Nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản của các bãi chăn thả gia súc và mô hình chăn nuôi gia đình tại xã khôi kỳ, huyện đại từ, tỉnh thái nguyên - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG THỊ PHƯỢNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA
CÁC BÃI CHĂN THẢ GIA SÚC VÀ MÔ HÌNH
CHĂN NUÔI GIA ĐÌNH TẠI XÃ KHÔI KỲ,
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Chung

Thái nguyên - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu
trong luận văn là trung thực và chưa ai công bố
Tác giả

Hoàng Thị Phượng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

LỜI CAM ĐOAN .....................................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN ..........................................................................................................................ii
MỤC LỤC ..............................................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT......................................................................................iv
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................................v
MỞ ĐẦU...................................................................................................................................1
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU.........................................................................................................3
1.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam............................3
1.1.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới..............................................3
1.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam................................................5
1.2 Những nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên .........................................................................7
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài ....................................................................................7
1.2.2 Nghiên cứu về dạng sống.............................................................................................9
1.2.3 Nghiên cứu về năng suất cỏ.......................................................................................10
1.2.4 Nghiên cứu về chất lượng cỏ.....................................................................................11
1.3. Vấn đề thoái hoá đồng cỏ do chăn thả và sử dụng hợp lý đồng cỏ Bắc Việt Nam......12
1.3.1 Vấn đề thoái hoá đồng cỏ do chăn thả.......................................................................12
1.3.2 Vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ Bắc Việt Nam..........................................................13
1.4 Các loại thức ăn chăn nuôi gia súc và đặc điểm của cỏ hoà thảo..................................14
1.4.1 Các loại thức ăn chăn nuôi gia súc.............................................................................14
1.4.2 Đặc điểm của cỏ hoà thảo..........................................................................................16
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................................21
2.1 Đối tượng nghiên cứu....................................................................................................21
2.2 Phương pháp nghiên cứu...............................................................................................21
2.2.1 Phương pháp điều tra trong dân.................................................................................21
2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên........................................................21
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.....................................................22
Chương 3

http://www.lrc.tnu.edu.vn


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DS

: Dạng sống

GTCT

: Giá trị chăn thả

Ho

: Không có giá trị chăn thả

Ke

: Giá trị chăn thả kém

NC

: Nghiên cứu

Nxb

: Nhà xuất bản

Stt


Bảng 4.7: Năng suất của cỏ Voi tại các điểm nghiên cứu.......................................................67
Bảng 4.8: Chất lượng cỏ Voi tại các điểm nghiên cứu...........................................................68
Bảng 4.9: Hiệu quả chăn nuôi trâu của gia đình ông Dũng....................................................69
Bảng 4.10: Hiệu quả chăn nuôi trâu của gia đình ông Phượng...............................................70
Bảng 4.11: Hiệu quả chăn nuôi trâu của gia đình ông Đệ.......................................................71

v


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong nông nghiệp, chăn nuôi và trồng trọt có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Chăn nuôi cung cấp cho trồng trọt nguồn phân bón hữu cơ quan trọng
không chỉ có tác động tăng năng suất cây trồng mà còn có tác dụng cải tạo
đất, tái tạo hệ vi sinh vật và bảo vệ cân bằng hệ sinh thái. Ở nhiều vùng,
trong sản xuất ngành trồng trọt vẫn cần sử dụng sức kéo của động vật cho
các hoạt động canh tác và vận chuyển. Còn trồng trọt lại cung cấp một lượng
lớn thức ăn cho ngành chăn nuôi.
Xã hội càng phát triển, mức tiêu dùng của người dân về các sản phẩm chăn
nuôi ngày càng tăng lên cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm. Do vậy
mức đầu tư của xã hội cho ngành chăn nuôi ngày càng có xu hướng tăng nhanh
ở hầu hết mọi nền nông nghiệp. Sự chuyển đổi có tính qui luật trong đầu tư
phát triển sản xuất nông nghiệp là chuyển dần từ sản xuất trồng trọt sang phát
triển chăn nuôi, trong ngành trồng trọt, các hoạt động trồng ngũ cốc cũng
chuyển hướng sang phát triển các dạng hạt và cây trồng làm thức ăn chăn nuôi.
Chăn nuôi đại gia súc là ngành chăn nuôi quan trọng ở nước ta và nhiều
nước trên thế giới. Nó là nguồn cung cấp thịt, sữa, sức kéo, phân bón… phục
vụ cho nhu cầu của con người. Theo kết quả điều tra sơ bộ tại thời điểm
1/4/2014 của Tổng cục Thống kê, cả nước có 2,58 triệu con trâu, tương đương
cùng kỳ năm trước; 5,18 triệu con bò, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước.

Nghiên cứu nguồn thức ăn gia súc tại các bãi chăn thả và một số mô hình
khai thác thức ăn gia súc tại xã Khôi Kỳ, đánh giá hiệu quả kinh tế của từng mô
hình chăn nuôi gia súc theo hộ gia đình. Từ đó đề xuất mô hình khai thác và sử
dụng hợp lý thức ăn trong chăn nuôi gia súc.

2


Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới
Trên thế giới, ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển, vấn đề
thức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như: Anh, Úc, Mỹ, Brazin ….
Có rất nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu về cây thức ăn cho gia súc như: T.
Kanno, M. C. M. Macedo, John W. Miles...
Ở Inđonêxia, trong tình hình thức ăn của trâu, bò chiếm 56% là cỏ tự
nhiên, 21% là rơm, 16% là cây lá khác và 7% là phụ phẩm thì trong 4 giải pháp
để giải quyết thức ăn là thâm canh, trồng giống cỏ tốt (cỏ Voi và cây Đậu) [31].
Thái Lan đã nghiên cứu 19 giống của chi Brachiria thuộc bốn loài
(Brachiaria decubens, Brachiaria brizontha, Brachiria humidicola, Brachiria
fubata) đã xác định được bảy giống có năng suất hạt và năng suất chất xanh ở
mùa khô khá. Những giống này được tiếp tục khảo nghiệm và nhân ra diện
rộng. Loài Paspalum atratum nhập vào Thái Lan năm 1995 được đánh giá
trong mục tiêu là cây thức ăn cho đất thấp nó đã thể hiện là giống tốt, chịu đất
chua, ngập nước, sản xuất chất xanh và khả năng sản xuất hạt cao (Chaing
sang Phai Keow, 1999).
Ở Trung Quốc, cây thức ăn gia súc được chú ý phát triển ở khu vực phía
Nam. Trong quá trình nghiên cứu đã xác định được các giống cỏ Stylo,

Năng suất (tấn/ha)

Prôtêin (%)

Brachiaria mutica

Cỏ lông Para

9 - 15

6 - 10

Digitaria decumbens

Pangola

15 - 20

7 – 10

Paspalum atratum

Cỏ đắng

18 - 25

6-7

6 - 10


voi, Pangola, cỏ lông qua thí nghiệm cho thấy các cỏ voi, Tây Nghệ An có tổng
số đơn vị sản xuất ra lớn và có khả năng phát triển trong mùa đông. Tác giả
cũng cho thấy năng suất tỉ lệ thuận lượng phân bón nitơ.
Nông trường Ba Vì, 1983 có báo cáo kết quả nghiên cứu tuyển chọn tập
đoàn cây hòa thảo nhập nội tại Nông trường Ba Vì. Trong 28 giống cỏ được
nghiên cứu thì các tác giả cho thấy: trong những giống thuộc thân đứng thì cỏ
Kingrass và voi selection 1 là tốt hơn cả, năng suất 150 - 180 tấn /ha/năm.
Nhóm thân bụi có cỏ Ghinê với hai chủng Uganda và Australia là tốt hơn, năng
suất 70 - 100 tấn/ha/năm. Nhóm thân bò thì cỏ Pangola Pa 32 là tốt hơn năng
suất 60 - 80 tấn/ha/năm [42].
5


Nguyễn Ngọc Hà và CTV (1985) đã tiến hành nghiên cứu, tuyển chọn
tập đoàn cỏ nhập nội và đưa ra nhận xét: Nhóm cỏ thân cụm Panicum
maximum Liconi và K280 cho năng suất trung bình 17 - 18 tấn VCK/ha/năm
với 7 - 8 lứa cắt [15].
Lê Hòa Bình, Hồ Văn Núng (1987 - 1989) cho biết thảm cỏ Voi xen canh
với các cây họ Đậu trong các điều kiện phân bón hạn chế đạt năng suất chất
xanh 139 - 142 tấn/ha, tăng 24 - 27 tấn/ha so với đối chứng cỏ Voi thuần [4] .
Lê Hòa Bình và cộng sự (1992), khảo sát năng suất cây thức ăn mới nhập
nội ở một số vùng và ứng dụng trong hộ chăn nuôi.[5]
Lê Hòa Bình, Nguyễn Phúc Tiến, Hồ Văn Núng, Đặng Đình Hanh, 1997,
đã nghiên cứu giống cỏ Para, các tác giả cho biết cỏ Para có năng suất 89 - 98
tấn/ha với khối lượng xanh thu trong mùa đông 35 - 45 tấn/ha tương đương 39 47% khi trồng trên đất có độ ẩm cao và có ngập nước [4].
Phan Thị Phần và CTV (1999) [28], khi nghiên cứu cỏ Ghinê TD58 ở khu
vực miền Nam và miền Bắc cho kết quả:
- Khu vực miền Nam, địa điểm nghiên cứu tại vùng đất xám Bình Dương với
20 tấn phân chuồng, 80 kg P2O5, 80 kg K2O và 500 kg vôi/ha/năm. Lượng phân
đạm bón từ 60 - 90 kg N/ha / năm, năng suất chất xanh cỏ Panicum maximum TD

năng suất tăng từ 1,9 đến 2,16 lần, năng suất tăng từ (100 tấn - 120 tấn/ha) [11].
Nguyễn Thu Hồng, Nguyễn Ngọc Tấn, Đinh văn Cải (2006) [18] đã tiến
hành thí nghiệm trồng cỏ tại vùng khô hạn tỉnh Ninh Thuận. Các tác giả cho
biết các giống cỏ hòa thảo như voi, sả, cỏ Ruzi và Paspalum đều có thể sinh
trưởng và phát triển trong điều kiện khô nóng tại Ninh Thuận. Trong điều kiện
tưới nước phân bón năng suất có thể đạt 100 - 150 tấn/ha/năm.
1.2 Những nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài
Trên thế giới, nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên
cứu được tiến hành từ lâu. Người ta có thể nghiên cứu thành phần loài ở từng

7


vùng hay trên từng thảm thực vật khác nhau. Đối với loại hình đồng cỏ, thảo
nguyên, ở Liên Xô có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài thực vật
trong đồng cỏ, thảo nguyên đã công bố như: Alekhin (1904), Vưsotxki (1915),
Graxits (1927), Sennhicop (1938), Creepva (1978)….
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về thành phần loài trong đồng cỏ, savan
hoặc một số loại hình thuộc thảo khác mới chỉ được tiến hành từ những năm
1950 trở lại đây. Nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu thành phần loài trong
đồng cỏ như:
Nguyễn Đình Ngỗi, Võ Văn Chi (1964), đã nghiên cứu thành phần loài của
thảm thực vật ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) đã gọi loại hình này là Savan cỏ [26].
Dương Hữu Thời, Nguyễn Ngọc Chất, Hoàng Chung, Phạm Quang Anh
(1969), khi nghiên cứu thành phần loài đồng cỏ Ngân Sơn (Bắc Kạn) đã gọi
đây là đồng cỏ [34].
Hoàng Chung (1980), nghiên cứu thành phần loài và dạng sống của đồng
cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã đưa ra bảng phân loại các kiểu đồng cỏ, savan,
thảo nguyên. Trong cuốn “Đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam” năm 2004 là

Raunkiaer (1934), đã sử dụng vị trí của chồi và khả năng tồn tại trong
điều kiện bất lợi làm tiêu chuẩn để phân chia và chia thực vật thành 5 kiểu
dạng sống: Chồi trên mặt đất, chồi mặt đất, cây chồi nửa ẩn, cây chồi ẩn và
cây một năm [10]
Xêrêbrriacốp (1964) dựa vào những dấu hiệu hình thái sinh thái và cả những
dấu hiệu như ra quả một lần hay nhiều lần trong cả đời của cá thể, gồm: Ngành A:
Thực vật thân gỗ sống trên đất, bì sinh; Ngành B: Cây bán mộc (nửa gỗ); Ngành
C: Cây thảo. Trong mỗi ngành có các kiểu và các lớp khác nhau [10].
Ở Việt Nam, Doãn Ngọc Chất (1969), nghiên cứu dạng sống của một số
loài họ hoà thảo.
Hoàng Chung (2004)[8], thống kê thành phần dạng sống cho loại hình
đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng
phân loại kiểu đồng cỏ, savan, thảo nguyên của miền Bắc Việt Nam.
Bảng phân loại dạng sống thực vật của đồng cỏ Bắc Việt Nam của ông dựa
trên nguyên tắc phân loại của Golulbép (1962) [10].
9


1.2.3 Nghiên cứu về năng suất cỏ
Năng suất sinh học là một đặc điểm quan trọng của hệ sinh thái. Năng suất
sinh học có ý nghĩa lớn nhất trong nghiên cứu về quy trình trao đổi chất và
năng lượng, tất cả các quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng trong hệ
sinh thái đều có quan hệ mật thiết với quá trình tạo thành và biến đổi của sản
phẩm sinh học [10].
Trên thế giới việc nghiên cứu năng suất của đồng cỏ được tiến hành nhiều
trong những thập niên cuối thế kỷ XX; Những nghiên cứu này thường vẫn tập
trung chủ yếu ở phần trên mặt đất hoặc nghiên cứu tập chung vào chất lượng,
trạng thái sống và chết, sự tăng trưởng của nó; tỷ lệ phần chết hàng năm, lớp
thảm mục. Các công trình nghiên cứu theo hướng này có các tác giả như:
Ivanop (1941); Odum (1968); Rodin (1968).

cỏ ngoài tự nhiên thì hàm lượng dinh dưỡng rất khác nhau như: Đối với cây
rong, bèo,…rau ở dưới nước thì hàm lượng chất khô thường thấp, chiếm tư 16% VCK. Đối với cây trên cạn hàm lượng dinh dưỡng cũng khác nhau như: Cỏ
bạc hà (cỏ vừng) có 11,9% VCK; 1,8% protein thô; 0,5% lipit thô; 2,7% xơ
thô; Cỏ thài lài 10% CVK; 1,7% protein thô; 0,9 lipit thô; 10% xơ thô. Trong
khi đó một số cỏ khác từ 18 - 24% VCK như cỏ Mộc Châu mọc tự nhiên có
23,88% VCK; 2,54% protein thô; 0,51% lipit thô; 8,67% xơ thô. Một số cỏ có
hàm lượng VCK cao (trên 30%) như cỏ sâu róm 30,2% VCK.
Theo Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị, 1976 [1], cỏ Voi tuổi càng nhỏ thì hàm lượng
Protein càng cao, tuổi càng lớn thì tỉ lệ chất xơ càng cao (tỉ lệ nghịch với hàm
lượng protein và nước) cụ thể là 2 tuần tuổi tỉ lệ nước là 89,56%; 2,67% xơ thô;
protein cỏ khô là 18,42%, khi cỏ 4 tuần nước là 87,4%; 3,7% xơ; 11,49%
protein trong cỏ khô. Thành phần hoá học có trong các giống cỏ tập trung chủ
yếu vào 4 chỉ tiêu đó là: vật chất khô (VCK), Protein, đường, chất béo và xơ.
Hoàng Chung và cộng sự (2004) đã tiến hành nghiên cứu và theo dõi một
số chỉ tiêu về thành phần hoá học của một số loài chính trong đồng cỏ Bắc Việt
Nam. Ví dụ: Cỏ lông có 76,7% nước; 1,954 % đạm; 7,86% protein; 1,379%

11


đạm amin; 1% lipit; 8,8% chất xơ. Cỏ Sả có 70,4% nước; 2,306% đạm, 9,61%
protein; 1,686% đạm amin; 1,9% lipit; 9,3% xơ. Cỏ tranh có 74% nước;
1,945% đạm; 9,747% protein; 1,71% đạm amin; 1,1% lipit; 8,8% xơ... [8].
Những giống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất vật chất khô, Protein,
đường cao, tỉ lệ xơ trong thức ăn thấp, tỉ lệ lá/thân cao, trong đó chỉ tiêu Protein
được chú ý nhiều hơn cả.
1.3. Vấn đề thoái hoá đồng cỏ do chăn thả và sử dụng hợp lý đồng cỏ Bắc
Việt Nam
1.3.1 Vấn đề thoái hoá đồng cỏ do chăn thả
Hiện nay đồng cỏ đã và đang bị thoái hoá nghiêm trọng do các tác động

ông đã đề cập đến 2 nguyên nhân của sự thoái hoá đồng cỏ Bắc Việt Nam là do
cường độ chăn thả và điều kiện khí hậu [35].
Hoàng Chung (1981, 1983, 2003) sau hơn 10 năm nghiên cứu tại đồng cỏ ở
vùng Thôm Luông (Ngân Sơn) đã phân tích ảnh hưởng của sự chăn thả không có
kế hoạch trên sự thay đổi thành phần loài, cấu trúc và năng suất của thảm cỏ và
đã đưa ra kết luận về quá trình thoái hoá đồng cỏ Bắc Việt Nam như sau:
“Những thay đổi đầu tiên của lớp phủ thực vật đã dẫn đến sự hình thành các
quần xã cỏ ở đây, những thảm cỏ này dưới sự tác động thường xuyên nhưng
không thật nặng nề của con người như chăn thả, đốt nương rẫy, sẽ dẫn tới hình
thành loại hình đồng cỏ khô, á thảo nguyên và đồng cỏ. Khi chăn thả nặng nề
hơn sẽ dẫn đến sự thay đổi phức tạp của thành phần loài ở từng quần xã, đó là
sự thay đổi các loài đang mọc bằng những loài từ ngoài đi vào, loài bản địa bị
thay thế bởi loài phổ biến rộng rãi, đồng thời đơn giản hoá cấu trúc quần xã,
giảm bớt khoảng không phân bố của lớp phủ thực vật, giảm năng suất của nó.”
Trên cơ sở đó đã chia quá trình thoái hoá đồng cỏ do sử dụng thành 5 giai đoạn:
Bắt đầu từ trạng thái đồng cỏ đến giai đoạn hình thành savan cây bụi [8].
1.3.2 Vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ Bắc Việt Nam
Đồng cỏ phía Bắc Việt Nam chủ yếu là có nguồn gốc thứ sinh do hoạt
động khai phá rừng, do đó diện tích đồng cỏ ngày càng được mở rộng. Hiện
nay, đồng cỏ được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như làm bãi chăn
13


thả, trồng rừng, trồng cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp... Trong
thực tế, tại các vùng có sử dụng đồng cỏ vào mục đích chăn nuôi gia súc, hầu
như chưa có phương thức sử dụng và khai thác hợp lý đồng cỏ làm cho thảm cỏ
ngày càng thoái hoá mạnh.
Những công trình nghiên cứu về việc sử dụng hợp lý đồng cỏ còn ít, có ở
một số công trình như: Dương Hữu Thời (1981) [35], có đề cập đến một số vấn
đề sử dụng hợp lý như: luân phiên đồng cỏ, trồng cỏ, diệt trừ cây bụi.

đổi tùy theo mục đích sử dụng và mật độ gieo trồng. Nếu thu hoạch làm thức ăn
xanh sau 40 – 50 ngày cho năng suất 12,6 tấn /ha. Sau 4 – 5 tháng cho 25 – 40
tấn/ ha và nếu đất tốt tới 100 – 200 tấn /ha xanh hay hơn, nhứng ở nhiệt đới
nằm trong khoảng 8 – 70 tấn/ha xanh hay 2 – 20 tấn chất khô/ha [36].
- Ngọn, lá mía: Ở nước ta có diện tích mía khá lớn. Khi thu hoạch thân
cây mía để làm đường, phần còn lại thải ra là ngọn, lá mía với số lượng rất lớn,
có thể sử dụng làm thức ăn cho trâu bò thay thế một phần cỏ rất tốt. Ngọn, lá
mía có hàm lượng đường cao, nhưng nhiều xơ và nghèo các chất dinh dưỡng
khác hơn cỏ xanh [17].
- Một số loại cỏ:
+ Cỏ tự nhiên trên bờ ruộng, ven đê, gò bãi: Cỏ may, cỏ gà, cỏ tranh, cỏ
chỉ, cỏ ống, cỏ lá tre, cỏ mật,.... Cỏ bờ ruộng thường được cắt về cho bò ăn, các
nơi khác chăn thả hoặc dắt [17].
+ Một số loài cỏ trồng như: Cỏ Dầy, cỏ Voi, cỏ Ghinê, cỏ Stylo, cỏ Ruzi,
cỏ VA 06... Các loài cỏ này cho năng suất và chất lượng khá tốt.
Ngoài ra, một số loại thức ăn khác như rơm tươi, các loại rau xanh (lá cải
bắp, lá xu hào, cải xanh ...), lá sắn, dây khoai lang, rau muống và các loại phế,
phụ phẩm khác (ngọn, vỏ dứa thải ra từ nhà máy chế biến dứa ...) cũng có thể
được sử dụng thay thế một phần cỏ tươi trong những lúc khan hiếm.
1.4.1.2 Thức ăn thô khô
Tất cả các loại cỏ xanh tự nhiên thu cắt và các loại phế phụ phẩm của cây
trồng đem phơi khô có hàm lượng xơ trên 18% đều là thức ăn thô khô. Bao

15


gồm: cỏ khô họ đậu hoặc hòa thảo, rơm rạ, dây lang, dây lạc và thân cây ngô...
phơi khô. Rơm cỏ khô là loại thức ăn dự trữ cho trâu bò về mùa đông rất tốt.
Nếu có điều kiện nên tổ chức cắt, phơi cỏ để làm cỏ khô đảm bảo cung cấp
thức ăn cho trâu bò về mùa đông khi thiếu cỏ tươi [17]. Ngoài ra còn gồm vỏ

nhờ gió (Võ văn Chi và Dương Đức Tiến, 1976) [7]. Căn cứ vào hình dáng của
thân và đặc điểm sinh trưởng, người ta chia cỏ hoà thảo thành các loại sau:
- Loại thân rễ: Đại diện là cỏ tranh (Imperata cylindrica).
- Loại thân bụi: Đại diện là cỏ Ghine (Panicum maximum), cỏ Mộc Châu...
- Loại thân bò: Đại diện là cỏ pangola, lông Para, cỏ xích lô
- Loại thân đứng: Đại diện loại này là cỏ Voi .
1.4.2.3 Đặc tính sinh lý
Nhu cầu về nước:
Cỏ hoà thảo có nhu cầu về nước cao do bộ lá lớn, hệ số toả hơi nước lớn
hơn họ đậu. Hệ số toả hơi nước của cỏ này vào khoảng 400 - 500 gram, trong
khi của cỏ họ Đậu 214 - 216 gram. Theo N.G. Andreep (1974), với đồng cỏ có
độ ẩm đất khoảng 70%, một tháng 10m 2 cỏ bay hơi khoảng 1m3 nước, trong 5
tháng sẽ có 50 tạ cỏ khô/1ha.
Độ ẩm của đất cũng yêu cầu theo từng giai đoạn trong đời sống của cây:
- Từ nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 - 30 %
- Giai đoạn phát triển cành : 75 %
- Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần.
Nhu cầu về dinh dưỡng:
Cỏ hoà thảo đòi hỏi đất tốt, giàu mùn, đạm, lân và kaly. Nhu cầu về dinh
dưỡng cũng chia theo từng giai đoạn (Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời,
1981) [22]:
- Giai đoạn 1 (nảy mầm - phân nhánh) cần nhiều đạm, lân, kaly.
- Giai đoạn 2 (phân nhánh) cần nhiều đạm, lân.
- Giai đoạn 3 (ra hoa, hình thành hạt) cần nhiều lân và kaly.
Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn.
Trên đất nghèo không có phân bón thì đời sống thường kéo dài không quá
3 - 5 năm. Trên đất phì nhiêu hay thường xuyên có phân bón có thể kéo dài 10
năm, có khi hơn.
17





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status