1
LÊNIN NÓI VỀ TÍNH ÍCH LỢI CỦACHỦ NGHĨA
TƯ BẢN NHÀ NƯỚC. Ý NGHĨA CỦA NÓ VỚI VIỆC NÂNG CAO
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THÀNH PHẦN KINH TẾ NÀY Ở NƯỚC TA
Lê nin là người mác xít đầu tiên đã có công nghiên cứu sâu sắc vấn đề
chủ nghĩa tư bản nhà nước, xây dựng nên những nền tảng lý luận về chủ nghĩa tư
bản nhà nước trong điều kiện cách mạng vô sản thành công và đã áp dụng lý
luận này vào nước Nga sau thời kỳ cộng sản thời chiến.
Lý luận về chủ nghĩa tư bản nhà nước của Lênin được trình bày ở nhiều
bài viết, tác phẩm, song tập trung và rõ nét nhất là trong: “Chính sách kinh tế
mới” (NEP). Ở tác phẩm này, Lênin đề cập, phân tích nhiều nội dung, trong đó,
Ông đặc biệt nhấn mạnh đến tính ích lợi của việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Lịch sử đã, đang và sẽ có nhiều thay đổi lớn, nhưng tư tưởng này của
Lênin vẫn còn nguyên giá trị – một chỉ dẫn hết sức quan trọng cho những người
cộng sản. Vậy, chủ nghĩa tư bản nhà nước được hiểu như thế nào? sử dụng nó
trong thời kỳ quá độ sẽ mang lại những ích lợi gì? nghiên cứu vấn đề này có ý
nghĩa gì trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của thành phần kinh tế chủ
nghĩa tư bản nhà nước ở nước ta hiện nay? Dưới đây tác giả lần lượt làm rõ
những vấn đề đặt ra.
Chúng ta biết rằng, trước và ngay trong quá trình tiến hành đại hội X
Đảng Cộng sản (b) Nga, đã có nhiều ý kiến phản đối của những người cộng sản
và của nông dân Nga đối với chính sách phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước và
coi nó như một thành phần kinh tế trong nền kinh tế quá độ. Chẳng hạn,
Prêôbragienxki cho rằng, “Chủ nghĩa tư bản nhà nước là chủ nghĩa tư bản, và ta
có thể và cần hiểu như thế thôi”. Còn nông dân thì chế nhạo: các anh đã tống cổ
2
không thể không dẫn đến chỗ phân hóa những người sản xuất hàng hóa ra thành
kẻ sở hữu tư bản và người sở hữu sức lao động, nghĩa là xuất hiện lại chế độ tư
bản chủ nghĩa. Cho nên sự phát triển trao đổi tư nhân, tức là phát triển chủ nghĩa
tư bản, một sự xuất hiện không thể tránh khỏi khi có hàng triệu người sản xuất
nhỏ. Lênin chỉ rõ, tự do buôn bán là “khôi phục chủ nghĩa tư bản trên một mức
độ lớn”, là tự do của chủ nghĩa tư bản. Với chính sách kinh tế mới, chủ nghĩa tư
bản sẽ nảy nở ở những nơi mà trước đây, chúng không thể nảy nở được. Nhưng
“nếu tìm cách ngăn cấm và chặn đứng sự phát triển nó thì sẽ là một sự dại dột và
tự phát”.Từ đó thấy được sự cần thiết phải dung nạp chủ nghĩa tư bản, vì nó cần
cho đông đảo quần chúng nhân dân và những người sản xuất nhỏ để thỏa mãn
nhu cầu. Muốn không thay đổi bản chất của mình, nhà nước vô sản chỉ có thể
thừa nhận cho chủ nghĩa tư bản được phát triển trong một chừng mực nào đó và
chỉ với điều kiện là thương nghiệp tư nhân và tư bản tư nhân phải phục tùng sự
điều tiết của nhà nước, phải tìm cách hướng chúng vào con đường của chủ nghĩa
tư bản nhà nước bằng “một tổ chức của nhà nước và những biện pháp có tính
chất nhà nước từ bên trên”.
Như vậy, trong điều kiện nhà nước vô sản, tự do trao đổi, mua bán tất
yếu dẫn đến sự phục hồi của chủ nghĩa tư bản dưới hình thức chủ yếu là chủ
nghĩa tư bản nhà nước. Lênin khẳng định: “ở chỗ nào có những thành phần tự do
buôn bán và những thành phần tư bản chủ nghĩa nói chung, thì ở đó có chủ nghĩa
tư bản nhà nước dưới hình thức này hay hình thức khác, ở trình độ này hay trình
độ nọ”.
Thứ hai, trong điều kiện một nước mà chủ nghĩa tư bản tiểu tư sản chiếm
ưu thế, hàng hóa chỉ có thể có được từ nông dân, từ nông nghiệp. Và như vậy,
chỉ có những nông sản hàng hóa này trao đổi với nông sản hàng hóa khác, điều
đó sẽ không kích thích nông dân, nông nghiệp phát triển. Phải có những hàng
4
Bản thân chủ nghĩa tư bản nhà nước chính là sự “kết hợp, liên hợp, phối hợp
giữa nhà nước Xô Viết, nền chuyên chính vô sản với chủ nghĩa tư bản”; là “chủ
nghĩa tư bản do nhà nước vô sản kiểm soát và điều tiết sự phát triển”; là “chính
quyền nhà nước trực tiếp khống chế những xí nghiệp tư bản chủ nghĩa”, qua đó
mà huy động các nhân tố vật chất kỹ thuật của cả chủ nghĩa xã hội lẫn chủ nghĩa
tư bản, cả ở trong nước lẫn ngoài nước để phát triển kinh tế và xã hội, mà trước
hết là tăng nhanh trình độ của lực lượng sản xuất; chủ nghĩa tư bản nhà nước
được xem là “mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, là
phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng cường lực lượng
sản xuất”; là “công cụ để gắn kết nền sản xuất nhỏ lại, khắc phục tình trạng
phân tán và đấu tranh chống tính tự phát tư bản chủ nghĩa”. Với nghĩa đó, trong
điều kiện mới đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà
nước sẽ mang lại rất nhiều những ích lợi: có thể cải thiện được nhanh chóng tình
trạng sản xuất, đời sống của công nhân và nông dân, nền đại công nghiệp sẽ
được khôi phục. Lênin khẳng định, đây là cái lợi cơ bản, cấp thiết nhất của giai
cấp vô sản khi mới giành được chính quyền. Rõ ràng, sự đánh giá này là một
điều hoàn toàn mới mẻ mà trong lịch sử chưa có nhà lý luận nào nêu lên được.
Lênin luận giải, vì nền công nghiệp lớn, hiện đại chưa được xây dựng,
các cơ sở kinh tế nhỏ không nhận được sự giúp đỡ hỗ trợ của công nghiệp lớn,
chúng không bị sức hút nào cả, nên kinh tế nhỏ vẫn tồn tại một cách độc lập
trong chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện ấy, chủ nghĩa tư bản nhà nước sẽ là sự
liên hợp nền sản xuất nhỏ lại, bởi vì chủ nghĩa tư bản là xu hướng và là kết quả
phát triển của nền sản xuất nhỏ. Lênin viết: “tư bản làm cho sản xuất nhỏ liên
hợp lại, tư bản sinh ra từ nền sản xuất nhỏ”. Còn đối với nông nghiệp, Lênin cho
rằng, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản do nhà nước vô sản kiểm soát và điều
tiết có thể đẩy nhanh sự phát triển ngay tức khắc nền nông nghiệp. Nhờ tăng
6
một mối nguy hại, đáng sợ nhất, nó sẽ đưa đất nước đến chỗ diệt vong. Lênin
dẫn chứng trong lịch sử đó là: bọn Napôlêông và Cavainhắc lật đổ cách mạng
hồi trước chính là do chúng phát triển trên cơ sở tiểu tư hữu. Do vậy, nếu khắc
phục được tình trạng hỗn độn, vô chính phủ đó thì “những con chủ bài đều nằm
trong tay công nhân và sẽ bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội được củng cố”. Với ý
nghĩa ấy mà chủ nghĩa tư bản nhà nước sẽ đưa nước Nga lên chủ nghĩa xã hội
bằng con đường chắc chắn nhất.
Chủ nghĩa tư bản nhà nước còn là công cụ để khắc phục được “kẻ thù
chính trong nội bộ đất nước, kẻ thù của các biện pháp kinh tế của chính quyền
Xô Viết. Đó là bọn đầu cơ, bọn gian thương, bọn phá hoại độc quyền nhà nước.
Lênin cho rằng, không thể giải quyết vấn đề này bằng các biện pháp sử bắn hoặc
“những lời tuyên bố sấm sét”, bởi vì tiền đề kinh tế của bọn đầu cơ là tầng lớp
những kẻ tiểu tư hữu và chủ nghĩa tư bản tư nhân, có đại diện của mình trong
mỗi người tiểu tư sản. Thông qua việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, với
sự kiểm soát và điều tiết của nhà nước vô sản, những “kẻ thù” này sẽ được hạn
chế và dần dần mất đi. Đây là một điều có lợi cho chính quyền Xô viết, cho
những người dân lao động.
Không những chỉ có vậy, mà theo Lênin, chủ nghĩa tư bản nhà nước còn
được xem là công cụ đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu, và những lệch lạc
quan liêu chủ nghĩa. Khi nói tới thực chất của “chính sách kinh tế mới”, Lênin
đã đề cập đến nhiệm vụ “đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu và tác phong lề
mề”. Vì sao và thông qua chính sách kinh tế mới mà có thể thực hiện được
nhiệm vụ này? Lênin phân tích và chỉ ra nguồn gốc kinh tế của chủ nghĩa quan
liêu ở Nga: đó là tình trạng riêng rẽ, tình trạng phân tán của những người sản
xuất nhỏ, cảnh khốn cùng của họ, tình trạng không có đường xá, mù chữ, không
có trao đổi giữa nông nghiệp với công nghiệp, tình trạng thiếu mối quan hệ gắn
8
xuất quy mô toàn quốc, trên cơ sở chủ nghĩa tư bản nhà nước, thì khi ấy…sẽ bảo
đảm cho chủ nghĩa xã hội được củng cố”.
Điều này lại gợi cho chúng ta nhớ đến lời chỉ dẫn của Lênin trong tác
phẩm: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”, ở đó Ông đánh giá
rất cao phương pháp Tay lo, rằng, “nó bao hàm một sự tiến bộ lớn của khoa học,
nó phân tích một cách có hệ thống quá trình sản xuất và mở đường cho việc nâng
cao sức lao động của con người”. Từ đó Lê nin đã nhắc nhở: “chúng ta phải áp
dụng phương pháp Tay lo và nâng cao năng suất lao động theo kiểu khoa học
của người Mỹ trong cả nước Nga, kết hợp phương pháp ấy với việc giảm bớt
thời gian lao động, với việc sử dụng những phương pháp sản xuất và tổ chức lao
động mới mà không gây ra một thiệt hại nào đối với sức lao động của nhân dân
lao động”.
Chủ nghĩa tư bản nhà nước thông qua sự “du nhập” của tư bản từ bên
ngoài là hình thức du nhập tiến bộ kỹ thuật hiện đại; qua đó mà hy vọng có được
trình độ trang bị cao của chủ nghĩa tư bản. Nếu không lợi dụng kỹ thuật đó thì
không xây dựng tốt được cơ sở của nền đại sản xuất của chính quyền Xô Viết, và
lẽ đương nhiên, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ trở nên rất khó khăn.
Cũng theo Lênin, chủ nghĩa tư bản nhà nước còn mang lại cái lợi là,
thông qua sự phát triển nó mà phục hồi được giai cấp công nhân. Nếu chủ nghĩa
tư bản được lợi thế, thì sản xuất công nghiệp cũng sẽ được tăng lên và giai cấp
vô sản cũng theo đó mà tăng lên nhanh. Nếu chủ nghĩa được khôi phục lại thì
cũng có nghĩa là sẽ khôi phục lại giai cấp vô sản và tạo ra được một giai cấp vô
sản ccông nghiệp, vì chiến tranh, vì bị phá nên đã bị mất hết tính giai cấp, nghĩa
là đã bị đẩy ra ngoài con đường tồn tại giai cấp của mình và không còn tồn tại
với tư cách là giai cấp vô sản nữa. Đôi khi về hình thức nó đã được coi là giai
cấp vô sản, nhưng nó không có gốc về kinh tế.
10
tan vỡ, không ít quần chúng nông dân có tư tưởng chống lại chính quyền Xô
Viết. Nước Nga như “một người bị đánh gần chết”.
Qua kinh nghiệm thực tiễn, Lênin đã rút ra kết luận là không thể xây
dựng chủ nghĩa xã hội trên cơ sở cưỡng bức kinh tế, coi thường lợi ích của người
sản xuất cũng như phân phối bình quân. Người đã dũng cảm thừa nhận: “chúng
ta đã thất bại trong cái ý định dùng phương pháp “xung phong”, nghĩa là dùng
con đường ngắn nhất, nhanh nhất, trực tiếp nhất để thực hiện việc sản xuất và
phân phối theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa”.
Cuối năm 1922, Lênin đã quyết định chuyển sang thực hiện “Chính sách
kinh tế mới” (NEP). Thực chất của chính sách này là, thực hiện nền kinh tế nhiều
thành phần và cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước; sử dụng rộng rãi
chủ nghĩa tư bản nhà nước thông qua các hình thức như: tô nhượng, hợp tác xã,
đại lý uỷ thác, cho thuê, liên doanh liên kết…; mở cửa với bên ngoài cho các tư
bản đầu tư trực tiếp.
Sau 6 năm thực hiện “Chính sách kinh tế mới”, kinh tế xã hội của nước
Nga đã phục hồi và phát triển nhanh chóng. Trình độ của nền sản xuất xã hội
được nâng cao, tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún được khắc phục, nông
nghiệp đã khôi phục ở mức trước chiến tranh, sản lượng công nghiệp tăng hai
lần; đời sống người lao động được cải thiện, xã hội dần đi vào ổn định, giai cấp
công nhân lớn mạnh cả về số lẫn chất lượng, khối liên minh công nông được
củng cố, sức mạnh của chính quyền Xô viết được tăng cường.
Nghiên cứu những vấn đề mà Lênin nêu ra trên đây cho chúng ta có thêm
những hiểu biết mới về sự ra đời và tồn tại của chủ nghĩa tư bản nhà nước. Có
thêm cơ sở để đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái cho rằng, sử dụng
chủ nghĩa tư bản nhà nước là trở về với chế độ tư bản hoặc chủ nghĩa tư bản nhà
nước tồn tại gắn liền và là bộ phận của chủ nghĩa xã hội…
12
Chủ nghĩa tư bản nhà nước ra đời trong điều kiện “cần có sự mềm dẻo tối
đa” như Lênin nói. Đồng thời phải có một bộ máy nhà nước thực sự vững mạnh.
Nhưng thế nào là một nhà nước vững mạnh?
Trước hết, đó là một bộ máy có khả năng thích ứng với mọi hoàn cảnh,
biết “nghiên cứu một cách chính xác phạm vi của hiện tượng và tìm ra được
những biện pháp phù hợp để điều tiết”. Chẳng hạn, nếu còn sản xuất hàng hóa,
kinh tế tư bản chủ nghĩa còn là điều cần thiết thì phải để cho nó tồn tại và tạo
điều kiện để nó phát triển. Điều quan trọng là, phải điều tiết được sự phát triển
ấy, hướng nó vào chủ nghĩa tư bản nhà nước bằng các biện pháp kinh tế và bằng
pháp luật. Tự do sản xuất kinh doanh và phát triển trong một hành lang nhất
định, bảo đảm tuân thủ đúng pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa và không
vi phạm đến lợi ích của người lao động.
Bộ máy nhà nước vững mạnh phải là bộ máy “thực sự cứng rắn”. Chúng
ta không bao giờ được quên nhận xét của Lênin rằng, chủ nghĩa tư bản nhà nước
là “cuộc chiến tranh kinh tế”, rằng cho dù “sự điều tiết ấy có thành công hoàn
toàn chăng nữa, thì sự đối lập về lợi ích giai cấp của lao động và của tư bản nhất
định vẫn còn tồn tại”. Do vậy, nhà nước phải kịp thời phát hiện, ngăn chặn và
trừng trị nghiêm các hoạt động vượt ra khỏi khuôn khổ pháp luật và quy luật
kinh tế. Mặt khác, cũng cần hiểu, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước không
phải là thủ tiêu đấu tranh giai cấp. Trái lại, nó là cuộc đấu tranh giai cấp trong
điều kiện mới (giai cấp vô sản nắm chính quyền), với hình thức mới (đấu tranh
bằng kinh tế được thay cho đấu tranh bằng súng đạn), quyết liệt, thường xuyên.
Do đó, khi sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, giai cấp vô sản và nhà nước xã
hội chủ nghĩa phải luôn tỉnh táo, nhạy bén để chủ động khắc phục những tiêu cực
có thể xảy ra.
14
Bộ máy nhà nước vững mạnh còn là bộ máy có cơ sở chính trị vững
và theo pháp luật.. Ở một trình độ văn minh nhất định của loài người – nền kinh
tế thị trường, không thể quản lý xã hội một cách tuỳ tiện, theo ý chủ quan, mà
phải bằng pháp luật. Cũng như không thể chuyển sang thực hiện cơ chế thị
trường khi chưa có nến tảng pháp lý. Ở đâu, khi nào mà chuyển sang cơ chế thị
trường mà thiếu vắng nền tảng pháp lý thì ở nơi đó, lúc đó xảy ra tình trạng hỗn
loạn, không thể có một thị trường lành mạnh.
Để sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước thực sự có hiệu quả, đúng như
mong đợi của chúng ta, điều cần làm hiện nay là, triển khai một loạt hoạt động
bắt đầu từ sự thống nhất một số quan niệm cơ bản đến những hoạt động lập
pháp, hành pháp cụ thể.
Không thể sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước nếu không có sự thống
nhất quan niệm về chủ nghĩa tư bản trong điều kiện quá độ ở nước ta hiện nay.
Lẽ đương nhiên đây là thứ chủ nghĩa tư bản phát triển dưới sự giám sát, điều tiết
của nhà nước. Song dù sao nó vẫn là chủ nghĩa tư bản. Việc phát triển lâu dài các
thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư nhân chiếm hữu về tư liệu sản xuất trong
thời kỳ quá độ ở nước ta là việc làm hợp quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử,
là tạo động lực thúc đẩy người dân tự nguyện bỏ vốn đầu tư, hăng say, tích cực
làm giàu, vừa ích nước, vừa lợi nhà. Sự phát triển ấy cũng góp phần to lớn trong
việc thu hút các nguồn lực từ bên ngoài để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất
nước.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, tạo lập đồng bộ các yếu
tố thị trường và các loại thị trường; bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về
kinh tế (nhất là những vấn đề có liên quan đến sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà
nước), đẩy mạnh đổi mới công tác kế hoạch hóa, các công cụ quản lý kinh tế.
Cùng với cải cách bộ máy theo hướng tinh gọn, phải thực sự coi trọng công tác
16
đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, trình độ và năng lực, kiến thức cho đội