TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ NHUNG
NGUYỄN THỊ NHUNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN
MỘT
SỐ TẬP
BIỆNĐỌC
PHÁP
RÈN
LUYỆN
KĨ
NĂNG
CHO
HỌC
SINH LỚ
KĨ NĂNG TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 5
KHÓA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
ĐẠI
HỌC
KHÓA
LUẬN
TỐT
ĐẠI
HỌC
SƢ
PHẠM
HÀ
NỘI
22
KHOA
GIÁO
DỤC
TIỂU
HỌC
KHOA
GIÁO
DỤC
TIỂU
HỌC
NGUYỄN THỊ NHUNG
NGUYỄN THỊ NHUNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN
KĨ NĂNG TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 5
KĨ NĂNG TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, căn cứ, kết quả có trong khóa luận là trung thực. Đề tài này chƣa đƣợc
công bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào khác.
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên
Nguyễn Thị Nhung
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
HS
: học sinh
GV
: giáo viên
SGK
: sách giáo khoa
NXB
: nhà xuất bản
TV
: Tiếng Việt
2.3. Thực trạng của dạy và học Tập đọc ở lớp 5 ........................................ 21
2.3.1. Thực trạng việc dạy ...................................................................... 21
2.3.2. Thực trạng việc học ...................................................................... 23
Chƣơng 3. CÁC BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH
LỚP 5 ....................................................................................................................... 26
3.1. Các biện pháp rèn luyện kĩ năng ......................................................... 26
3.1.1. Kĩ năng tìm hiểu văn bản đọc ....................................................... 26
3.1.2. Kĩ năng đọc chính xác các bộ phận của âm tiết ............................ 29
3.1.3. Kĩ năng ngắt nhịp trong khi đọc ................................................... 33
3.1.4. Kĩ năng đọc trôi chảy ................................................................... 36
3.1.5. Kĩ năng đọc đúng ngữ điệu ........................................................... 37
3.1.6. Kĩ năng thể hiện văn hóa đọc ....................................................... 38
3.2. Một số biện pháp bổ trợ hoạt động học ............................................... 40
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................... 44
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt ở trƣờng phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực
hoạt động ngôn ngữ cho học sinh, tƣơng ứng là bốn kỹ năng: nghe - nói - đọc
- viết. Tập đọc là một phân môn của chƣơng trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học.
Đây là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chƣơng trình vì nó
đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kỹ năng đọc - một kỹ
năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc học đầu tiên - bậc Tiểu học.
Chúng ta đang sống trong những giai đoạn đầu của thế kỉ XXI, công
cuộc đổi mới đang diễn ra sôi động trên mọi lĩnh vực, công nghệ thông tin
đang ăn sâu vào đời sống con ngƣời. Thực tế đó đƣa ra cho ta một câu hỏi:
hàng đầu của học sinh ở cấp học đầu tiên trong trƣờng phổ thông.
Mặt khác, khi viết một tác phẩm, tác giả muốn gửi gắm vào đó tâm tƣ,
tình cảm, suy nghĩ, những quan điểm, tƣ tƣởng của mình. Những điều đó ẩn
chứa trong ngôn từ văn bản. mỗi tác phẩm đều bộc lộ tài hoa của con ngƣời,
nhân cách của nhà văn. Muốn tác phẩm đến với bạn đọc và sống mãi với bạn
đọc là một điều khó. Những gì mà tác giả gửi gắm có đƣợc cảm nhận một
cách đầy đủ hay không, đó lại là do cách đọc, cách hiểu của ngƣời cảm nhận
nó. Chính vì thế cần dạy cho học sinh cách đọc, cách hiểu tác phẩm một cách
trọn vẹn.
Trong khi đó, ở trƣờng tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 5, việc dạy đọc,
bên cạnh những thành công, còn nhiều hạn chế. Học sinh chƣa đọc đƣợc nhƣ
chúng ta mong muốn. Kết quả học đọc của các em chƣa đáp ứng đƣợc yêu
cầu của việc hình thành kĩ năng đọc. Các em chƣa nắm chắc đƣợc công cụ
hữu hiệu để lĩnh hội tri thức, tƣ tƣởng tình cảm của ngƣời khác chứa đựng
trong văn bản đƣợc đọc. Giáo viên tiểu học vẫn còn lúng túng tronh khi dạy
Tập đọc. Có những giáo viên đọc không đúng chính âm, đọc không hay, hiểu
2
không đúng những điều đƣợc đọc từ cấp độ từ đến cấp độ câu, đoạn và toàn
văn bản, …
Trong tƣơng lai không xa, chúng tôi sẽ là những gióa viên tiểu học,
chúng tôi có những trăn trở khi dạy một bài Tập đọc: làm thế nào để các em
đọc nhanh hơn, hay hơn, làm thế nào để các em hiểu đƣợc văn bản đã đọc,
cần đọc bài Tập đọc với giọng nhƣ thế nào? Làm sao để có những gì đọc đƣợc
tác động vào chính cuộc sống của các em? … Hơn thế, việc dạy đọc trải dài
từ lớp 1 đến lớp 12 và đi cùng chúng ta suốt cuộc đời.
Chính vì vậy, đọc là kĩ năng quan trọng trong việc dạy học ở trƣờng tiểu
học. Và chúng tôi chọn đề tài này để đi sâu nghiên cứu và tìm ra: “Một số
Theo “Tạp chí Ngôn ngữ”, số 11 năm 2000, khái quát về giáo dục Ngữ
văn nƣớc ngoài, giới giáo dục Ngữ Văn một số nƣớc Âu - Mỹ cho rằng dạy
đọc là một quá trình tâm lí gồm nhiều khâu, từ cảm nhận văn tự, lí giải ý
nghĩa, đến liên tƣởng, tƣởng tƣợng…
Trong “SGK Ngữ văn 6”, tập một, NXB Giáo dục, xem xét việc đọc
dƣới ba cấp độ: đọc - suy ngẫm - liên tƣởng.
Việc nghiên cứu các phƣơng pháp rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh
tiểu học không còn là vấn đề mới mẻ, nó đã đƣợc đề cập một cách khái quát
hay cụ thể trong các bài báo, trên các tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, các cuốn
sách và cả trong các công trình nghiên cứu khoa học. Mỗi quan niệm, mỗi
công trình nghiên cứu đều đi sâu vào một khía cạnh nhất định. Tuy nhiên, cho
đến thời điểm này chƣa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến biện
pháp cụ thể rèn luyện kĩ năng tập đọc cho học sinh lớp 5. Vì vậy, chúng tôi
mạnh dạn đƣa ra đề tài này nhằm tìm ra phƣơng pháp cụ thể để rèn luyện kĩ
năng đọc cho học sinh lớp 5.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm tìm các biện pháp để rèn luyện cho học sinh lớp 5 kĩ năng
đọc, nâng cao hiệu quả đọc trong nhà trƣờng.
4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Các biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh lớp 5.
- Việc đọc các bài Tập đọc, đoạn trích trong giáo khoa tiểu học nói chung
và sách giáo khoa lớp 5 nói riêng.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu, đề tài có những nhiệm vụ sau:
- Cơ sở lí luận của việc đọc
- Tìm hiểu thực trạng của việc dạy và học Tập đọc ở lớp 5
NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Khái niệm đọc
1.1.1. Quan niệm đọc
Suốt thời gian học tập từ nhỏ đến lớn, học sinh sử dụng hoạt động đọc
nhiều nhất. Các em đọc bài học, đọc bài ghi, đọc sách giáo khoa, đọc truyện,
đọc bài tập… Khi lớn lên, học tập và hoạt động trong mỗi ngành nghề lại có
hoạt động đọc khác nhau. Có ngƣời nhìn vào tấm phim để đọc (bác sĩ nhìn
vào tấm phim chụp X quang để đọc), có ngƣời lại nhìn vào các hình vẽ,
những con số để đọc đó là các kiến trúc sƣ, những kế toán, đọc trên bảng vẽ
kĩ thuật và các số liệu thống kê. Đó cũng là hoạt động đọc. Nhƣng trong đề tài
này, chúng tôi đề cập đến đọc chữ, đọc văn bản, xem xét đọc trong phân môn
Tập đọc.
Về khái niệm đọc đã có nhiều quan niệm, định nghĩa về đọc. Theo từ
điển Tiếng Việt: “ Đọc là hành động nhìn vào chữ hoạc kí hiệu, dấu hiệu để
hiểu nội dung” [17;520]. Nhƣ vậy, theo định nghĩa này đọc đƣợc hiểu theo
nghĩa rộng, bao hàm cả đọc chữ, đọc số liệu, bản vẽ …..
Tiến sĩ Nguyễn Trí cho rằng: “ Đọc cũng là một quá trình vừa tạo cảm
xúc, vừa thể hiện tình cảm của mình với nhân vật, với bức tranh cuộc sống
hoặc với nội dung được nêu trong bài văn” [13, 7]. Quá trình đọc gắn liền với
những biểu hiện cảm xúc của ngƣời đọc. Đọc là suy ngẫm để thấy đƣợc cái
hay trong ngôn từ.
Trong cuốn “ Sổ tay thuật ngữ phƣơng pháp dạy học tiếng nga”(1998),
Viện sĩ M.R.Lơrôp đã định nghĩa: “ Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, lá
quá trình chuyển dạng chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó
(ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức
7
8
vài ba trang cũng là biết đọc. Chọn trong biển sách báo của nhân loại những
gì mình cần, trong một ngày nắm đƣợc tinh thần hàng chục cuốn sách cũng
gọi là biết đọc.
Nhƣ vậy, quan niệm về ngƣời “biết đọc” không phải là cái nhất thành bất
biến, nó không cố định, tùy thuộc vào trình độ của mỗi ngƣời. Nhƣng để đạt
đƣợc đến mức “biết đọc” thì ngƣời đọc phải đọc thông văn bản và nắm đƣợc
nôi dung, ý nghĩa từ những con chữ.
1.2. Cơ sở ngôn ngữ của việc đọc
1.2.1. Cơ chế của đọc
Cơ chế của việc đọc là cơ sở của việc dạy đọc vì nó sẽ giúp chúng ta xác
định mục đích, nội dung của quá trình đọc, cũng nhƣ xác định mục đích, nội
dung của quá trình dạy học đọc.
Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông
tin bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác, sử dụng bộ mã chữ âm dựa vào cơ quan phát âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn
tự ghi lại lời nói âm thanh. Trong quá trình đọc con ngƣời tƣ duy để nhận
thức, sử dụng bộ mã chữ - nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý
tƣởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu đƣợc nội dung
những gì đƣợc đọc.
Nhƣ vậy, đọc bao gồm nhiều yếu tố nhƣ tiếp nhận bằng mắt, hoạt động
của cơ quan phát âm, cơ quan thính giác và sự thông hiểu những gì đƣợc đọc.
Nhiệm vụ của sự phát triển kĩ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữa những
mặt riêng lẻ này của quá trình đọc. Càng có khả năng tổng hợp các mặt trên
bao nhiêu thì ciệc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác và biểu cảm bấy nhiêu.
Kĩ năng đọc là một kĩ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình tập luyện lâu
dài. Theo T.G.Egôrôp việc hình thành kĩ năng này chia làm ba giai đoạn:
phân tích, tổng hợp và giai đoạn tự động hóa. Giai đoạn dạy học vần (lớp 1) là
10
trong văn bản từ đợn vị nhỏ đến lớn. Đọc hiểu xác định bằng nội dung chứa
trong văn bản, hiểu nội dung trong văn bản nhƣ thế nào sẽ đọc đƣợc nhƣ vậy
để thể hiện cảm hiểu của ngƣời đọc đối với văn bản. Đọc diễn cảm là biết đọc
nhấn vào những từ quan trọng trong câu (từ ngữ gợi tả, gợi cảm, từ ngữ “chìa
khóa”) để làm nổi lên ý chính; biết điều chỉnh giọng đọc, ngữ điệu đọc để
hiểu và biểu đạt nội dung, ngƣời đọc phải làm chủ giọng đọc của mình. Đọc
nghệ thuật là cấp độ đọc cao nhất. Đó là khả năng nhập vai, hóa thân vào
nhân vật trong quá trình đọc.
Việc nghiên cứu cơ chế của đọc giúp chúng ta trải qua đƣợc nhiều hoạt
động đọc theo chuỗi tuyến tính, nhờ đó có thể hình dung đƣợc trật tự các việc
cần làm để tổ chức quá trình học đọc cho học sinh. Từ đó, có thể dạy tốt các
bài Tập đọc cho học sinh.
1.2.2. Cơ sở về âm thanh của ngôn ngữ khi đọc
1.2.2.1. Chính âm
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu
lực về mặt xã hội. Chính âm sẽ quy định nội dung luyện phát âm ở tiểu học.
Hiện nay, trong trƣờng học chƣa có văn bản quy định về chuẩn chính âm.
Điều này làm cho việc xác định nội dung đọc thành tiếng ở tiểu học gặp nhiều
khó khăn, không tránh khỏi những lúng túng khi xác định nội dung đọc đúng,
đọc diễn cảm.
Vấn đề đặt ra là phải giải quyết nhƣ thế nào những nét khác biệt trên
bình diện ngữ âm giữa các phƣơng ngữ, một hiện tƣợng khách quan có liên
quan trực tiếp đến việc xác định chuẩn chính âm. Trong bốn thập kỉ nay, giới
Việt ngữ học có nhiều quan điểm khác nhau về chuẩn mực ngữ âm TV, trong
đó có ý kến cho rằng nên lấy phƣơng ngữ Bắc Bộ (chuẩn là Thủ đô Hà Nội)
lám cơ sở để xác định chuẩn mực ngữ âm TV đồng thời bổ sung một ngữ âm
phát âm lệch chuẩn thành hai nhóm: nhóm lỗi phát âm và nhóm biến thể
phƣơng ngữ. Chúng ta chỉ luyện cho các trƣờng hợp đƣợc xem là mắc lỗi phát
12
âm còn đặt vấn đề chấp nhận chuẩn chính âm cho các trƣợng hợp đƣợc xem là
biến thể phƣơng ngữ. Hiện nay, chỉ coi là lịch chuẩn khi phát âm lẫn l/n hay
không tròn vành rõ chữ kiểu “Cuôn cùa bia bía” (Con cò be bé) của một số
ngƣời miền Bắc. Những cách phát âm này làm cản trở hoặc làm giảm hiệu
quả giao tiếp, ít ra là ở những cặp ngƣời nghe - ngƣời nói nhất định.
Chúng ta nhận thấy cảm giác về phát âm hay hay không hay cũng là
đánh giá tính hiệu quả của giao tiếp về mặt phát âm có thể mang tính chủ
quan, tùy theo ngữ cảm của ngƣời nghe. Tuy nhiên, không bắt lỗi đối với
trƣờng hợp phát âm không phân biệt tr/ch, r/d/gi, s/x chấp nhận chuẩn chính
âm thứ hai. Cũng nhƣ vậy, trong quá trình học sinh đọc diễn cảm giáo viên
không nhất thiết yêu cầu học sinh phải đọc đúng ba âm quặt lƣỡi và hai vần
ưu, ươu.
Nhƣ vậy, luyện chính âm giúp học sinh có một giọng đọc trau chuốt hơn,
chuẩn hơn, hay hơn và có thể chấp nhận nhiều chuẩn chính âm. Học sinh
thuộc phƣơng ngữ Bắc Bộ sẽ không bắt buộc phải phân biệt các cặp phụ âm
đầu tr/ch, r/d/gi, s/x .
1.2.2.2. Trọng âm và ngữ điệu đọc
1.2.2.2.1. Trọng âm
Trọng âm là độ vang và độ mạnh khi phát ra âm tiết. Dựa vào sự phát âm
một tiếng mạnh hay yếu, kéo dài hay không kéo dài, đƣờng nét thanh điểu rõ
hay không rõ, ngƣời ta chia các tiếng trong chuỗi lời nói thành tiếng có trọng
âm và không có trọng âm. Trọng âm mạnh rơi vào các từ truyền đạt thông tin
mới hoặc có tầm quan trọng trong câu. Trọng âm yếu đi với những từ không
có hoặc ít có ít thông tin mới.
tình cảm, cảm xúc của tác giả khi mô tả mới tạo thành ngữ điệu. Ngữ điệu
chính là sự hòa đồng về âm hƣởng của bài đọc.
Luyện đọc thành tiếng không dừng lại ở việc luyện chính âm mà cần
phải luyện đọc đúng ngữ điệu. Để tạo ra ngữ điệu, học sinh phải làm chủ các
thông số âm thanh của giọng tạo ra cƣờng độ bằng cách điều khiển đọc to,
14
nhỏ, nhấn giọng, lơi giọng, tạo ra tốc độ bằng cách điều khiển độ nhanh chậm,
và chỗ ngắt nghỉ của lời, tạo ra cao độ bằng cách nâng giọng, hạ giọng, tạo ra
trƣờng độ bằng cách kéo dài giọng (ngân) hay không kéo dài.
Suy cho cùng muốn đọc đƣợc hay, diễn cảm thì ngƣời đọc cần chú ý đến
trọng âm, ngữ điệu đọc đồng thời cần phát âm đúng chuẩn chính tả - đọc đúng
chính âm của tiếng.
1.3. Vị trí và nhiệm vụ phân môn Tập đọc ở lớp 5
1.3.1. Vị trí phân môn Tập đọc
Tập đọc cùng với Học vần và Tập viết là nhóm bài học khởi đầu giúp
cho học sinh chiếm lĩnh đƣợc công cụ mới - chữ viết; có đƣợc một năng lực
mới - đọc thông, viết thạo. Từ đó, mở cánh cửa bƣớc vào thế giới của những
ngƣời biết đọc, biết viết để có điều kiện tiến lên nắm lấy kho tàng tri thức và
văn hóa của loài ngƣời. Đối với học sinh tiểu học, nhờ biết đọc mà các em có
điều kiện học các môn khác trong chƣơng trình.
Có một điều cần phân biệt ở đây là phân môn Tập đọc, Tập viết chứ
không phải là phân môn Đọc hay phân môn Viết. Tại sao lại nhƣ vậy? Đọc và
Viết là hai trong bốn kĩ năng mà giáo viên cần rèn cho học sinh. Học sinh khi
mới bƣớc chân vào cổng trƣờng chƣa có hoặc có nhƣng chƣa thành thạo các
kĩ năng đó mà phải học, phải tập luyện để có kĩ năng thành thục. Quá trình
rèn luyện để hình thành kĩ năng này kéo dài suốt những năm tháng học phổ
thông. Tuy nhiên, do mục tiêu của môn TV cấp Tiểu học “Đứa trẻ khi kết
em. Đồng thời, cần phát triển ở các em những kĩ năng khác nhƣ kĩ năng dùng
từ, giao tiếp. Do đó, mà thời lƣợng cho môn Tập đọc giảm đi và thời lƣợng
cho phân môn “Luyện từ và câu” tăng lên.
Tập đọc là phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là
hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc đƣợc tạo nên từ bốn kĩ
năng bộ phận là: đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức và đọc hay. Bốn kĩ năng
này đƣợc hình thành trong hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm,
chúng đƣợc rèn luyện dồng thời và hỗ trợ lẫn nhau, sự hoàn thiện tích cực kĩ
năng này sẽ có tác động tích cực đến kĩ năng khác. Vì vậy, trong dạy học
16
không thể xem nhẹ kĩ năng nào và cũng không thể tách rời chúng.
Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc đối với học sinh lớp 5 là giáo dục lòng
ham đọc sách của học sinh, hình thành phƣơng pháp và thói quen làm việc với
sách cho học sinh. Nói cách khác, thông qua việc dạy đọc phải làm cho học
sinh thích đọc và thấy đƣợc những khả năng đọc là có ích cho các em trong cả
cuộc đời.
Nhiệm vụ thứ ba là làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến
thức văn học cho học sinh. Trong mỗi tiết học Tập đọc, mỗi bài học đếu có
những từ mới, SGK đã giải thích cộng với sự giảng giải của giáo viên học
sinh hiểu thêm ý nghĩa của các từ và biết cách sử dụng chúng. Bên cạnh đó,
qua mỗi bài học nội dung bài học phong phú hấp dẫn cung cấp thêm vốn hiểu
biết cho các em. Việc dạy học sẽ giúp các em hiểu biết hơn, giáo dục các em
lòng yêu cái thiện, cái đẹp… dạy đọc không chỉ giáo dục tƣ tƣởng, đạo đức
mà còn giáo dục tính cách, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh.
Nhƣ vậy, dạy đọc có nhiệm vụ giáo dƣỡng, giáo dục và phát triển cho
học sinh toàn cấp nói chung và cho học sinh lớp 5 nói riêng.
1.3.3. Ý nghĩa của dạy Tập đọc
Một bài Tập đọc thƣờng có ba phần:
- Phần 1: Văn bản đọc
Nội dung văn bản đọc là một đoạn truyện, một bài văn miêu tả, một bài
thơ, văn chính luận, hay một vở kịch.
- Phần 2: Chú giải
Đây là phần giải nghĩa những từ mới những từ khó hiểu đối với học sinh.
- Phần 3: Hƣớng dẫn tìm hiểu bài
Nội dung này gồm những câu hỏi xoay quanh nội dung bài đọc nhằm
giúp học sinh tái hiện những chi tiết của bài hay phát hiện ra ý nghĩa, nội
dung của bài đọc.
18