Đề tài: Phân tích vai trò và xu hướng phát triển của hải quan VN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam - Pdf 40

Đề tài: Phân tích vai trò và xu hướng phát triển của hải quan VN trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam
Mở đầu
Trong xu thế toàn cầu hóa diễn ra sôi động khắp hành tinh, nền kinh tế Việt Nam
đang từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, thì ngoại thương trở
thành hoạt động không thể thiếu của các doanh nghiệp. Hôm nay nhóm chúng tôi xin
phân tích rõ hơn về “vai trò và xu hướng phát triển của Hải quan Việt Nam trong thời
hội nhập kinh tế quốc tế” . Với những mục tiêu nhằm tạo thuận lợi cho phát triển XNK,
thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển du lịch và giao thương quốc tế, đảm bảo quản
lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Hải quan ViệtNam đã luôn luôn thực hiện
theo khẩu hiệu mà mình đã đặt ra:“THUẬN LỢI, TẬN TỤY, CHÍNH XÁC “. Với thời gian
tìm hiểu có hạn cùng với những kiến thức còn hạn chế, nhất là kinh nghiệm đánh giá
thực tế chưa sâu sắc và đầy đủ. Vì vậy trong bài tiểu luận không tránh những sai sót,
kính mong thầy cùng các bạn đóng góp ý kiến để chúng tôi có thể hoàn thiện hơn
trong những chuyên đề sau
I: Giới thiệu chung về Hải quan Việt Nam
1.1 Lịch sử Hải quan Việt Nam
Ngày 10-9-1945, theo sắc lệnh số 27-SL của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp, thay mặt Chính phủ ký
thành lập “Sở thuế quan và thuế gián thu”. Với mục đích thiết lập chủ quyền thuế
quan của nước Việt Nam độc lập, đảm bảo việc kiểm soát hàng hóa XNK và duy trì
nguồn thu ngân sách từ hoạt động này.
Ngày 03-10-1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký Sắc lệnh để Sở Thuế
quan và thuế gián thu thuộc Bộ Tài chính.
Ngày 14-7-1951, Bộ trưởng Bộ tài chính Lê Văn Hiến ký Nghị định số 54-NĐ quy
định tổ chức Bộ Tài chính, trong đó Nha Thuế quan và Thuế gián thu được thu gọn
thành Phòng Thuế xuất nhập khẩu thuộc Sở Thuế.
Từ ngày 15 đến 20-9-1955, Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa I quyết định tách Bộ
Công thương thành 02 Bộ: Bộ Tài chính và Bộ Thương Nghiệp. Sở Hải quan Trung
ương trực thuộc Bộ Thương Nghiệp.
Từ ngày 16 đến 29-4-1958, Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I quyết định tách Bộ

113/2002/QĐ-TTg chuyển Tổng cục Hải quan vào Bộ Tài chính.- Ngày 21-5-2004, 03
ngành Hải quan, Thuế, Kho bạc đã ký văn bản hợp tác
Ngày 26-01-2005, 05 cán bộ Hải quan Việt Nam nhận bằng danh dự của Tổ chức
Hải quan thế giới (WCO).
Ngày 14-6-2005, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã ký quyết định số
42/2005/QH11 ban hành "Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan". Luật
này có hiệu lực từ ngày 01-01-2006.


1.2 Tầm nhìn
VIỄN CẢNH
Xây dựng Hải quan Việt Nam thành lực lượng chuyên nghiệp cao, có chuyên môn
sâu và hiện đại, hoạt động minh bạch, liêm chính và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu
cầu của tình hình và nhiệm vụ phát triển kinh tế đất nước.
PHƯƠNG CHÂM HOẠT ĐỘNG
- Chuyên nghiệp.
- Minh bạch.
- Hiệu quả.
TUYÊN NGÔN, NHIỆM VỤ
- Quản lý có hiệu quả các hoạt động xuất nhập khẩu và giao lưu quốc tế, tạo điều
kiện cho thương mại và sản xuất phát triển.
- Bảo vệ và góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế
quốc gia.
- Bảo đảm nguồn thu cho ngân sách.
- Chống buôn lậu, gian lận thương mại, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng.
- Góp phần bảo vệ chủ quyền kinh tế, an ninh quốc gia và an toàn xã hội.
- Phục vụ quản lý kinh tế xã hội.
1.3 Lãnh đạo Tổng cục

II: Vai trò của hải quan VN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam

vừa là người bảo vệ chủ quyền lợi ích quốc gia, vừa là người mở cửa, tạo thuận lợi cho
các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thương mại và đầu tư.
Để đạt được mục tiêu quan trọng này, Hải quan Việt Nam luôn duy trì việc mở
rộng quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau với các nước trên thế giới cũng như trong khu
vực. Hải quan Việt Nam rất chú trọng đến việc tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động
hợp tác này thông qua việc đàm phán, ký kết các văn kiện hợp tác song phương.
Trong khuôn khổ hợp tác đa phương và song phương, Hải quan Việt Nam đã
triển khai thực hiện các dự án:


Các dự án do Nhật Bản tài trợ: (1) Dự án Tăng cường năng lực cho đội ngũ giảng
viên chủ chốt phục vụ tiến trình hiện đại hóa hành chính hải quan Việt Nam giai đoạn
2004-2007; (2) Dự án Tăng cường năng lực về quản lý rủi ro; (3) Dự án Tăng cường
năng lực cán bộ hải quan cửa khẩu; (4) Dự án xây dựng, triển khai hải quan điện tử và
thực hiện cơ chế hải quan một cửa phục vụ hiện đại hóa hải quan tại Việt Nam; (5) Dự
án JICA về hợp tác kỹ thuật thực hiện hải quan điện tử;
Các dự án do Hoa kỳ tài trợ: (1)Dự án thí điểm E-manifest; (2) Dự án Megaports
do Hoa Kỳ tài trợ về lắp đặt thiết bị phát hiện phóng xạ đối với hàng hóa vận chuyển
tại cụm cảng Cái mép Thị Vải, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu;
Các dự án khác: (1) Dự án ETV2- Cấu phần hải quan do EU tài trợ; (2) Dự án Hỗ
trợ kỹ thuật và tư vấn vùng R-PATA do ADB tài trợ; (3) Dự án về tăng cường năng lực
phát hiện phóng xạ tại Sân bay quốc tế Nội Bài do IAEA tài trợ.
2.2 Vai trò của Hải quan Việt Nam trong nền kinh tế hội nhập tại Việt Nam.
Trong 69 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Hải quan luôn được lãnh đạo
Đảng, Chính phủ, lãnh đạo Bộ Tài chính đánh giá cao về vai trò, trách nhiệm trong
công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước và tạo mọi điều kiện để ngành Hải quan hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Từ đó thấy được vai trò của Hải Quan Việt Nam
trong nền kinh tế hội nhập như sau:
- Hải quan có vai trò vô cùng quan trọng trong kích cầu nội địa và phát triển kinh
tế. Ở Việt Nam, nguồn thu từ thuế nhập khẩu chiếm khoảng 30% tổng thu ngân sách

hòa đạt chuẩn mực quốc tế, trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu
tập trung và áp dụng rộng rãi phương thức quản lý rủi ro, đạt trình độ tương đương
với các nước tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á. Xây dựng lực lượng Hải quan đạt
trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu có trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả góp phần tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp,
phát triển du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài, đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn xã
hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
III: Xu hướng phát triển của hải quan VN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Việt
Nam
3.1.1 Thực trạng hải quan việt nam trong những năm gần đây
Nhìn chung hải quan Việt Nam có những bước tiến đáng kể trong hoạt động từ
khi được hình thành đến nay. Luật Hải quan (sửa đổi) được Quốc hội thông qua tháng
6/2014 với những quy định mới đã thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục
hải quan, từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử.
Hải quan việt nam đã áp dụng Hệ thống VNACCS/VCIS vào các quy trình thủ tục
hải quan đem lại một số các lợi ích như: giảm thiểu thời gian và chi phí trong quá trình
làm thủ tục…tổng cục hải quan đã cập nhật các chính sách mới, công tác cải cách hành
chính, đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Hải quan Việt Nam đã có những đổi mới tích cực phù hợp với sự hội nhập nền
kinh tế thế giới khi tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới, tham gia vào các công
ước quốc tế về hải quan… cũng góp phần không nhỏ cho hải quan việt nam phát triển


hơn ví dụ như khuôn khổ hợp tác Hải quan trong ASEAN thì các nước thành viên cần
thống nhất một số vấn đề:
+) Sử dụng danh mục biểu thuế chung để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp
hoạt động trong khu vực thông qua việc tạo ra Danh mục biểu thuế hài hoà ASEAN
(AHTN).
+) Liên tục đơn giản hoá và hài hoà hoá các quy trình, thủ tục hải quan để đảm
bảo thông quan nhanh hàng hoá, cắt giảm thời gian và chi phí giao dịch tại các cửa

điện tử.
- Thứ hai, triển khai thành công bước đầu Hệ thống thông quan tự động
VNACCS/VCIS. Việc triển khai Hệ thống này được thực hiện đúng kế hoạch, không gây
xáo trộn đối với hoạt động XNK, tạo dựng được nền tảng CNTT vững chắc. Đây là bước
đi quan trọng để nâng cao chất lượng thực hiện thủ tục hải quan điện tử dựa trên nền
tảng công nghệ tiên tiến của Nhật Bản, nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho cộng đồng DN
và nâng cao hiệu quả quản lí Nhà nước về hải quan.
- Thứ ba, thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và Cơ chế một cửa ASEAN
đảm bảo cam kết của Chính phủ. Tổng cục Hải quan đã phối hợp với Bộ Giao thông
vận tải, Bộ Công Thương thực hiện kết nối kĩ thuật NSW (tháng 2-2014) và phấn đấu
kết nối chính thức vào tháng 11 và tháng 12-2014. Đồng thời tiếp tục thực hiện giai
đoạn 2 của NSW với các bộ: Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và
Môi trường.
- Thứ tư, đẩy mạnh thực hiện Chương trình DN ưu tiên để nâng cao hiệu quả của
quan hệ đối tác Hải quan- DN. Tổng cục Hải quan đang áp dụng chế độ ưu tiên cho 24
DN và phấn đấu đến cuối năm có thể nâng con số này lên 25 hoặc 30 DN.
- Thứ năm, nâng cao chất lượng cải cách thủ tục hành chính; Thực hiện việc tiếp
nhận, kiểm tra hồ sơ, cấp số và phân luồng tờ khai trong vòng từ 1 đến 3 giây. Trước
đây, theo Tuyên ngôn phục vụ khách hàng Tổng cục Hải quan cam kết thực hiện quy
trình thủ tục này tối đa 30 phút… Đã chủ trì thực hiện cấu phần Nghiên cứu thời gian
giải phóng hàng của dự án “Hỗ trợ kĩ thuật tư vấn và chính sách vùng” nhằm công khai
hóa thời gian thông quan, làm rõ trách nhiệm của cơ quan Hải quan và các cơ quan
liên quan khác để có cơ sở kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành
cải cách thủ tục để giảm thời gian thông quan.
- Thứ sáu, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát hải quan. Theo đó,
song song với cải cách thủ tục hành chính phải tiếp tục đẩy mạnh công tác chống buôn
lậu, gian lận thương mại, đảm bảo an ninh quốc gia và an toàn cộng đồng nhằm mục
tiêu cải cách gắn liền với kiểm soát. Chú trọng công tác quản lí rủi ro, kiểm tra sau
thông quan theo phương pháp quản lí hải quan hiện đại để chuyển mạnh việc kiểm
tra từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”.

bộ, cơ sở vật chất phục vụ làm việc không tăng đang là bất cập hạn chế hiệu quả hiện
đại hóa và cải cách thủ tục hải quan.
- Yếu kém trong công tác quản lý và thủ tục hải quan, trong đó nổi lên là việc tổ
chức, triển khai thực hiện cơ chế, chính sách về quản lý và cải cách thủ tục hải quan
nhiều trường hợp còn chậm, chưa thật hiệu quả; công tác tham mưu nhằm xây dựng,
hoàn thiện các quy định về quản lý và thủ tục hải quan chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là
theo hướng đơn giản, minh bạch, công bằng, hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc
tế, gây khó khăn cho doanh nghiệp và chưa khắc phục được kẽ hở chuyển giá của các


doanh nghiệp. “Thủ tục xuất khẩu mất 4 ngày, cao gấp 2 lần so với bình quân khu vực,
thủ tục hải quan cho nhập khẩu là 4 ngày trong khi đó bình quân khu vực là 3 ngày”
- Vấn đề cán bộ Hải quan những nhiễu, tham ô đang là một vấn nạn quan trọng.
Chỉ cần lướt qua mặt báo, sẽ bắt gặp rất nhiều vụ việc về hành vi trái pháp luật, đạo
đức nghề nghiệp của cán bộ Hải quan. Có thể kể đến như vụ “Để xuất khẩu hàng hóa
qua cửa khẩu Mường Khương (Lào Cai) ngoài giờ hành chính, doanh nghiệp phải chi
1-3 triệu đồng phí ngoài giờ, đồng thời bồi dưỡng ông Thượng – Chi cục trưởng Hải
quan Mường Khương, Lào Cao 2 triệu đồng cho mỗi container hàng”, hay “Hai cán bộ
hải quan “để lọt” 24 container hàng lậu Trung Quốc”, Hai cán bộ hải quan sân bay Nội
Bài bị truy tố với cáo buộc tiếp tay cho buôn lậu để nhập trái phép tổ yến từ Malaysia
và Indonesia về Việt Nam, vụ 10 container hàng lậu ngang nhiên qua được "ải" hải
quan và "rồng rắn" đánh tháo ra khỏi Cảng Vict (Q.7, TP HCM),… và còn rất nhiều vụ
việc khác đã gây sự chú ý của dư luận trong suốt thời gian vừa qua.
- Về cơ sở vật chất, nhìn chung các đơn vị hải quan cơ sở đã được đầu tư theo
chiều rộng nếu tính đến các số liệu như số máy tính trên tỷ lệ cán bộ, số lượng phần
mềm quản lý, đầu mối đơn vị kết nối mạng Internet…Tuy nhiên, chất lượng và hiệu
quả của sự đầu tư này chưa cao, thậm chí còn dàn trải, gây lãng phí. Qua thực tế các
đơn vị hải quan ở vùng xa, vùng biên giới như Móng Cái (Quảng Ninh), Cha Lo (Quảng
Bình), La Lay (Quảng Trị) và Cầu Treo ( Hà Tĩnh)…chất lượng đường truyền dữ liệu
chưa được tốt, công tác truyền, nhận thông tin nội bộ đến các đơn vị hải quan cửa

nhiều đối tác lớn trên thế giới, trước hết là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
(TPP) đang đi vào giai đoạn nước rút, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên
minh châu Âu (EU)… dự kiến kết thúc đàm phán cuối năm nay. Đây là cơ hội lớn để
Việt Nam mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, giảm bớt rủi ro phụ thuộc
vào một số thị trường.
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã trải qua 20 vòng đàm phán và
được kỳ vọng có thể hoàn tất vào cuối năm nay. Theo cam kết trong hiệp định, các
nước thành viên sẽ phải xóa bỏ 100% thuế nhập khẩu, trong đó khoảng 90% là xóa bỏ
ngay khi hiệp định có hiệu lực.
Chỉ riêng các nước tham gia hiệp định này đã chiếm tới 40% tổng GDP và 30%
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu toàn cầu. Nếu đàm phán, ký kết được hiệp định này,
hàng hóa Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội thâm nhập vào các thị trường lớn như Mỹ,
Canada, Mexico, Nhật Bản...
Trong đó, dệt may là một trong những ngành được dự báo có nhiều lợi thế khi
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương được ký kết. Khoảng 1.000 dòng thuế đối với
hàng dệt may xuất khẩu vào Mỹ (thị trường lớn nhất của dệt may Việt Nam) sẽ được
cắt giảm dần về 0%, thay vì 18% như hiện nay.
Bên cạnh hiệp định TPP, trong năm nay, Việt Nam còn tham gia đàm phán một số
hiệp định thương mại khác như: Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam - EU, Việt
Nam - Hàn Quốc, Việt Nam và Liên minh Thuế quan Nga - Belarus - Kazakhstan.
Với nhiều ưu đãi về thuế quan, thông qua các hiệp định thương mại này, Việt
Nam có thêm nhiều cơ hội đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đặc biệt là hàng nông
sản, vốn đang phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc, tới đây có thể đến được
các thị trường tiềm năng khác.
Đứng trước cơ hội lớn từ các hiệp định thương mại, Việt Nam đang tích cực đàm
phán để đạt được những thỏa thuận có lợi cho việc mở rộng thị trường xuất nhập


khẩu của Việt Nam thời gian tới. Nếu quá trình đàm phán thành công, khả năng tăng
xuất khẩu mặt hàng lợi thế sẽ tăng lên rõ rệt do ưu đãi về thuế, thủ tục hành chính.

đến, thanh toán, quản lý các giấy phép bằng phương thức điện tử; thực hiện cơ chế
doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt về thủ tục và an ninh theo các chuẩn mực của Tổ chức
Hải quan thế giới (WCO); áp dụng phương pháp quản lý rủi ro một cách hệ thống


trong các khâu nghiệp vụ hải quan. Từ năm 2012, từng bước xử lý dữ liệu thông quan
tập trung tại cấp Cục Hải quan; thực hiện cơ chế một cửa hải quan quốc gia (NSW) và
tham gia cơ chế một cửa ASEAN.
Nâng cao trình độ, năng lực quản lý thuế ngang tầm với các nước trong khu vực.
Đảm bảo quản lý thuế công bằng, minh bạch, khả thi, hiệu quả, phù hợp với chuẩn
mực quốc tế. Nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, đảm bảo
lợi ích quốc gia, hạn chế những thách thức, bất lợi phát sinh trong quá trình hội nhập.
Đảm bảo nguồn thu của Ngân sách Nhà nước.
Tổ chức thực hiện và nâng cao chất lượng công tác nghiệp vụ cơ bản và phòng,
chống có trọng điểm, hiệu quả hoạt động buôn lậu, vận chuyển các mặt hàng cấm qua
biên giới. Triển khai thực hiện các cam kết quốc tế trong công tác phòng, chống khủng
bố, rửa tiền, thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và hợp tác hải quan về kiểm soát
chung. Thực hiện việc áp dụng các hàng rào kỹ thuật theo quy định của pháp luật và
phù hợp với thông lệ quốc tế.
Đến năm 2020, hoạt động kiểm tra sau thông quan đạt trình độ chuyên nghiệp,
chuyên sâu, hiệu quả, dựa trên phương pháp quản lý rủi ro với quy trình nghiệp vụ
được chuẩn hóa trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin kết hợp với các biện pháp
chế tài, xử lý nghiêm minh.
- Về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực: Xây dựng tổ chức bộ máy Hải quan hiện
đại và theo nguyên tắc tập trung thống nhất, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội và tăng cường sự quản lý của Nhà nước, góp phần giữ gìn an ninh, an
toàn quốc gia. Xây dựng lực lượng hải quan có trình độ chuyên nghiệp, hoạt động
minh bạch, liêm chính, có hiệu lực, thích ứng nhanh với những thay đổi của môi
trường, công nghệ và yêu cầu của tiến trình hội nhập quốc tế.
- Về ứng dụng công nghệ thông tin: Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin hải

Về tổng thể, Tổng cục Hải quan xác định các mục tiêu và cũng là giải pháp trọng
tâm để cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thời gian tới. Đó là: Tập trung
triển khai có hiệu quả Luật Hải quan (có hiệu lực từ ngày 1-1-2015); Tiếp tục khẩn
trương thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về NSW và một cửa ASEAN;
Thực hiện đánh giá chỉ số thời gian thông quan xác định rõ thời gian từng cơ quan,
từng khâu tác nghiệp để có những kiến nghị phù hợp nhằm giảm thời gian giải phóng
hàng ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực; Tiếp tục đẩy mạnh công tác
hiện đại hóa hải quan theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và các
phương tiện kĩ thuật hiện đại, áp dụng đầy đủ phương pháp quản lí rủi ro trong kiểm
tra, giám sát hải quan; Tập trung nguồn lực để vận hành thành công Hệ thống
VNACCS/VCIS giai đoạn I và chuẩn bị thủ tục để triển khai giai đoạn II.
Đối với ngành Hải quan, Tổng cục Hải quan xác định phải thực hiện nghiêm thời
gian thông quan, cụ thể, thời gian đăng kí tờ khai không quá 5 phút, kiểm tra hồ sơ
không quá 2 giờ (đối với hàng thuộc diện quản lí chất lượng), kiểm tra thực tế không
quá 8 giờ đối với hàng hóa thuộc diện rủi ro cao phải kiểm tra thực tế (theo Luật Hải
quan vừa được Quốc hội thông qua, những lô hàng phức tạp thời gian kiểm tra không
quá 2 ngày)… Phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ


chức đo thời gian giải phóng hàng và sự hài lòng của DN ở các Cục Hải quan địa
phương, trước mắt là Cục Hải quan Bình Dương.
Tổng cục Hải quan cũng sẽ xử lí dứt điểm những vướng mắc liên quan đến việc
Hệ thống VNACCS/VCIS chỉ cho phép khai tối đa 50 dòng hàng/tờ khai; không để xảy
ra ách tắc ở khâu giám sát cổng cảng, ứng dụng công nghệ thông tin như hệ thống mã
vạch trên tờ khai hải quan để đảm bảo giám sát ở cổng cảng không quá 3 phút; phối
hợp với Ngân hàng, Kho bạc để cập nhật việc nộp thuế, lệ phí theo phương thức
online vào Hệ thống Hải quan...
Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trong ngành Hải quan đang
được quy định tại Quyết định 02/2010/QĐ-TTg ngày 15-1-2010 của Thủ tướng Chính
phủ sẽ được rà soát, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa. Hoạt



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status