắt chước, chẳng hạn như "Đây là cách chúng ta rửa
mặt" hoặc "Con là cốc trà nhỏ".
1.
2.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
http://www.enfa.com
http://www.marrybaby.vn
2
1
13.
http://www.nhatvietedu.vn
http://www.mekhonghoanhao.com
http://mangthai.vn
http://vuoncuabe.com
http://mamnon.com
http://tailieu.com
http://baophunuso.vn
http://maithehe.edu.vn
17.
ThS Mai Nguyệt Nga (Chủ biên), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non,
NXBGD2007.
18.
19.
20.
Bộ GD và ĐT, Chương trình giáo dục mầm non,
Trường CĐSPTW, Chương trình giáo dục mầm non của Singapore (tài liệu
dịch)
A.M.Bacđian, Trò chơi trong cuộc sống của trẻ em, TLTK TP.HCM 2002.
2
2