TIỂU LUẬN tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về VAI TRÒ của NHÂN tố CHÍNH TRỊ TINH THẦN TRONG CHIẾN TRANH NHÂN dân bảo vệ tổ QUỐC - Pdf 40

HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ NHÂN TỐ CHÍNH TRỊ - TINH THẦN
TRONG CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VIỆT NAM
Chiến tranh bao giờ cũng vận động theo quy luật hết sức nghiệt ngã là mạnh
được yếu thua. Quy luật hiển nhiên này, mọi người đã rõ. Tuy nhiên, việc nhận
biết thế nào là mạnh, thế nào là yếu lại không đơn giản chút nào; việc đánh giá so
sánh lực lượng giữa các bên tham chiến nhiều khi rất khác nhau, thậm chí trái
ngược nhau và trong nhiều trường hợp đến khi kết thúc chiến tranh người ta mới
có thể có được kết luận rõ ràng bên nào mạnh, bên nào yếu, nhân tố nào là nhân tố
quyết định sự thắng thua.
Có những luận thuyết đề cao sức mạnh quân sự đơn thuần, nhấn mạnh vai
trò của vũ khí kỹ thuật, coi đó là yếu tố quyết định. Nhưng cũng lại có những quan
điểm nhìn trong sâu thẳm sức mạnh của con người và cho rằng, con người bao giờ
cũng là nhân tố quyết định trong mối quan hệ với vũ khí kỹ thuật, nhân tố chính trị
- tinh thần là nhân tố “rốt cuộc” quyết định thành bại trong chiến tranh. Những
quan điểm khác nhau trong đánh giá vai trò của các nhân tố trong chiến tranh tất
yếu dẫn đến sự khác nhau về tư tưởng chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật, phương thức
tiến hành chiến tranh, cách đánh ..., phản ánh sự khác nhau căn bản, sự đối lập
nhau về nguyên tắc giữa hệ tư tưởng quân sự tư sản và hệ tư tưởng quân sự vô sản.
Việc đánh giá vị trí, vai trò của các nhân tố cấu thành sức mạnh chiến tranh
không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan, mà đòi hỏi phải có thái độ thật sự khách
quan và được dựa trên phương pháp khoa học chắc chắn. Sự thành bại, thắng thua
trong chiến tranh của các bên tham chiến phụ thuộc rất lớn vào sự đánh giá đó. Bởi
vì, như Tôn Tử, nhà lý luận quân sự xuất chúng thời cổ đại bên Trung Quốc có nói:
“Chiến tranh là việc lớn của quốc gia, nó có quan hệ đến sự sống chết của nhân
dân, sự mất còn của đất nước, không thể không suy xét một cách thận trọng” 1. Sự
suy xét một cách thận trọng phải được biểu hiện cụ thể ngay trong việc đánh giá và

1 Tôn - Ngô binh pháp, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, 1994, tr33


xây dựng những nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của chiến tranh, đối với tất cả



tranh. Có hiểu như thế mới có thể hiểu được ý nghĩa thực sự của nhân tố chính trị
- tinh thần trong chiến tranh theo quan điểm mác xít - lêninnít. Mối quan hệ giữa
con người và vũ khí là mối quan hệ thống nhất biện chứng trong việc tạo nên sức
mạnh chiến đấu của quân đội. Vũ khí kỹ thuật là khả năng vật chất có ý nghĩa rất
quan trọng trong chiến tranh, nhất là trong chiến tranh có sử dụng vũ khí công
nghệ cao. Sự thay đổi về vũ khí trang bị tất yếu dẫn đến sự biến đổi về nghệ thuật,
phương thức tiến hành chiến tranh, cách đánh…Nhưng nhân tố con người lại là
nhân tố quyết định hiệu quả thực tế trên chiến trường, làm tăng thêm giá trị của vũ
khí; vũ khí chỉ là phương tiện để con người sử dụng và phát huy sức mạnh của
mình trong quá trình chiến tranh. Tuy nhiên, cần thấy rằng sự phát triển của vũ khí,
trang bị và phương tiện chiến tranh đòi hỏi con người phải nhận thức và hành động
trên cơ sở tính năng tác dụng của nó. Đó là điều kiện vất chất để con người tin vào
khả năng sức mạnh của chính mình và thực hành các hành động chiến đấu. Vũ khí
kỹ thuật không bao giờ có thể thay thế được vai trò con người, trái lại nó càng làm
gia tăng giá trị và vai trò của con người trong chiến tranh.
Nắm vững học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh nói chung, về vai trò của
nhân tố con người, nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh nói riêng, tiếp thu
tinh hoa văn hoá quân sự thế giới, kề thừa truyền thống, nghệ thuật quân sự Việt
nam, Hồ Chí Minh bàn đến chính trị - tinh thần của chiến tranh nhân dân Việt Nam
một cách sâu sắc và toàn diện, đồng thời đặt nó trong tổng thể nội dung cấu thành
sức mạnh toàn diện của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh phải đặt trong
tổng thể các nhân tố tạo nên sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam, gắn với
tư tưởng quân sự của Người, gắn với quá trình tiến hành chiến tranh nhân dân
chống xâm lược do Đảng ta và Người lãnh đạo.
1.1 Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh
thần hy sinh của toàn thể một dân tộc
Hiếm có một dân tộc nào trên thế giới như dân tộc Việt Nam, trong quá trình

vai trò của quần chúng nhân dân đối với công cuộc giữ nước chống ngoại xâm.
Ông cho rằng, chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân; đồng thời chỉ ra
trong chiến tranh thì phải đoàn kết một lòng “hoà nước sông chén rượu ngọt ngào”
để tập hợp “bốn phương manh lệ”. Người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã từng
nêu rõ mục đích của phong trào Tây sơn là “Kéo cùng dân ra khỏi chốn lầm than”


và trong bài Chiếu lên ngôi đã chỉ rõ việc lên ngôi Vua “cốt ý quét sạch loạn lạc,
cứu vớt dân trong vòng khói lửa”1.
Với những nhận thức tiến bộ ấy, các nhà lãnh đạo các cuộc kháng chiến
chống xâm lược trong lịch sử nước nhà đã giương cao ngọn cờ dân tộc, quy tụ
được lòng người, thực hiện được chính sách đoàn kết toàn dân đứng lên chống
giặc. Nhờ vậy, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta trong lịch sử
đã thu hút sự tham gia đông đảo quảng đại quần chúng nhân dân. Quần chúng nhân
dân không chỉ gia nhập vào các đội quân chiến đấu của triều đình, của các lộ, các
địa phương; mà họ còn tự xây dựng nên các đội dân binh, hương binh ở các thôn
xã, làng bản, họ tự đứng lên và tổ chức đánh giặc tại quê hương mình. Chính điều
đó đã tạo nên truyền thống “cả nước đánh giặc”, “trăm họ đều là binh” rất đặc sắc
trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta.
Đặc điểm lịch sử dân tộc Việt Nam phải thường xuyên chống kẻ thù có tiềm
lực kinh tế, quân sự lớn mạnh hơn; những nhận thức tiến bộ của những nhà lãnh
đạo đất nước đối với dân và vai trò của dân trong chiến tranh; và sự đóng góp sức
người, sức của của mọi tầng lớp nhân dân với nhiều hình thức rất phong phú đa
dạng … tất cả điều đó đã làm cho các cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân
tộc ta mang tính nhân dân sâu sắc, phản ánh sức mạnh vô địch của “tinh thần hy
sinh của toàn thể một dân tộc” mà không quân đội nào có thể chiến thắng được.
Tinh thần ấy, sức mạnh ấy đã được Hồ Chí Minh nhìn nhận một cách chính
xác, đánh giá một cách thấu đáo và đưa thêm nội dung mới, nâng lên tầm cao mới
trong điều kiện lịch sử mới.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công được ít ngày, trong Lời kêu gọi

chiến tranh nhân dân được Hồ Chí Minh nói đến rất nhiều lần trong các bài nói, bài
viết của mình, trong quá trình Người lãnh đạo, chỉ đạo các cuộc kháng chiến của
dân tộc và được sử dụng một cách thống nhất.
Tư tưởng kháng chiến toàn dân, chiến tranh nhân dân của Hồ Chí Minh phản
ánh sâu sắc quyết tâm sắt đá của toàn dân tộc: thà hy sinh tất cả chứ nhất định
không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Đây là sự kế thừa, phát huy và nâng
lên tầm cao mới truyền thống toàn dân đánh giặc, “giặc đến nhà đàn bà cũng
đánh”, của ông cha trong điều kiện lịch sử mới, điều kiện lịch sử mà dân tộc ta
phải đối chọi với các thế lực đế quốc phương Tây hung bạo và hùng mạnh nhất. Sự
1 Hồ Chí Minh, Sdd, tập 3, tr 507
2 Hồ Chí Minh, Sdd, tập 4, tr 485


tham gia của các tầng lớp nhân dân vào cuộc kháng chiến không phải chỉ là sự
đóng góp sức người, sức của cho chiến tranh; mà điều quan trọng là họ thực sự như
là người lính, “mỗi công dân là một chiến sỹ, mỗi làng là một chiến hào”, tạo nên
“bức thành đồng” vững chắc của chiến tranh nhân dân.
Chiến tranh nhân dân, theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn là chiến tranh toàn
diện. Để chống lại chiến tranh xâm lược của kẻ thù có tiềm lực quân sự, kinh tế
hùng mạnh, chiến tranh nhân dân Việt Nam không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân
sự, lực lượng quân sự đơn thuần, càng không thể chỉ dựa vào quân đội để chống lại
quân đội đối phương, mà phải dựa trên sức mạnh tổng hợp, toàn diện trên tất cả
các lĩnh vực, tiến công kẻ thù trên tất cả các mặt trận. Tính toàn dân và toàn diện
quan hệ chặt chẽ và thống nhất, không thể tách rời trong bản chất, đặc điểm của
chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Tính toàn dân và toàn diện không thể tách rời nhau, nói đến kháng chiến
toàn dân cũng đã bao hàm tính toàn diện của chiến tranh; và ngược lại, bàn đến
tính toàn diện của chiến tranh nhân dân cũng đã phản ánh cả tính toàn dân. Vì vậy,
Hồ Chí Minh cho rằng, muốn huy động được đông đảo quần chúng nhân dân tham
gia kháng chiến, thì phải thực hiện kháng chiến tòan diện. Người nhấn mạnh: “…

và thực sự vô địch như nhân dân”1
Bản chất, đặc điểm của chiến tranh nhân dân quy định chính trị - tinh thần
của cuộc chiến tranh ấy không chỉ là chính trị - tinh thần của quân đội, không chỉ là
tư tưởng, niềm tin, ý chí, tinh thần, tâm lý … của người chiến sỹ trực tiếp cầm
súng chiến đấu trên chiến trường, mà điều quan trọng đó là chính trị - tinh thần của
toàn thể dân tộc, của quân dân cả nước. Nhân dịp Quốc khánh lần thứ mười của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 2 tháng 9 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí
Minh viết: “Lòng yêu nước nồng nàn, sự thống nhất về tinh thần và chính trị của
nhân dân và quân đội xung quanh Đảng và Chính phủ đã giúp chúng tôi vượt qua
những thử thách khó khăn không tưởng tượng được và tạo những điều kiện về
chính trị, kinh tế và quân sự để chiến thắng.
Lòng tin tưởng không gì lay chuyển nổi vào thắng lợi của sự nghiệp chính
nghĩa của mình đã cổ vũ nhân dân chúng tôi và đã kích thích tinh thần dũng cảm
của họ. Những đức tính về đạo đức và tinh thần chiến đấu mà các binh sỹ, các
chiến sỹ du kích và các cán bộ của chúng tôi đã học tập được trong lịch sử đặc biệt
phong phú của phong trào giải phóng dân tộc, đã giúp quân đội trẻ tuổi của chúng
1 Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, môt con người, một dân tộc, một thời đại, Nxb ST, H, 1990, tr10


tôi lập được những chiến công lịch sử, tô lên ngọn cờ của mình một niềm vinh
quang bất diệt”1. Rõ ràng là, chính trị - tinh thần của chiến tranh nhân dân đã trở
thành sức mạnh “vật chất”. Lòng yêu nước, sự đoàn kết, lòng tin mãnh liệt vào
chiến thắng và tinh thần chiến đấu của cả dân tộc… những nội dung cơ bản của
chính trị - tinh thần, của sự thống nhất về “tinh thần và chính trị” của nhân dân và
quân đội ta trong chiến tranh, đã tạo nên sức mạnh “vật chất” chiến thắng kẻ thù.
Khi xâm lược Việt Nam, với tư duy quân sự tư sản, kẻ thù thường tính đến
phải đối phó với quân đội Việt Nam như thế nào, mà không tính đến một cách đầy
đủ sức mạnh toàn diện của chiến tranh nhân dân Việt Nam, đã không nhận thấy
một điều rất căn bản là Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân, nên chúng gặp hết bất ngờ này đến bất ngờ khác và phải

thông minh của nhân dân và quân đội cả nước, đặc biệt là của các đảng bộ miền
Nam, của cán bộ, chiến sỹ công tác và chiến đấu ở miền Nam, và hàng chục triệu
đồng bào yêu nước trên tuyến đầu Tổ quốc đã nêu cao tấm gương kiên cường, bất
khuất hơn ba mươi năm dưới ách quân xâm lược”2. Các nhà quân sự tư sản mãi
cho đến tận bây giờ vẫn không hết kinh ngạc và lý giải nổi tại sao dân tộc Việt
Nam lại chiến thắng hai đế quốc to như Pháp và Mỹ. Họ loay hoay tìm câu trả lời
trong các vấn đề chiến lược, chiến thuật, trong các vấn đề sử dụng quân đội, vũ khí
trang bị và phương tiện chiến tranh. Không thể phủ nhận vai trò của các nhân tố đó
trong chiến tranh. “Nhưng nếu đặt câu hỏi: vì sao dân tộc Việt Nam đã thắng, thì
câu trả lời chính xác hơn hết và đầy đủ hơn là: bởi vì chiến tranh giải phóng của
dân tộc Việt Nam là một cuộc chiến tranh nhân dân”3
Có hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, mới có thể hiểu
được tư tưởng của Người về nhân tố chính trị - tinh thần của chiến tranh nhân dân
Việt Nam. Có hiểu được mục đích của con đường cách mạng cứu nước, cứu dân
mà lãnh tụ Hồ Chí Minh suốt cả đời hy sinh phấn đấu, thì mới có thể hiểu được
những tư tưởng, quan điểm của Người trên các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam nói chung, của chiến tranh nhân dân Việt Nam nói riêng.
Luận điểm “Không quân đội nào, khí giới nào có thể đánh ngã được tinh
thần hy sinh của toàn thể một dân tộc” vừa thể hiện ý chí quyết tâm sắt đá của
toàn thể nhân dân Việt Nam, vừa nói lên sức mạnh tinh thần to lớn của chiến tranh
nhân dân Việt Nam. Đó là tinh thần, ý chí của cả dân tộc thà hy sinh tất cả chứ nhất
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb ST, H, 1977, tr 8 - 9
3 Võ Nguyên Giáp, Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, Nxb ST, H, 1959, tr 101


định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Không hiểu sâu sắc bản chất, sức
mạnh của con người, không nhận thức đúng đắn vai trò quần chúng nhân dân trong
lịch sử, và không một lòng, một dạ hy sinh phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng con
ngưòi, đem lại cuộc sống tự do, hạnh phúc thực sự cho họ, thì không thể có quan
điểm đầy đủ và khoa học về sức mạnh của nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến

tụ Hồ Chí Minh vào sức mạnh của quần chúng nhân dân, vào cuộc kháng chiến
nhất định thắng lợi có sức lan toả mạnh mẽ đến mọi con tim, khối óc, tạo nên sức
mạnh vật chất, càng làm cho chiến tranh nhân dân Việt Nam trở nên vô địch.


Chương 2
HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG, ĐỘNG VIÊN CHÍNH TRỊ - TINH THẦN
TRONG CHIẾN TRANH
2.1. Xây dựng, động viên chính trị - tinh thần là quá trình liên tục, gắn
bó chặt chẽ với xây dựng, động viên các nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp
của chiến tranh nhân dân Việt Nam
Chính trị - tinh thần của nhân dân và quân đội ta trong chiến tranh nhân dân
Việt Nam, như đã phân tích ở chương trên, được bắt nguồn từ hệ tư tưởng của giai
cấp công nhân Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng; sức mạnh của chế độ mới; đường
lối kháng chiến đúng đắn. chính nghĩa, hợp lòng dân; từ truyền thống chống ngoại
xâm của dân tộc… Thế nhưng, chính trị - tinh thần không thể tự nhiên mà có, càng
không thể tự nhiên mà tạo thành sức mạnh to lớn giành thắng lợi trong chiến tranh,
nếu không thực hiện tốt các biện pháp khơi dạy, xây dựng và phát huy đúng. Dù
chính trị - tinh thần của nhân dân và quân đội có được chuẩn bị chu đáo và đầy đủ
như thế nào, nhưng trong quá trình chiến tranh nếu không tiếp tục bồi đắp và có
biện pháp phát huy, động viên tốt thì chính trị - tinh thần ấy không thể trở thành
sức mạnh hiện hữu.
Hơn nữa, chính trị - tinh thần không phải là một trạng thái cố định “nhất
thành bất biến” mà là một trạng thái động, có lên, có xuống, có lúc cao, có lúc
thấp, thậm chí có khi chuyển sang trạng thái khác theo hướng tiêu cực. Vấn đề này
phụ thuộc rất lớn vào những diễn biến cụ thể trong quá trình chiến tranh và vào
việc thực hiện như thế nào các giải pháp động viên và phát huy trong chiến tranh.
Trong lịch sử chiến tranh nhân loại đã không ít trường hợp có bên khi bước vào
chiến tranh với khí thế hừng hực như trào dâng, nhưng trong qúa trình chiến tranh,
do không biết nuôi dưỡng và phát huy khí thế ấy, nên chính trị - tinh thần lại phát

Nghiên cứu những nội dung, biện pháp cụ thể trong một giai đoạn nào đó, ở
một thời điểm nào đó không chỉ có ý nghĩa trong giai đoạn, thời điểm đó; mà cần
phải thấy nội dung, biện pháp đó có giá trị chỉ đạo trực tiếp toàn bộ tiến trình của
hai cuộc kháng chiến trường kỳ. Có như thế, việc luận giải các nội dung cụ thể mới
không bị chia cắt và mới phán ánh sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng,
động viên chính trị - tinh thần trong chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Tư tưởng động viên toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, động viên
chính trị - tinh thần gắn với động viên các mặt kinh tế, quân sự, ngoại giao, động


viên các lực lượng được Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ trong bài viết nhan đề “Toàn
dân kháng chiến”. Người cho rằng: “Vì vậy, muốn kháng chiến lâu dài để tới thắng
lợi cuối cùng, cần phải động viên hết thảy mọi lực lượng mới mong đi tới thắng lợi
cuối cùng. Cậu bé chăm chỉ học hành trong nhà trường cũng là kháng chiến. Anh
dân cày cày cuốc ngoài đồng ruộng, anh thợ cặm cụi trong nhà máy, chị bán hàng
buôn bán ngược xuôi, ông già xách giỏ đi câu cũng là kháng chiến. Các công chức,
các nhà văn, nhà báo mải miết trước bàn giấy, cạnh tủ sách cũng là kháng chiến.
Các y sĩ, khám hộ lăn lộn bên giường bệnh cũng là kháng chiến. Các nhà giàu có
đem hết tài lực mở mang xưởng thợ, khai thác ruộng đất cũng là kháng chiến. Đó
là toàn dân kháng chiến.
Nói tóm lại, muốn thực hiện toàn dân kháng chiến, ngoài việc động viên
quân sự, chính trị, ngoại giao, còn phải động viên cả tinh thần lẫn kinh tế”.1
Động viên chính trị - tinh thần không thể tách rời động viên các nhân tố
khác, thực chất là phát động toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Không
thể chỉ xây dựng chính trị - tinh thần, động viên một cách chung chung, mà bao giờ
Hồ Chí Minh cũng đặt nó trong chiến lược huy động sức mạnh tổng hợp của chiến
tranh nhân dân Việt Nam. Người còn chỉ rõ: “Động viên tinh thần là phải tập trung
hết thảy lực lượng tinh thần, ý chí, tư tưởng của từng cá nhân và của toàn quốc dân
đều hướng về một chiều để cùng đi tới một mục đích kháng chiến. Như vậy, một
mặt phải chấn khởi tinh thần kháng chiến của toàn dân và một mặt làm cho họ tin

xây dựng, động viên chính trị - tinh thần phải là qúa trình liên tục, không khi nào
được ngừng nghỉ. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “… chúng ta phải tập trung hết thảy nhân
lực, tài lực vào công cuộc kháng chiến thì thực lực kháng chiến của ta mới được
đầy đủ, mạnh mẽ để đạt tới thắng lợi cuối cùng.”1
Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến của dân tộc, đi đến đâu,
gặp gỡ các cụ phụ lão hay các cháu nhi đồng, nói chuyện với bộ đội hay dân quân
du kích, tiếp xúc với thanh niên hay phụ nữ, trao đổi với các tầng lớp nhân dân, các
tôn giáo, dân tộc, Người luôn luôn khích lệ, cổ vũ tinh thần khắc phục khó khăn
gian khổ chiến đấu và phục vụ chiến đấu, cũng như những cố gắng trong lao động
sản xuất của mọi tầng lớp nhân dân với sự ân cần tha thiết. Vì vậy, tinh thần yêu
nước, ý chí quyết tâm chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc của quân dân
ta luôn luôn được dâng cao. Trên thực tế, chính trị - tinh thần của nhân dân và quân
đội ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thường xuyên được
duy trì ở mức độ cao và khồng ngừng củng cố, phát huy.
1 Hồ Chí Minh , Sdd, Tập 4, tr. 477


Điều đó cắt nghĩa vì sao lại phát triển, nở rộ những hình ảnh cao đẹp về chủ
nghĩa anh hùng cách mạng, nhưng rất đỗi bình thường, giản dị gần gũi biết bao của
một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc, thời kỳ “ra ngõ gặp anh hùng”, đi đánh
giặc như đi “trẩy hội”. Không thể cảm nhận hết ý nghĩa cao đẹp và vĩ đại của thời
kỳ lịch sử hào hùng đó, nếu không hiểu được sức mạnh chính trị - tinh thần tiềm
tàng trong mọi tầng lớp nhân dân. Trạng thái chính trị - tinh thần cao và tích cực
của nhân dân và quân đội ta được chuẩn bị trước chiến tranh, được củng cố, duy trì
và phát huy không ngừng suốt quá trình chiến tranh, trở thành nhân tố cực kỳ quan
trọng bảo đảm cho đất nước đương đầu với chiến tranh lâu dài, tàn khốc và giành
thắng lợi.
Theo Hồ Chí Minh, sự nghiệp kháng chiến cứu quốc là sự nghiệp của toàn
dân, phải động biên toàn dân, toàn diện. Vì vậy, xây dựng, động viên chính trị tinh thần cho kháng chiến phải là sự nỗ lực, cố gắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân, của tất cả các cấp, các ngành, của tất cả mọi người. Đảng và Chính phủ phải

MỚI
3.1. Bối cảnh tình hình hiện nay và những thách thức mới đối với nhân tố
con người, nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh
Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại
đã tạo ra sự phát triển nhảy vọt có tính chất cách mạng trên nhiều lĩnh vực, kể cả
quân sự. Các thế lực hiếu chiến ra sức lợi dụng những thành tựu khoa học, công
nghệ nhằm hiện đại hoá và sản sinh ra những công cụ giết người mới với tính chất
ác liệt và sự huỷ diệt ngày một tăng. Chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh có sử
dụng vũ khí công nghệ cao, chiến tranh kỹ thuật số, chiến tranh điện tử, chiến tranh
thông tin ... ngày càng được nói nhiều đến như là những nét đặc trưng chủ yếu của
chiến tranh hiện đại.
Bước vào thế kỷ XXI, nhân loại đã chứng kiến nhiều sự kiện chính trị, quân
sự lớn lao như báo hiệu một thế kỷ đầy biến động với những bất trắc khó lường.
Chưa bao giờ nước Mỹ lại bị tấn công gây nên hậu quả ghê gớm, uy hiếp nền an
ninh tưởng như vững chắc của cường quốc số một thế giới này. Sự kiện ngày
11/9/2001 là một sự kiện chấn động thế giới bởi tính chất và hậu quả của nó, và
bởi đối tượng mà các lực lượng khủng bố chĩa vào. Các thế lực khủng bố đã “vuốt
râu hùm”, để rồi con hùm dữ này lại càng trở nên hung hăng hơn. Phát động chiến
dịch “chống khủng bố” trên quy mô toàn cầu, thực chất đó là nhằm thiết lập trật tự
thế giới một cực do Mỹ chi phối. Đồng thời, với việc phân chia thế giới thành hai:
Hoặc là ủng hộ Mỹ “chống khủng bố”, hoặc là không ủng hộ “chống khủng bố”,
tức là đối lập với Mỹ, đã làm cho bức tranh chính trị thế giới có nhiều xáo trộn
phức tạp. Phải chăng đây là một thứ chủ nghĩa “cường quyền mới”, chủ nghĩa
cường quyền được xây dựng dựa trên cơ sở sức mạnh kinh tế, khoa học và quân
sự, dựa trên ưu thế của vũ khí công nghệ cao.


Đúng như Tuyên bố ngày 20 tháng 3 năm 2003 của Đảng Cộng sản Mỹ đã
vạch rõ: “Với những lời lẽ bóp méo, thổi phồng và hoàn toàn dối trá, Tổng thồng
Busơ và nội các chiến tranh của ông ta đã bất chấp dư luận, đưa nước Mỹ vào cuộc

các quốc gia, dân tộc trên thế giới, xác lập “giá trị” Mỹ trên toàn hành tinh. Mục
đích chiến lược cơ bản đó được thực hiện thông qua nhiều biện pháp chính trị, kinh
tế, ngoại giao... và cả quân sự. Phát động chiến tranh, dù là ở đâu và khi nào thì
Mỹ cũng đều nhằm thực hiện mục đích đó.
Mục đích chiến lược cơ bản quy định mục đích chính trị cụ thể, trực tiếp của
từng cuộc chiến tranh. Ở cuộc chiến tranh Côxôvô, mục đích chính trị cụ thể của
Mỹ là đè bẹp ý chí phản kháng của nhân dân Nam Tư, hạ bệ Tổng thống, thay đổi
thể chế chính trị, biến Nam Tư thành nước nằm trong quỹ đạo của Mỹ, tiến tới
khống chế toàn bộ vùng Bancăng. Mục đích chính trị cụ thể của cuộc chiến “chống
khủng bố” là bằng mọi giá bắt sống được Bin-la-đen, phá tan tổ chức Al - Qaeda,
lật đổ chính phủ Ta-li-ban, dựng lên một chính phủ thân Mỹ ở Apganitxtan. Ở
cuộc chiến tranh Irắc 2003, mục tiêu cụ thể của Liên quân Mỹ - Anh là nhằm lật đổ
chính thể của tổng thống SaĐam - Hutxen, biến Irắc thành quốc gia nằm trong quỹ
đạo của Mỹ, tiến tới khống chế toàn bộ vùng dầu mỏ Trung Đông. Như vậy, các
cuộc chiến tranh trên tuy có mục đích cụ thể khác nhau, nhưng đều là sự tiếp tục
đường lối chính trị đối nội, đối ngoại của chủ nghĩa đế quốc, đều là sự kế tục cái
chính trị tham vọng bá chủ toàn cầu của Mỹ.
Sức mạnh của vũ khí công nghệ cao càng làm cho chiến tranh trở nên khốc
liệt, sự tổn thất về người và của là vô cùng lớn. Điều đó có vẻ như củng cố thêm
lòng tin của các học giả tư sản đối với quan điểm “vũ khí luận” của họ, càng làm
cho chủ nghĩa đế quốc say sưa hơn trong việc thi thố vũ khí công nghệ cao để đe
doạ các quốc gia, dân tộc trên thế giới.
Với việc trang bị vũ khí cho hàng triệu dân và những tuyên bố rất kiên quyết
của những người lãnh đạo đất nước: “Tất cả chúng tôi sẽ tiến hành chiến tranh du
kích, Irắc sẽ trở thành địa ngục đối với bọn Mỹ”; “Chúng tôi sẽ chết ở đây. Chúng
tôi sẽ chết tại đất nước này và chúng tôi sẽ giữ danh dự của mình” tưởng chừng
Irắc sẽ phát động được cuộc chiến tranh nhân dân và Mỹ sẽ vấp phải sự kháng cự
quyết liệt của cả một dân tộc. Nhân loại tiến bộ yêu chuộng hoà bình những tưởng
hy vọng vào sự chiến đấu ngoan cường của một dân tộc, một đất nước là một trong
những cái nôi của nền văn minh nhân loại, sẽ làm cho Mỹ thất bại, với sự tổn thất

quy tụ, động viên sức người, sức của của cả đất nước cho chiến tranh. Họ đã không
phát huy được truyền thống yêu nước, ý chí quật cường trong lịch sử hào hùng của
1 Xem Tạp chí Kiến thức Quốc phòng hiện đại, số 6/2003, tr 6


dân tộc Irắc, không xây dựng và động viên được nhân tố chính trị - tinh thần của
nhân dân và quân đội trong cuộc chiến đấu chống quân thù; trái lại, còn làn suy
yếu sức mạnh của dân tộc, sức mạnh chính trị - tinh thần của đất nước.
Tuy nhiên, các cuộc chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao gần đây
cũng cho thấy, nhân tố con người, nhân tố chính trị - tinh thần đã vấp phải những
thách thức mới, hết sức gay gắt. Sự tàn khốc của chiến tranh, sự huỷ diệt của các
loại vũ khí công nghệ cao... là những thử thách hết sức nghiêm trọng đối với bản
lĩnh chính trị, sức mạnh và ý chí quyết tâm, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của
quân đội và nhân dân các nước bị tiến công. Tuyệt đối hoá vai trò của vũ khí kỹ
thuật là một sai lầm nghiêm trọng; nhưng không thấy sự tác động sâu sắc, mạnh
mẽ và toàn diện của vũ khí công nghệ cao đối với chính trị - tinh thần của con
người, cũng như không thấy sự cần thiết phải xác định yêu cầu, nội dung mới và
những giải pháp để xây dựng, động viên chính trị - tinh thần trong điều kiện chiến
tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao thì cũng là một sai lầm nguy hại.
Những thách thức mới đối với nhân tố chính trị - tinh thần không chỉ bởi áp
lực và ưu thế của vũ khí công nghệ cao do đối phương tiến hành; mà còn bởi sự
bức bách của việc xác định những yêu cầu, nội dung và tìm kiếm, thực thi các giải
pháp để có thể tạo dựng được một tinh thần quyết chiến, quyết thắng cao, một
trạng thái vững chắc về chính trị - tinh thần của nhân dân và quân đội, tạo nên sức
mạnh tổng hợp, đủ sức đánh thắng chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công
nghệ cao. Đây là vấn đề to lớn có tầm quan trọng đặc biệt đối với các quốc gia, dân
tộc trong việc hoạch định và thực hiện chiến lược quốc phòng, an ninh, bảo vệ đất
nước nói chung, chiến lược xây dựng, động viên chính trị - tinh thần của nhân dân
và quân đội nói riêng, nhằm bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và an ninh quốc
gia, đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù.

quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã
hội và nền văn hoá; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa;
bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc” càng trở nên sâu sắc hơn
trong điều kiện mới. Bảo vệ Tổ quốc bao gồm cả hai phương diện tự nhiên - lịch
sử và chính trị - xã hội. Vấn đề giữ vững ổn định chính trị - xã hội và an ninh quốc
gia trên tất cả các lĩnh vực, cả an ninh bên ngoài và an ninh bên trong, ngăn ngừa,
loại trừ mọi nguy cơ chiến tranh; đồng thời sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm
lược của kẻ thù trong điều kiện chiến tranh thông thường, cũng như chiến tranh có


sử dụng vũ khí công nghệ cao là đòi hỏi bức thiết của tình hình, là vấn đề vừa cơ
bản, vừa cấp bách của sự nghiệp bảo vệ của Tổ quốc trong điều kiện mới.
Trong điều kiện đó chúng ta cần phải quán triệt sâu sắc hơn nữa quan điểm sức
mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta tại Đại hội IX: “Sức mạnh bảo vệ Tổ
quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính
trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại,
sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực
lượng và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an
ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Phối hợp hoạt động quốc phòng và an ninh với
hoạt động đối ngoại”1. Theo đó, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong qúa
trình xây dựng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân nói chung, xây dựng,
động viên chính trị - tinh thần nói riêng trong tình hình hiện nay càng có ý nghĩa
quan trọng. Phát biểu trong buổi lễ kỷ niệm lần thứ 113 ngày sinh của Chủ tịch Hồ
Chí Minh tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, đồng chí Tổng Bí thư
Nông Đức Mạnh nêu rõ: “Đây là thời điểm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết
tâm phấn đấu làm cho Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác- Lê nin
ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần, tư tưởng của xã hội ta,
được quán triệt sâu sắc vào các hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta
trong thời kỳ mới”2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status