Vận dụng phương pháp mô phỏng trong quá trình dạy học ở trường tiểu học khu vực miền núi phía Bắc - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

BÁO CÁO TÓM TẮT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC

VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP MÔ PHỎNG
TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC
KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC

MÃ SỐ: ĐH2013-TN04-14

Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thị Hồng Chuyên

THÁI NGUYÊN, 2016


i

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BẰNG TIẾNG VIỆT
1. Thông tin chung
Tên đề tài: “Vận dụng phương pháp mô phỏng trong quá trình dạy học ở
trường tiểu học khu vực miền núi phía Bắc”
Mã số: ĐH2013-TN04-14
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thị Hồng Chuyên
Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên
Thời gian thực hiện: 24 tháng
2. Mục tiêu
Xây dựng quy trình dạy học sử dụng phương pháp mô phỏng và thiết kế một số
bài học có sử dụng phương pháp mô phỏng trong chương trình tiểu học.
3. Tính mới và sáng tạo

định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, chất lượng của các biện pháp được đề xuất
trong đề tài.
5. Sản phẩm
5.1. Sản phẩm khoa học
[1]. Nguyễn Thị Hồng Chuyên (2013), "Đôi nét về dạy học theo phong cách
học tập", Tạp chí Giáo dục, Số 324, tr.29-31.
[2]. Nguyễn Thị Hồng Chuyên (2014), "Lợi ích của sự hiểu biết về phong cách
học tập", Tạp chí Giáo dục, Số 333, tr.33-34.
[3]. Nguyễn Thị Hồng Chuyên (2014), "Sử dụng mô phỏng trong dạy học - biện
pháp đáp ứng phong cách học tập của học sinh", Tạp chí Thiết bị Giáo dục, Số 108,
tr.59-60
[4]. Nguyễn Thị Hồng Chuyên (2014), "Dạy học phân hóa dựa vào phong cách
học tập của học sinh", Tạp chí Giáo dục, Số 347, tr.35-37
5.2. Sản phẩm đào tạo
[1]. Nông Thị Hồng An (2013), Thiết kế một số kế hoạch bài học có sử dụng
mô phỏng trong dạy học chủ đề tự nhiên môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3, Đề tài nghiên
cứu khoa học sinh viên, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên.
[2]. Trần Thị Ngọc Anh, Chu Thị Hòa, Hoàng Thị Kim Thoa, Trần Thị Thanh Thư
(2014), Thiết kế một số tình huống đóng vai mô phỏng trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí
lớp 4, Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái
Nguyên.
5.3. Tài liệu tham khảo: 01 bản thảo tài liệu tham khảo: Vận dụng phương
pháp mô phỏng trong dạy học ở tiểu học, 2016 (Được nghiệm thu bởi Hội đồng
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên)
6. Phƣơng thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của
kết quả nghiên cứu
Đây là đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực giáo dục, có kết quả nghiên cứu cả về lí
thuyết và thực tiễn. Đặc biệt là đã đề xuất quy trình dạy học sử dụng phương pháp mô
phỏng trong dạy học ở tiểu học. Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong dạy học
một số nội dung trong chương trình tiểu học.

- Build a relatively complete theoretical framework of simulation teaching
methods. Specifically, studying the concept of simulation and simulation
classification; the role of using simulation methods in teaching.
- Analyze and assess the current status of teaching using simulation methods of
students mainly in the Northern provinces including the reality of using information
technology in teaching; reality of using simulation methods in teaching at some primary schools.
- Recommend the teaching process using simulation methods, build some lesson
plans and design lectures using simulation methods in the curriculum of some primary
school subjects, which are suitable for students in the Northern mountainous areas.


iv

- Pedagogical experiment was conducted in 3 primary schools in 3 different
locations. The obtained results were relatively satisfactory with its intended purpose,
which initially confirms the correctness of scientific hypothesis and quality of the
proposed methods in the current project.
5. Products
5.1. Scientific results
[1]. Nguyen Thi Hong Chuyen (2013), "An overview about teaching based on
students‟ learning style", Journal of Education, No. 324, pp. 29-31.
[2]. Nguyen Thi Hong Chuyen (2014), "Benefits of understanding teaching
based on students‟ learning style ", Journal of Education, No. 333, pp. 33-34.
[3]. Nguyen Thi Hong Chuyen (2014), "Using simulation methods in teaching –
measures to meet for the demand of students‟ learning style ", Journal of Educational
Equipment, No 108, pp. 59-60
[4]. Nguyen Thi Hong Chuyen (2014), "Differentiated teaching based on
students‟ learning style ", Journal of Education, No 347, pp. 35-37
5.2. Training results
[1]. Nong Thi Hong An (2013), Design some lesson plans using simulation

1.2. Để thực hiện nhiệm vụ mà Nghị quyết của Hội nghị trên đã nêu ra, Bộ Giáo
dục và Đào tạo đã và đang triển khai kế hoạch xây dựng chương trình giáo dục phổ thông
(CTGDPT) giai đoạn sau 2015. Nội dung CTGDPT sau 2015 không chỉ đưa ra yêu cầu
trang bị cho học sinh (HS) kiến thức, kĩ năng các môn học mà còn chú ý hướng tới việc
phát triển cho HS những năng lực cần thiết để các em có thể thành công trong học tập, học
tập suốt đời; tự chủ trong cuộc sống; hòa đồng và đóng góp tích cực cho xã hội. Cụ thể là
bên cạnh các năng lực chuyên biệt mà HS cần có về môn học/ lĩnh vực học tập thì các
năng lực chung cốt lõi có vai trò hết sức quan trọng và cần thiết cần hình thành và phát
triển cho HS, đó là: (1) Năng lực tự học; (2) Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; (3)
Năng lực thẩm mĩ; (4) Năng lực thể chất; (5) Năng lực giao tiếp; (6) Năng lực hợp tác;
(7) Năng lực tính toán; (8) Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông.
1.3. Ngày nay, công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông đang xâm nhập vào
hầu hết các lĩnh vực của đời sống con người. Việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã
trở thành một trào lưu mạnh mẽ, một xu thế của giáo dục thế giới nói chung, một chủ
trương lớn của Bộ Giáo dục và Đào tạo nước ta nói riêng. Ngày nay các thiết bị công
nghệ thông tin đã trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực phục vụ cho con người trong hầu
hết các công việc, trong đó có quá trình dạy học, giúp biến những vấn đề khó, vấn đề
trừu tượng thành đơn giản nhờ việc mô phỏng (MP) trực quan sinh động.
1.4. Tại các trường tiểu học, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học ở
các trường tiểu học còn ít và đôi khi còn lạm dụng dẫn đến chất lượng giáo dục còn
chưa cao. Chính vì vậy, việc đổi mới PP giảng dạy, thiết kế kế hoạch bài học theo
hướng tích cực hóa tư duy người học, ứng dụng công nghệ mới, phương tiện hiện đại
vào quá trình dạy học là việc làm ngày càng trở nên cần thiết.
Từ những lý do trên, việc lựa chọn đề tài Vận dụng phương pháp mô phỏng
trong quá trình dạy học ở trường tiểu học khu vực miền núi phía Bắc là cần thiết nhằm
xác định cơ sở lí thuyết của việc vận dụng PP mô phỏng (MP) vào dạy học, từ đó xác
định những định hướng cơ bản làm cơ sở để vận dụng vào thực tiễn dạy học các môn
học ở tiểu học.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm xây dựng quy trình dạy học có sử dụng mô

7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả trong
và ngoài nước về mô phỏng và vận dụng PPMP vào dạy học. Từ đó phân tích, so sánh, hệ
thống hóa, khái quát hóa nhằm đánh giá lịch sử nghiên cứu, cụ thể hoá vấn đề nghiên cứu
về PPMPT, rút ra những kết luận làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu đề tài.
7.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết thúc đề tài được chia làm 3 nội dung như sau: Chương
1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng phương pháp dạy học mô phỏng; Chương 2.
Xây dựng quy trình dạy học sử dụng phương pháp mô phỏng; Chương 3. Thực nghiệm
sư phạm


3

Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC SỬ DỤNG
PHƢƠNG PHÁP MÔ PHỎNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Vào thế kỷ XIX, quân đội Phổ - là tổ chức đầu tiên trên thế giới đã sử dụng mô
phỏng như một phương pháp hữu hiệu trong vấn đề tuyển quân. Ban đầu người Phổ rất
không hài lòng với cách thức tuyển quân nhân thông qua hình thức phỏng vấn và các
bài viết trên giấy, họ đã nghĩ ra phương thức mô phỏng tức là đặt người dự tuyển vào
vị trí tình huống giả định để xem xét hành vi và cách ứng xử của họ trước những sự
việc xảy ra như thế nào để từ đó lựa chọn được những quân nhân ưu tú nhất phục vụ
quân đội. Sau đó, hình thức mô phỏng này này đã được quân đội các nước Anh, Hoa
Kỳ,… học hỏi và vận dụng trong lĩnh vực đào tạo quân đội.
Năm 1899, Lord Rayleigh bắt đầu nghiên cứu về MP và thông qua PPMP đã dễ

dụng của MP, cụ thể trong các lĩnh vực như: nông lâm ngư nghiệp; khí tượng thủy
văn; lĩnh vực năng lượng; lĩnh vực giao thông; lĩnh vực kinh tế; sinh học - y học; lĩnh
vực giáo dục.
Hiện nay MP không còn xa lạ với người học ở Việt Nam, chúng ta có thể tìm thấy
ở các trường những phòng thực tập ảo, các phòng thí nghiệm ảo về vật lý, kỹ thuật điện,
đo lường, máy điện, kỹ thuật tương tự, kỹ thuật số, các phòng mô phỏng hệ thống các
dây chuyền sản xuất, các phiên tòa, các hệ thống quản trị doanh nghiệp... Nhiều trường
đại học, nhiều học viện trong cả nước đã thành lập các trung tâm MP như Học viện Kỹ
thuật Quân sự, trường Đại học Bách khoa Hà Nội hoặc các viện nghiên cứu giáo dục
đào tạo như trường Đại học sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.
1.2. Mô phỏng
1.2.1 Mô hình
a) Khái niệm
Theo từ điển tiếng Việt (vdict.com), mô hình (MH) là vật cùng hình dạng nhưng
làm thu nhỏ lại nhiều, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để trình bày,
nghiên cứu.
MH là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghành khoa học khác
nhau. MH được coi như cái mẫu tương đối gần nhất với đối tượng cần nghiên cứu, nó
không hoàn toàn đồng nhất với đối tượng cần nghiên cứu nhưng nó có những tính
chất, những đặc điểm đặc trưng quan trọng chủ yếu giống đối tượng cần nghiên cứu.
Một cách khái quát, MH có thể được hiểu là một thể hiện bằng thực thể hay bằng
khái niệm một số thuộc tính và quan hệ đặc trưng của đối tượng (gọi là nguyên hình)
nhằm mục đích nhận thức, dùng làm đối tượng quan sát thay cho nguyên hình hoặc/ và
dùng làm đối tượng nghiên cứu (thực nghiệm, suy diễn) về nguyên hình.
b) Phân loại: MH có thể chia làm hai loại: MH thực thể, MH khái niệm.
c) Tính chất của mô hình: Tính khả thi; MH thay thế phải phù hợp với đối tượng
nghiên cứu; quan sát và điều khiển được; tính lý tưởng; tính chủ quan.
1.2.2. Mô phỏng
a) Khái niệm
Theo từ điển Oxford American (1980) định nghĩa: "Mô phỏng là cách thức để

quy trình, quy tắc cần làm để giảm thiểu tối đa rủi ro có thể gây ra cho con người và
thiết bị.
+ MP cho phép HS làm việc theo nhịp độ riêng và tự điều khiển cách học của bản
thân, kích thích sự say mê học tập của HS.
+ GV cũng có thể tìm thấy ở MP những khả năng độc đáo cho việc tổ chức giảng
dạy, làm cho hoạt động học trở nên tích cực hơn. Ví dụ, GV có thể tải từ internet một
MP về quá trình hoạt động của Trái Đất quay quanh Mặt Trời, hướng dẫn cho HS quan
sát mô phỏng, tìm ra tri thức mới. Ở mức độ cao hơn, HS có thể trình bày lại mô
phỏng đó.
+ MP giúp GV làm việc một cách sáng tạo, tìm được giải pháp thay thế những
hoạt động học thiếu hiệu quả.
+ MP giúp GV tiết kiệm thời gian, nhờ đó có thể khám phá nhiều chủ đề, tăng
cường thời gian giao tiếp, thảo luận với HS.
+ MP có thể được tạm dừng, trong khi thực tế cuộc sống có thể không. Tạm dừng
cho phép HS có nhiều thời gian hơn để đánh giá những gì đang xảy ra.
+ Giúp HS hiểu bài nhanh hơn, tạo các đối tượng học tập nhanh và dễ dàng.
b) Hạn chế
+ Không phải bất kì nội dung dạy học nào cũng thật sự cần và có thể áp dụng hợp
lý, hiệu quả khi sử dụng MP trong dạy học. Vì vậy, GV cần lựa chọn những bài học
mang màu sắc trừu tượng tương đối cao, chuẩn bị MH dạy học hợp lý để mang lại hiệu
quả cho tiết học.
+ Hiện nay ngoài sử dụng các MH trực quan, GV cũng cần biết xây dựng những
MH MP trên máy vi tính, đây là một công cụ khá đắt tiền và đòi hỏi người GV cần
phải biết sử dụng những phần mềm chuyên dụng.
+ HS dễ bị cuốn hút, sa đà vào nghiên cứu các MH, mẫu vật mà quên đi những
thông tin cần thu thập. GV cần chủ động để đảm bảo tiến độ bài học, có nghệ thuật sư
phạm khéo léo để dẫn dắt các em trong quá trình phát hiện và thu thập tri thức mới.
+ MP thường sản sinh ra những dữ liệu, tri thức mới mà GV cần có kỹ năng nhất
định về phân tích dữ liệu để xử lý kết quả MP.
+ Khi quyết định dùng MP để nghiên cứu hệ thống phải phân tích kĩ ưu nhược

xuất còn mang tính tự cấp, chưa quen với phương thức sản xuất hàng hóa. Tiềm năng
về lao động, đất đai, tài nguyên khoáng sản, du lịch phong phú nhưng chưa đầu tư khai
thác và sử dụng có hiệu quả. Trình độ dân trí còn hạn chế, điều kiện sống còn nhiều
khó khăn, giao thông một số huyện còn chưa phát triển. Những yếu tố trên đã ảnh
hưởng lớn đến sự phát triển giáo dục nói chung, giáo dục tiểu học nói riêng.
1.5.2. Thực trạng sử dụng phương pháp mô phỏng trong dạy học ở tiểu học
1.5.2.1. Thực trạng về sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Công nghệ thông tin (CNTT) ngày càng tham gia có hiệu quả vào sự nghiệp giáo
dục. Việc ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy đối với GV công tác ở miền núi ngày
càng trở nên phổ biến hơn. Tuy nhiên, GV sử dụng CNTT trong các giờ học chuyên
đề, thao giảng là chính, ít thực hiện trong các giờ học bình thường.
Theo kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn GV sử dụng CNTT để trình chiếu các
kênh hình, sơ đồ thay thế việc chuẩn bị đồ dùng dạy học, vẫn có số lượng lớn GV sử
dụng CNTT thay thế cho việc viết bảng. Tỷ lệ GV sử dụng CNTT để sử dụng MP tổ
chức cho HS khám phá, tìm tòi kiến thức còn hạn chế, chưa phát huy hết tính tích cực
hóa hoạt động nhận thức của HS.
1.5.2.2. Thực trạng sử dụng mô phỏng trong dạy học
Hiện nay việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy ngày càng được đẩy
mạnh. Nó giúp trình bày bài giảng sinh động với hình ảnh, âm thanh sống động; thu
hút sự chú ý cũng như tạo hứng thú học tập cho người học; có khả năng lưu trữ, bổ
sung và liên kết tài liệu dễ dàng; giúp GV và HS có điều kiện tăng cường đối tthoại,
thảo luận... Tuy nhiên, việc thiết kế mang tính sáng tạo riêng của mỗi cá nhân còn
nhiều hạn chế.


8

- Thực trạng về việc xây dựng các bài giảng mô phỏng.
- Thực trạng về việc sử dụng MP trong quá trình dạy học.
Bên cạnh đó, nội dung kiến thức các môn học về tự nhiên và xã hội ở tiểu học có

2.2.1. Môn Tự nhiên – Xã hội
Môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học có các chủ đề về Con người và sức khỏe, chủ
đề tự nhiên phù hợp với việc sử dụng PPMP.


9

2.2.2. Môn Khoa học
Nội dung môn Khoa học có nhiều nội dung phù hợp với việc vận dụng mô phỏng
đặc biệt là nội dung các bài học thuộc chủ đề Vật chất và năng lượng và nội dung liên
quan đến sự sinh sản của động vật và thực vật.
2.2.3. Môn Toán
Môn Toán có các mạch kiến thức: Số và phép tính, Đại lượng và đo đại lượng,
Yếu tố thống kê, Yếu tố hình học và giải toán. Trong các mạch kiến thức này thì nội
dung Yếu tố hình học là có nhiều khả năng sử dụng PPMP.
Cụ thể, sử dụng PPMP để hướng dẫn HS khi dạy học các yếu tố hình học: vẽ
hình, cắt ghép hình, mô phỏng các tình huống trong bài toán có lời văn. Phần lớn các
bài học về cắt ghép và vẽ hình được sử dụng phần mềm Violet 1.8 (thông qua việc sử
dụng ngôn ngữ lập trình script) để MP.
2.2.4. Môn Lịch sử và Địa lí
Môn Lịch sử và Địa lí cũng có nhiều nội dung phù hợp và rất hiệu quả nếu sử
dụng PPMP trong quá trình dạy học.
Cụ thể, với phần Lịch sử: Mô phỏng các các tình huống lịch sử, mô phỏng trận
đánh đã từng diễn ra trong lịch sử (Chiến trận Bạch Đằng năm 938, chiến dịch lịch sử
Điện Biên Phủ,...). Với nội dung lịch sử có thể sử dụng ở cả hai loại mô phỏng: MP
tình huống và MP máy tính.
Phần Địa lí: Sử dụng PPMP khi dạy học về các nội dung về các hiện tượng, quá
trình địa lí; quy trình hoạt động sản xuất một số sản phẩm, mặt hàng của người dân
(quy trình sản xuất chè, sản xuất đồ gốm, làm muối,…).
2.2.5. Môn Tiếng Việt

- Xây dựng MP: Với các nội dung phù hợp với việc sử dụng MP mà hiện nay vẫn
chưa có người thiết kế sẵn các MP thì tiến hành xây dựng MP đó. Phần mềm phù hợp
để xây dựng MP nội dung 1 số bài học môn tự nhiên và xã hội ở tiểu học là Microsoft
Powerpoint kết hợp với Paint.
- Lựa chọn MP có sẵn: Hiện nay một số nội dung phù hợp với việc MP trong
chương trình tiểu học đã được các nhà thiết kế phần mềm sang tạo và thiết kế các trích
đoạn MP rất hay và hiệu quả. Tuy nhiên, các MP có sãn thưởng có thời gian dài, có
các nội dung thừa không cần thiết. Do vậy, cần cắt giảm hoặc thu hẹp nội dung lại cho
phù hợp với bài học, với đặc điểm HS.


11

Bước 3: Thiết kế bài học có sử dụng MP
Quá trình thiết kế KHBH phải chú ý đến việc bố trí sắp xếp các hoạt động dạy
học và phương tiện hỗ trợ các hoạt động đảm bảo tính logic, trực quan có nghĩa là cần
phân bổ cụ thể, theo trình tự hợp lý các hoạt động chi tiết của bản thiết kế và các
phương tiện hỗ trợ đi kèm. Như vậy khi sử dụng thiết kế KHBH mới tận dụng tối đa
hiệu quả của MP, nhiều HS cùng quan sát được, kết hợp màu sắc, âm thanh, sự chuyển
động, minh họa bằng cách lồng ghép, so sánh... tác động lên nhiều kênh thông tin của
người học.
2.3.2. Giai đoạn 2: Tổ chức quá trình dạy học sử dụng phương pháp mô phỏng
Bước 1: Nêu tình huống xuất phát hoặc câu hỏi nêu vấn đề
Nêu tình huống xuất phát hoặc câu hỏi nêu vấn đề nhằm kích thích trí tò mò,
khơi gợi hứng thú nhận thức của HS.
Bước 2. Giao nhiệm vụ, bài tập cho nhóm HS nghiên cứu
GV xây dựng câu hỏi, bài tập nhận thức và giao nhiệm vụ cho các nhóm hợp tác
thảo luận, suy nghĩ và tìm kiếm câu trả lời.
Bước 3. Tổ chức HS quan sát MP và tìm tòi, khám phá, phát hiện ra tri thức
Tổ chức cho HS theo dõi, quan sát MP để trả lời các câu hỏi, nhiệm vụ được

GV tổng kết lại quá trình đánh giá, ghi nhận những ưu điểm mà HS đạt được, chỉ
ra những hạn chế và định hướng cách khắc phục cho HS.
2.4. Một số kế hoạch bài học minh họa
2.4.1. Môn Tự nhiên và Xã hội
Bài 46: Khả năng kì diệu của lá cây (Lớp 3)
Bài 60: Sự chuyển động của Trái Đất
2.4.2. Môn Khoa học
Bài 53: Cây con mọc lên từ hạt (Khoa học 5)
Bài 57: Sự sinh sản của ếch (Khoa học 5)
Kết luận chương 2
1. Quá trình dạy học dựa vào MP cần tuân theo quy trình nhất định. Quy trình
dạy học là một trình tự có tổ chức các chuỗi hành động dạy học nhằm đạt được mục
tiêu dạy học đã đặt ra.
2. Quy trình dạy học của PPMP cần đảm bảo các nguyên tắc: đảm bảo nguyên
tắc hệ thống; Phát huy vai trò thiết kế, định hướng, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi của
giáo viên; Đảm bảo khai thác các ưu thế của mô phỏng; Đảm bảo phối hợp hài hòa giữa
sử dụng mô phỏng và thao tác trên vật thật; Đảm bảo tính mềm dẻo, linh hoạt; Đảm bảo
tính khả thi, thiết thực và hiệu quả
3. Quy trình tổng thể của dạy học vận dụng PPMP gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1:
Chuẩn bị (Thiết kế mô phỏng và kế hoạch bài giảng); Giai đoạn 2: Tổ chức dạy học;
Giai đoạn 3: Đánh giá
4. PPMP rất phù hợp trong việc dạy học các môn học ở tiểu học nhất là môn Tự
nhiên và Xã hội, môn Khoa học bởi vì nội dung môn học này đề cập đến các yếu tố tự
nhiên và con người, những nội dung này mang tính trừu tượng cao. Những kiến thức
này sẽ cụ thể và dễ dàng đối với HS nếu được áp dụng mô phỏng trong dạy học.
Chƣơng 3
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM

3.1. Khái quát về quá trình thực nghiệm
3.1.1. Mục đích thực nghiệm

2
3
4
5
6
7
8
9
10
Tổng
Trung bình
Trung vị
Mode
Độ lệch chuẩn

SL

Lớp ĐC
%

0
0
2
7
19
61
36
17
4
146

3.5
4.9
18.3
30.3
20.4
14.1
6.3
1.4
100
6.31
6
6
1.51


14

Từ bảng số liệu cho ta thấy, về các số liệu thống kê mô tả thì nhóm TN có các
kết quả điểm số cao hơn so với nhóm ĐC. Giá trị điểm xuất hiện nhiều nhất (Mode)
của nhóm TN là điểm 7, nhóm ĐC là điểm 6. Điểm nằm ở giữa (Median) trong tập
hợp điểm của nhóm TN là điểm 7, còn ĐC là điểm 6. Độ lệch chuẩn (StD) của nhóm
TN thấp hơn so với nhóm ĐC là 0.36 cho thấy mức độ đồng đều của nhận thức.
b) So sánh dữ liệu liên tục
Kiểm định phép kiểm chứng T-test: Giá trị P trong phép kiểm chứng T-test độc lập
(ở độ tin cậy 95%) đối với nhóm TN và nhóm ĐC cho kết quả giá trị P là 0.000 < 0.01 cho
thấy P là giá trị có ý nghĩa. Kết quả điểm trung bình của nhóm TN cao hơn nhóm ĐC không
có khả năng xảy ra ngẫu nhiên, chênh lệch trung bình của điểm số là kết quả của tác động,
các nguyên nhân ngẫu nhiên đã bị loại trừ.
c) Kiểm định tương quan
Với việc sử dụng phần mềm SPSS để xử lí số liệu TN, ta có kết quả giá trị

cứu của đề tài là có giá trị thực tiễn cao.


15

KẾT LUẬN
1. Kết luận
MP cung cấp cho HS những kinh nghiệm cụ thể về đối tượng học tập theo kiểu
trải nghiệm gián tiếp. Với khả năng điều khiển đồng thời tất cả các thành phần như
hình ảnh, âm thanh, video, theo năng lực và sở thích của cá nhân, HS có thể tự trải
nghiệm về đối tượng. Điều này không thể có được nếu như các phương tiện này được
thể hiện tuần tự theo một trật tự cố định, một nhịp độ cố định mà chưa hẳn đã phù hợp
với người học.
Trong các bài giảng, bằng sự kết hợp của MP 3 chiều, của âm thanh nổi, bằng
diễn biến tuỳ thuộc vào kỹ năng điều khiển của HS, có thể tạo nên được những trạng
thái, cảm xúc hồi hộp, sung sướng, lo sợ… mà không một bộ phim hay một hình ảnh,
âm thanh riêng lẻ nào có thể tạo nên. Điều quan trọng hơn, đó là từ những trải nghiệm
này, HS có được những kinh nghiệm cụ thể về tư duy, các dạng hoạt động và tri thức.
Sử dụng PPMP trong dạy học ở tiểu học có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng đối
với HS. Nó góp phần nâng cao hứng thú nhận thức của người học đồng thời giúp
người học tiếp nhận và xử lí thông tin tường minh hơn. Từ đó góp phần nâng cao hiệu
quả dạy và học.
2. Khuyến nghị
2.1. Đối với các cấp quản lí
- Tăng cường trang bị cơ sở vật chất hiện đại vào trong dạy học để GV có cơ hội được
nghiên cứu và sử dụng CNTT vào trong dạy học.
- Tăng cường tổ chức các lớp chuyên đề tập huấn cho GV để GV có khả năng,
nâng cao năng lực sử dụng CNTT trong dạy học; khai thác tối đa sức mạnh của công nghệ
số, góp phần thay đổi hình thức dạy và học theo hướng hiện đai, nâng cao chất lượng dạy
và học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status