PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG
----------
BÀI DỰ THI
“EM YÊU LỊCH SỬ XỨ THANH”
Họ và tên:
Lớp:
Trường:
Địa chỉ:
Năm học: 2016 – 2017
1
Câu 1: Cội nguồn “Vua xứ Thanh, Thần xứ Nghệ”
Xuất phát từ câu nói của sứ giả Nguyễn Thư Hiên chép ở sách Dư
địa chí do Nguyễn Trãi biên soạn có lời của Nguyễn Thiên Túng liên quan đến
4 xứ: “Nguyễn Như Hiên nói” Thế xứ Thanh, thần xứ Nghệ, nước Hưng Thái,
ma Cao Lạng đều rất đáng sợ”. Câu nói có liên quan đến hai xứ Thanh và
Nghệ, là mảnh đất sản sinh ra những con người, vua chúa, quan thần của đất
nước. Xứ Thanh xưa mà nay là Thanh Hóa là nơi kinh đô của đất nước, nơi có
nhiều vua, chúa nhất nước.
Là con người xứ Thanh chúng em rất hãnh diện và tự hào về cội nguồn
dân tộc của mình. Vị vua mà em thích và tìm hiểu nhiều nhất là vua Lê Lợi
Năm 1428 Lê Lợi lập ra nhà Hậu Lê. Ông là người Thanh Hóa.
tưởng hướng tích cực của Nho Giáo thực hành (Trung Quốc) kết hợp với các đặc
điểm của văn hóa Việt Nam và khu vực được vận dụng một cách sáng tạo vào
hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam nhằm đưa đất nước đạt tới các thành tựu mới văn
minh hơn, tích cực hơn, đem lại nhiều lợi ích hơn cho người dân, đáp ứng các
yêu cầu đổi mới cấp bách của Việt Nam và góp phần thúc đẩy các trào lưu tư
tưởng nhân văn tích cực ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Tất cả được thể
hiện nổi trội và duy nhất thấy ở Thành Nhà Hồ trên các phương tiện thiết kế
cảnh quan đô thị, kiến trúc Thành đá, kỹ thuật xây dựng đá lớn và các ảnh
hưởng tác động lẫn nhau nhiều chiều của khu di sản tới kỹ thuật xây dựng thành
quách sau đó ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á.
Tiêu chí IV
7
Khu di sản cũng là ví dụ nổi bật về một loại công trình kiến trúc được xây
dựng bằng đá lớn vừa là một kiểu kiến trúc Hoàng thành biểu tượng cho quyền
lực Hoàng gia tiêu biểu dưới tác động của giao thoa các giá trị nhân văn ở
phương Đông, vừa là một pháo đài quân sự bề thế, chắc chắn, uy nghiêm. Kỹ
thuật xây dựng đá lớn độc đáo, duy nhất của Việt Nam được thấy ở đây đã được
kết hợp một cách sáng tạo, tài tình với truyền thống kỹ thuật và nghệ thuật xây
dựng ở Việt Nam, Đông Á và Đông Nam Á với một hệ thống thao tác kỹ thuật
thủ công liên hoàn như khai thác đá, gia công đá, vận chuyển các khối đá nặng
từ 10 tấn đến 26 tấn, xử lý móng nền đá, nâng các khối đá lớn lên độ cao trên
10m vừa đảm bảo được công năng kiến trúc vừa đáp ứng yêu cầu mỹ thuật cần
thiết của một đô thành. Kỹ thuật xây dựng thành công các bức tường thành bằng
đá lớn đã phát huy ảnh hưởng của nó tới kỹ thuật xây dựng nhiều tòa thành sau
đó ở khu vực, nhưng kỳ vĩ nhất, đặc sắc nhất chỉ có Thành Nhà Hồ vốn được
xem như một hiện tượng đột khởi “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử xây dựng
kiến trúc thành quách Việt Nam và khu vực.
mạnh mọi mặt công tác xây dựng và bảo vệ hậu phương, vừa tích cực động viên
sức người, sức của cho tiền tuyến đánh thắng. Chiến dịch nối tiếp chiến dịch, từ
năm 1951-1953, quân và dân Thanh Hóa liên tiếp bổ sung lực lượng, phục vụ 5
chiến dịch lớn: Trung Du, Quang Trung, Hòa Bình, Tây Bắc và Thượng Lào.
Đặc biệt chiến dịch Thượng Lào tháng 5-1953, Thanh Hóa bảo đảm tới 76% nhu
cầu của cả chiến dịch.
Thực hiện nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953 - 1954, ngày 6-12-1953, Bộ
Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ
thị: “Chiến dịch này là chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả
về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn
Đảng, toàn quân, toàn dân phải tập trung hoàn thành cho kỳ được” (Chỉ thị của
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho đồng chí Võ Nguyên Giáp tháng 12 -1953).
Quyết tâm chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiêu diệt toàn bộ
quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã trở thành ý chí, hành động cụ
thể của quân và dân ta.
9
Thực hiện kế hoạch của Bộ Chính trị, các binh đoàn chủ lực của ta lần lượt
rời hậu phương Thanh Hóa để dồn sức cho chiến dịch. Các Đại đoàn 304, 320,
316 và một số trung đoàn của bộ đang đứng chân tác chiến bảo vệ Thanh Hóa và
vùng tự do Liên khu III lần lượt hành quân lên Tây Bắc, sang Lào chuẩn bị cho
chiến dịch Điện Biên Phủ. Bảo vệ Thanh Hóa lúc này do lực lượng vũ trang
trong tỉnh đảm nhiệm.
Từ trung tuần năm 1953 đến đầu năm 1954, khi biết quân và dân ta đang
chuẩn bị mở các chiến dịch lớn tại Lai Châu, Tây Bắc, Thượng Lào và đang ráo
riết tập trung cho chiến dịch Điện Biên Phủ, thực dân Pháp vừa tăng cường đối
phó với ta ở chiến trường Tây Bắc, vừa cho máy bay, tàu chiến bắn phá, càn
quét dữ dội vào Thanh Hóa nhằm buộc ta chi phối lực lượng và chia cắt hậu
phương Thanh – Nghệ - Tĩnh với chiến trường chính Tây Bắc và Lào. Ngày 15
trung đội trinh sát cho Đại đoàn 304. Ngoài ra Thanh Hóa còn điều động hàng
ngàn cán bộ, chiến sĩ của Đại đội 128 bộ đội huyện Bá Thước, 112 bộ đội huyện
Tĩnh Gia, các đơn vị của Hoằng Hóa, Hà Trung, Quảng Xương, Thạch Thành
cho các đơn vị tham gia chiến đấu tại Điện Biên Phủ.
Ngày 13-3-1954, bộ đội ta bắt đầu nổ súng tiêu diệt cứ điểm Him Lam và
Độc Lập, mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ.
Phối hợp với chiến trường chính Điện Biên Phủ, tại Nga Sơn, quân và dân
Thanh Hóa ra sức đẩy mạnh tiến công quân sự để kìm chân địch, tiêu diệt nhiều
sinh lực địch. Mặt khác các tổ dân vận, địch vận vẫn tăng cường tuyên truyền
hoạt động khuyếch trương chiến thắng của ta trên chiến trường Điện Biên, làm
lung lay tinh thần và làm tan rã hàng ngũ địch.
Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, tin chiến thắng nhanh chóng đến với
quân và dân Thanh Hóa, lực lượng vũ trang tỉnh tích cực khuyếch trương chiến
thắng, các tổ dân vận, địch vận đẩy mạnh công tác tuyên truyền đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta nói rõ âm mưu thủ đoạn của địch, kêu
gọi binh lính địch đóng tại các đồn Điền Hộ, Mai An Tiêm hạ vũ khí đầu hàng.
Đồng thời, các đại đội bộ đội địa phương tổ chức các đợt tấn công truy quét,
buộc địch phải đầu hàng.
Thất bại trên chiến trường chính Điện Biên Phủ, buộc địch phải rút khỏi
Nga Sơn, bị tiêu diệt nặng trong các trận càn quét vào bờ biển phía nam Thanh
Hóa, âm mưu phá hậu phương Thanh Hóa bị thất bại hoàn toàn. Ngày 7-8-1954,
11
thực dân Pháp phải rút khỏi đảo Hòn Mê, chấm dứt sự có mặt của quân Pháp ở
Thanh Hóa.
Sau 55 ngày đêm chiến đấu anh dũng, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn
thắng, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu một số lượng lớn sinh lực địch
và phương tiện chiến tranh, giải phóng vùng đất đai có ý nghĩa chiến lược.
Chiến thắng Điện Biên Phủ giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi Người về thăm năm 1957: “Bây giờ tiếng Việt
Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó. Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng
bào Thanh Hóa cũng có một phần vinh dự đến đó”.
13
Câu 4: Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá
Tại Thanh Hóa, từ năm 1858 đến trước năm 1930, có rất nhiều cuộc khởi
nghĩa chống Pháp dưới ngọn cờ của các sĩ phu và các nhà yêu nước đương thời
theo nhiều khuynh hướng khác nhau, tiêu biểu là các phong trào: Cần Vương,
Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, khởi nghĩa nông dân của Hoàng Hoa Thám,
khởi nghĩa Ba Đình... Các phong trào đấu tranh vô cùng anh dũng nhưng đều
không thành công và bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo. Nguyên nhân cơ bản dẫn
tới thất bại của các phong trào đấu tranh đó là những người yêu nước đương thời
chưa tìm được con đường cứu nước đúng đắn.
Giữa lúc cách mạng cả nước nói chung, Thanh Hóa nói riêng đang chìm
trong khủng hoảng về đường lối thì lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Người con ưu tú
của dân tộc Việt Nam đã tìm ra con đường cứu nước mới đó là con đường cách
mạng vô sản, Người đã dày công chuẩn bị tư tưởng, tổ chức để thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Trong đêm trường nô lệ, nhiều thanh niên yêu nước Thanh Hóa đã ra tỉnh
ngoài, nước ngoài tìm đường giải phóng quê hương, đất nước, tiêu biểu là Lê
Hữu Lập, Lê Mạnh Trinh, Đinh Chương Dương... Lê Hữu Lập sang Trung Quốc
tham gia lớp lý luận cách mạng đầu tiên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giảng dạy
và được kết nạp vào tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội (Việt
Nam cách mạng thanh niên), được phân công về nước tuyên truyền tổ chức cách
mạng. Lê Hữu Lập về Thanh Hóa tháng 5-1926, tổ chức Hội đọc sách báo cách
mạng ở TP Thanh Hóa sau đó phát triển ra các huyện trong tỉnh. Trên cơ sở đó,
tháng 4-1927, thành lập tổ chức “Việt Nam cách mạng thanh niên” tỉnh Thanh
phát triển vượt bậc trên mọi lĩnh vực.
Dấu ấn những mô hình kiểu mẫu theo lời Bác
Sinh thời, Bác Hồ đã nhiều lần về thăm Thanh Hóa, Bác cũng dành nhiều
tình cảm động viên kịp thời Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa qua những lần ký
sắc lệnh tặng các phần thưởng cao quý, gửi thư khen, gửi tặng huy hiệu của
Người, hay qua những bài báo viết về những điển hình ở Thanh Hóa... Đáp lại
tình cảm sâu đậm của Bác, cả trong kháng chiến và xây dựng đất nước, từng địa
phương, từng đơn vị trên địa bàn tỉnh đã luôn nỗ lực thi đua theo lời Bác dạy.
Trong những năm tháng chiến tranh, nức tiếng không chỉ ở Thanh Hóa mà còn
được cả nước biết đến và học tập như: Nhân dân xã Đông Anh, Đông Sơn giúp
bộ đội địa phương nhiều nhất; huyện Vĩnh Lộc xóa xong nạn mù chữ trước thời
hạn quy định và sớm nhất trong các huyện miền Bắc; kinh nghiệm chăn nuôi,
cải tiến nông cụ của các xã Đại Phong, Xuân Lai, Quảng Hải; Hợp tác xã Đông
Phương Hồng xây dựng tốt hợp tác xã, đạt năng suất lúa cả năm trên 6,5 tấn/ha,
16
Hợp tác xã cơ khí Thành Công… Rồi tấm gương các cụ lão dân quân xã Hoằng
Trường (huyện Hoằng Hóa) mặc dù tuổi cao nhưng vẫn kiên cường bắn rơi máy
bay địch bằng súng bộ binh; Chị em trong đội dân quân gái các xã ven biển
huyện Hậu Lộc anh dũng bám trận địa bắn rơi nhiều máy bay địch; Quân dân
Nam Ngạn - Hàm Rồng đã không tiếc máu xương ngày đêm đảm bảo huyết
mạch giao thông để góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của cả dân tộc…
Bước vào thời kỳ đổi mới, mảnh đất Thanh lại có thêm những điểm sáng,
những lá cờ đầu, những đơn vị, những huyện kiểu mẫu trên mặt trận phát triển
kinh tế - xã hội. Tiêu biểu như Yên Định - huyện anh hùng đầu tiên trong thời kỳ
đổi mới, là địa phương đã mạnh dạn đi đầu với những mô hình thiết thực, hiệu
quả đã đem lại cuộc sống ấm no cho nông dân. Nhiều mô hình ở Yên Định đã và
đang được nhân rộng như: Chuyển đổi cơ cấu cây trồng mùa vụ nâng cao giá trị