Số nguyên tố và ứng dụng trong phương pháp chứng minh không tiết lộ thông tin - Pdf 40

Mục lục
Mục lục …………………………………………………………..………….. 



Lời cam kết…………………………………………………………………... 

iii 

Lời cảm ơn…………………………………………………………………… 

iv 

Danh mục viết tắt…………………………………………………...…………….... 



Danh mục các hình vẽ và bảng biểu………………………………………………... 

vi 

 Lời nói đầu…………………………………………………………………………       vii 

Chương 1: Số nguyên tố và các bài toán liên quan………………………. 



    1.1. Định nghĩa về số nguyên tố………………………………………….. 







        2.1.2. Kiểm tra tính nguyên tố bằng thuật toán Miller………………… 

11 

        2.1.3. Kiểm tra tính nguyên tố của số bằng phép kiểm tra xác suất…… 

11 

        2.1.4. Kiểm tra trên cơ sở định luật nhỏ Fermat……..…………………. 

12 

        2.1.5. Kiểm tra bằng Miller – Ranbin………………………………… 

15 

        2.1.6. Kiểm tra bằng Solovay – Stransen……………………………… 

17 

        2.1.7. Kiểm tra tính nguyên tố của số bằng thuật toán đa thức………… 

19 

   2.2. Thuật toán sinh số nguyên tố……………………………….………… 

21 


Kết luận của luận văn …………………………………………………… 

48 

TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………. 

49 

ii


Lời cam kết
 
    Tài liệu được sử dụng trong luận văn được thu thập từ các nguồn kiến thức 
hợp  pháp,  có  trích  dẫn  nguồn  tài  liệu  tham  khảo.  Chương  trình  sử  dụng  mã 
nguồn mở, có xuất xứ. 
 
     Dưới sự giúp đỡ nhiệt tình và chỉ bảo chi tiết của giáo viên hướng dẫn, tôi đã 
hoàn thành luận văn của mình. Tôi xin cam kết luận văn này là của bản thân tôi 
làm và nghiên cứu, không hề trùng hay sao chép của bất kỳ ai.  

iii


Lời cảm ơn

            Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS. Nguyễn Thị Hồng Minh, Phó
Chủ nhiệm khoa Sau đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội người đã hướng dẫn và
giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình tìm hiểu nghiên cứu và hoàn thành


Đpcm 

Điều phải chứng minh 

CMKTTTT 

Chứng minh không tiết lộ thông tin 

UCLL 

Ước chung lớn nhât 

TTĐT 

Thanh toán điện tử 

CT 

Cử Tri 

KP 

Kiểm Phiếu 

TMĐT 

Thương mại điện tử 

GMR 

Hình 1.1: Sơ đồ quy trình bỏ lá phiếu điện tử…………………………….

35 

Hình 1.2: Sơ đồ giai đoạn đăng ký bỏ phiếu………………………………  36 
Hình 1.3: Sơ đồ giai đoạn bỏ phiếu……………………………………….  38 
  
 
 

vi


Lời nói đầu 
        Ngày  nay,  công  nghệ  thông  tin  đang  phát  triển  mạnh  mẽ,  Internet  đã  trở 
thành  một  phần  không  thể  thiếu  trong  cuộc  sống hàng  ngày  thì  các  hoạt  động 
trao đổi thông tin, mua bán,…trên mạng Internet diễn ra thường xuyên và ngày 
phổ biến hơn. Chính vì vậy mà việc bảo mật, đảm bảo an toàn thông tin đang là 
nhu cầu cấp thiết. Trước các nhu cầu cấp thiết đó, lý thuyết về mật mã thông tin 
đã ra đời nhằm đảm bảo tính an toàn dữ liệu tại nơi lưu trữ cũng như khi dữ liệu 
đang được truyền trên mạng. Mật mã học là một trong những vấn đề quan trọng 
trong lĩnh vực bảo  mật và an toàn thông tin.Trên thế giới  mật mã học được ra 
đời từ thời La Mã cổ đại và ngày  càng được nghiên cứu, phát  triển đạt những 
thành tựu to lớn. Trong mật mã học thì vấn đề bảo mật luôn đi đôi với vấn đề 
xác thực thông tin, đặc biệt trong hệ thống mã hóa khóa công khai vấn đề xác 
thực là vô cùng quan trọng, để giải quyết vấn đề trên người ta đưa ra một cách 
giải quyết hiệu quả, đó là phương pháp chứng minh không tiết lộ thông tin. Với 
sự bùng nổ của mạng Internet hiên nay, mạng máy tính đang ngày càng đóng vai 
trò thiết  yếu  trong  lĩnh vực hoạt động xã hội, và khi nó trở thành phương tiện 
điều  hành  các  hệ  thống  thì  nhu  cầu  bảo  mật  thông  tin  được  đặt  lên  hàng  đầu. 

số  kết  quả  thực  nghiệm  để  kiểm  chứng  hiệu  quả  của  thuật  toán  trên  hệ  thống 
máy  tính  để  kiểm  tra  và  sinh  số  nguyên  tố  lớn,  lồng  ghép  vào  chương  trình 
chứng minh không tiết lộ thông tin trong việc mô tả quá trình bỏ lá phiếu điện 
tử. 

viii


1


Chương 1: Số nguyên tố và các bài toán liên quan 
1.1. Định nghĩa số nguyên tố
Số tự nhiên p, lớn hơn 1 gọi là số nguyên tố nếu như nó chỉ chia hết cho 1 và 
chính nó. Định lý cơ bản của số học nói rằng, bất kỳ số tự nhiên n, lớn hơn 1 có 
thể phân tích thành tích các số  nguyên tố. Tức là một số tự nhiên n có thể biểu 
diễn dưới dạng sau: 
n  p1 1 ... pk k , 

ở đây  p1  p2  ...  pk  - là các số nguyên tố khác nhau,  1 ,..., k  N . 

1.2. Tính chất của số nguyên tố
   Ký hiệu "b   a" nghĩa là b là ước của a, ký hiệu a  b nghĩa là a chia hết cho b. 


Ước tự nhiên khác 1 nhỏ nhất của một số tự nhiên là số nguyên tố. 

Chứng minh: Giả sử d   a; d nhỏ nhất; d  1. 
Nếu d không nguyên tố     d = d1.d2; d1, d2 > 1 
 d1|a với d1 
pháp này. 
Thế nhưng, các nhà toán học chưa thỏa mãn với việc dùng phương pháp 
này để tìm ra số nguyên tố, bởi vì nó có chút mò mẫm nhất định, bạn không thể 
biết trước được số nguyên sẽ “sàng” ra số nào. Điều mà các nhà toán học muốn 
là tìm ra quy luật của số nguyên tố để nghiên cứu sâu hơn về nó. 
Từ trong bảng các số nguyên tố, chúng ta có thể thấy chúng được phân bố 
như sau: từ 1  đến 1000  có  168  số nguyên  tố; từ  1000 đến  2000  có  135 số; từ 
2000 đến 3000 có 127 số; từ 3000 đến 4000 có 120 số; từ 4000 đến 5000 có 119 
số. Khi số các số tự nhiên càng lớn thì tỉ lệ phân bố các số nguyên tố càng thưa. 
Số nguyên tố đã "hoá trang" cho mình rồi lẩn khuất trong các số tự nhiên, khiến 
việc tìm ra chúng trở nên khó khăn hơn.  
Ví dụ, 101, 401, 601, 701 đều là số nguyên tố, nhưng 301 và 901 thì lại 
không phải. Có người thử tính như thế này: 12 + 1 + 41 = 43, 22 + 2 + 41 = 47, 
32 + 3 + 41 = 53, ..., 392 + 39 + 41 = 1601. Có 39 số từ 43 cho đến 1601 đều là 
số nguyên tố, thế nhưng tiếp sau đó: 402 +40 +41 =1681 = 41 x 41 thì lại là một 
hợp số. 

2


Nhà toán học người Pháp Ferma từng nghiên cứu lâu dài về số nguyên tố, 
ông từng đưa ra một suy đoán thế này: số (22n + 1) (với n là số nguyên) thì nhất 
định  là  số nguyên tố.  Ferma đã thử 5  "số Ferma"  đầu thì đều là số nguyên  tố, 
nhưng đến số "ferma" thứ sáu thì lại là hợp số, hơn nữa từ số "Ferma thứ 6" trở 
đi, không thể phát hiện  thấy số  nguyên  tố  nào  nữa, toàn là hợp số.  Xem  ra  số 
nguyên tố đã cố trêu đùa Ferma. 
Năm 1644, nhà toán học người Pháp Mason đã đưa ra "số Mason", hình 
thức của nó là (2p - 1). Khi ông còn sống, ông tìm ra 11p để cho (2p - 1) là số 
nguyên tố, người ta tiến hành kiểm chứng đối với 8p, chúng đều là số nguyên tố. 
250 năm sau, năm 1903, các nhà toán học tìm ra số Mason thứ 9 không phải là 

đã cống hiến một năng lực xử lý nhiều hơn bất cứ ai: tương đương với khả năng 
xử lý của của một máy tính Pentium 90MHz chạy liên tục trong... 67.000 năm. 
Hai giáo sư Curtis Cooper và Steven Boone là những người phụ trách dự án này. 
Con số nguyên tố được phát hiện lần này là số nguyên tố Mersenne thứ 43 được 
tìm ra. 
1.3.2. Phân tích ra thừa số nguyên tố
Các  số  có  dạng  Mq =  2q -  1  (với  q  là  nguyên  tố)  được  gọi  là  các  số 
Mersenne và đã được nghiên cứu công phu. 
Vào  năm  1640  ,  Mersenne  đã  cho  rằng  Mq là  số  nguyên  tố  đối  với 
q=13,17,19,31,67,127,257; ông đã nhầm đối với 67 và 257 và đã không đưa 61, 
89  và  107  vào  danh  sách  trên.  Những  số  này  còn  sinh ra  các  số  nguyên  tố 
Mersenne. Phát hiện của ông thực sự đáng kinh ngạc về mặt độ lớn của các số. 
Một bài toán khá hiển nhiên là: Xét  xem  một số Mersenne có là số nguyên tố 
không, và nếu không thì xác định các thừa số của nó ( hay còn gọi là bài toán 
phân tích ra thừa số). Một kết quả cổ điển do Euler đưa ra năm 1750 và sau đó 
được Lagrange (1775) và Lucas (1875) chứng minh là: 
Nếu q là một số nguyên tố đồng dư modul log 4(q(3) (mod 4)) thì Mq chia hết 
cho 2q + 1 khi và chỉ khi 2q + 1 là nguyên tố; trong trường hợp này, nếu q> 3 thì 
Mq là hợp số. 

4


Thật vậy: Cho n = 2q + 1 là một thừa số của  M q Vì 22# 1 (mod n) nên 2q# 1 
(mod n), và 22q - 1 = (2q+1)Mqº0 (mod n), từ đó bằng phép thử của Lucas suy ra 
n là một số nguyên tố. 
Ngược  lại,  cho  p  =  2q  +  1  là  một  số  nguyên  tố.  Vì  pº7(mod  8)  nên 
(2/p)=1, do vậy tồn tại m sao cho 2ºm2 (mod p). Điều này chứng tỏ rằng 2qº2(p1)/2

ºmp - 1º1(mod p) Vì vậy Mq chia hết cho p. 

5


Như vậy khi phân tích một số a > 1thành một tích những thừa số nguyên tố, 
ta  có  thể  gặp  cùng  một  thừa  số  nhiều  lần.  Nếu  p1,p2,...,pn  xuất  hiện  theo  thứ 
tự α1,...,αn lần thì ta có: a = p1α1 p2α2... pnαn. 
Đây là dạng phân tích chính tắc tiêu chuẩn của a. 
Ví dụ: 360 = 23.32.5. 
Giả sử a = p1α1 p2α2... pnαn là dạng phân tích chính tắc của số tự nhiên a > 1. 
Khi đó nếu d là một ước dương của a 
        d = p1β1 p2β2... pnβn với 0 ≤ βi ≤ αi ; i =  1, n  
Vậy nên nếu  cho n số tự nhiên lớn hơn 1 

a1  p111 p212 ...pm1m

 
an  p1m1 p2m2 ...pmmn
Khi đó: (a1, ..., an) = p1β1 ... pmβm với βj = min (αij); i = 1, n   ; j =  1, m . 
[a1, ..., an] = p1ƴ1 ... pmƴm, ƴj = max(αij); i=  1, n  ; j =   1, m . 
1.4. Kết luận chương
        Như  vậy,  chương  1  đã  tổng  quan  về  số  nguyên  tố  và  phân  tích  thừa  số 
nguyên tố. Đây là kiến thức cơ sở chuẩn bị cho những nghiên cứu tiếp theo của 
bản luận văn này. 
       Phần đầu nói về định nghĩa và các tính chất của số nguyên tố. 
       Tiếp theo là những vấn đề về sinh số nguyên tố và phân tích số nguyên tố 
đó ra thừa số. 
       Nội dung chính chương giúp hiểu được số nguyên tố và mô hình hóa lập kế 
hoạch giải quyết các bài toán về số nguyên tố. Đây là cơ sở quan trọng để tiến 
hành xây  dựng  các thuật  toán  kiểm  tra  số  nguyên  tố  và  sinh  số  nguyên  tố  lớn 
đảm bảo hiệu quả, sẽ trình bày ở các chương tiếp theo. 

thêm và điều chỉnh một số lệnh như sau: 
- Thêm  lệnh kiểm  tra  trường hợp  n  là  số  chẵn  (n%2==0) kết thúc thuật 
toán trả về giá trị 0. 
- Điều chỉnh vòng lặp for với i chạy từ 2 tới  n   mà vẫn nhận được kết 
quả đúng. Vì nếu một số n không là nguyên tố có ước a thì sẽ có ước n/a, một 
trong hai giá trị a hoặc n/a sẽ có nhỏ hơn  n , vậy chúng ta chỉ cần thực  hiện 
vòng lặp đến  n  để tìm ra ước của n nếu có. Giải thuật 2 có thể được viết lại 
như sau: 
7


 
Giải thuật 2: Kiểm tra số nguyên tố 
Input: n (lớn hơn 2) 
Output: 1 nếu n là số nguyên tố, 0 nếu ngược lại 
Begin 
if (n%2==0) return 0; 
for (i=2; i
5. Nếu như  F (a)  n , thì n là số nguyên tố. 
6.  Nếu như  a  log 2 n, thì quay  về tầng 2 với a  là giá trị tiếp theo. Nếu 
như  a  log 2 n 1 , thì n là hợp số. 

Đánh giá độ phức tạp của thuật toán Konigin- Pomerans
k

   Nếu giả sử  n  N , n  1 , n là số lẻ,  n  1   q aj .Lúc này việc kiểm tra tính 
j

j 1

 log n 17 / 7 
 .Thật vậy với  n  N , n  1 , n là số 

 log log n 

nguyên tố của n có thể có chi phí là  O

lẻ,  n  1  F1 .R1 ,  ở  đây  UCLN ( F1 , R1 )  1 ,  và  biết  được  sự  phân  chia  F1   ra  thừa  số 
nguyên  tố.  Nếu  F1  n

1

4n

,  với   là  số  dương  không  đổi,  thì  việc  kiểm  tra  tính 

nguyên tố của n có thể chi phí là  O((log n) c ( ) ) (  c( )  là số nguyên dương không 
đổi, phụ thuộc vào   . 

thỏa mãn không 
A  1(mod n) . 

Nếu như đúng thì nhảy sang bước 4. Ngược lại 
p

M : Mp j ,  A : A j ; 

Và chuyển đến giá trị tiếp theo của l trong chu trình. 
4. Nếu như j
11


nhiên hay thuật toán xác suất. Trong các thuật toán loại này, dùng để kiểm tra 
ngẫu nhiên không bao giờ kết luận một số nguyên tố là hợp số nhưng có thể kết 
luận  một  hợp  số  là  số  nguyên  tố.  Xác  suất  sai  của  phép  kiểm  tra  có  thể  giảm 
xuống  nhờ  việc  chọn  một  dãy  độc  lập  các  số  a nếu  với  mỗi  số  a xác  suất  để 
thuật toán kết luận một hợp số là số nguyên tố là nhỏ hơn một nửa thì sau k lần 
thử độc lập, xác suất sai là nhỏ hơn 2 k,độ tin cậy của thuật toán sẽ tăng lên theo 
k. 
Cấu trúc cơ bản của một phép kiểm tra ngẫu nhiên là: 
Input: n 
Output: Số n cần kiểm tra là hợp số hay là số nguyên 
Thuật toán kiểm tra xác suất
1: Chọn một số ngẫu nhiên a.  
2: Kiểm tra một hệ thức nào đó giữa số a và số n đã cho. Nếu hệ 
thức sai thì chắc chắn n là một hợp số (số a là "bằng chứng" chứng 
tỏ n là hợp số) và dừng thuật toán.  
3:  Lặp  lại  bước  1  cho  đến  khi  đạt  được  số  lần  đã  định  hoặc  gặp 
bước 2.  
Sau một loạt lần kiểm tra, nếu không tìm được bằng chứng chứng tỏ n là hợp 
số thì ta kết luận n là số nguyên tố. 
Các phép kiểm tra tính nguyên tố ngẫu nhiên là: Phép kiểm tra tính nguyên tố 
của Fermat (kiểm tra Fermat). Đây là phép thử heuristic, tuy nhiên ít người sử 
dụng phép thử này. Được sử dụng nhiều hơn là Kiểm tra Miller-Rabin và Kiểm 
tra Solovay-Strassen.Với mỗi hợp số n, ít nhất 3/4 (với kiểm tra Miller-Rabin) 
hoặc 1/2 (Với kiểm tra Solovay-Strassen) các số a là bằng chứng chứng tỏ n là 
hợp số). 
2.1.4. Kiểm tra trên cơ sở định luật nhỏ của Fermat
Phương pháp này dựa trên định luật nhỏ của Fermat: Nếu như n là số nguyên 

5:   Nếu như đẳng thức đúng thì trả lời là chưa biết, nhưng có thể kiểm tra 
lại một số lần với các a khác nhau. 
Giải thuật Fermat kiểm tra tính nguyên tố của số

13


Input: n: giá trị để kiểm tra tính nguyên tố; k: tham số tham gia vào quá trình 
kiểm tra . 
Output: Số n cần kiểm tra là hợp số, hay là nguyên tố xác suất.  
Begin 
repeat k times:  
lấy a ngẫu nhiên trong [1, n   1]  
if an   1 mod n ≠ 1 then  
return hợp số  
return nguyên tố xác suất  
End. 
Khi dùng thuật toán tính nhanh luỹ thừa theo mođun, thời gian thi hành của 
thuật toán là O(k × log3n), ở đó k là số lần kiểm tra với mỗi số a ngẫu nhiên, và 
n là giá trị ta muốn kiểm tra. Và từ việc kiểm tra này dẫn ta đến phần sau. 
Cho  n>1  là  số  tự  nhiên  lẻ,  n  1  22.d ,  ở  đây  d  là  số  lẻ.  Số  n  gọi  là  số  giả 
nguyên tố  
Chặt chẽ trong cơ sở a,  a  N , nếu như  UCLN (a, n)  1  hoặc  a d  1(mod n) , hoặc                 
r

a d .2  1(mod n) , với  0  r  s . 
s

Vậy cho  nên nếu n là số  nguyên tố, thì  a n 1  1(mod n) , tức là  a 2 d  1(mod n) . 
Từ đây ta có  a 2

Như vậy chúng ta thấy việc kiểm tra trên cơ sở tính chặt chẽ giả nguyên tố là 
hiệu  quả  đối  với  việc  tìm  số  hợp số,  thế nhưng  cách  này  cũng  chỉ  đúng trong 
một điều kiện cần thiết.  
 
2.1.5. Kiểm tra bằng Miller-Rabin 
Kiểm tra Miller-Rabin là một thuật toán xác suất để kiểm tra tính nguyên tố. 
Nó được đề  xuất đầu  tiên bởi Gary  L.  Miller như  một  thuật  toán tất định, dựa 
trên giả thiết Riemann tổng quát; Michael O. Rabin đã sửa chữa nó thành một 
thuật toán xác suất. 
    Khi  sử  dụng  kiểm  tra  Miller-Rabin  chúng  ta  căn  cứ  vào  một  mệnh  đề 
Q(p,a)đúng với các số nguyên tố p và mọi số tự nhiên  a  A  N và kiểm tra xem 
chúng  có  đúng với  số  n  muốn  kiểm  tra  và  một  số  a  A được  chọn ngẫu nhiên 
hay không? Nếu mệnh đề Q(n,a) không đúng, tất yếu n không phải là số nguyên 
tố, còn nếu Q(n,a) đúng, số n có thể là số nguyên tố với một xác suất nào đó. 
Khi tăng số lần thử, xác suất để n là số nguyên tố tăng lên. 
Giải thuật kiểm tra Miller-Rabin
Input : Số tự nhiên lẻ n. 
Output : FALSE nếu n là hợp số, nếu không TRUE 
Begin
1. Phân tích n - 1 =  2 s  m  trong đó  s  1  và m là số tự nhiên lẻ  
2. Chọn ngẫu nhiên số tự nhiên a   {2,...,n-1}.  
3. Đặt b = am(mod n)  
4. Nếu  b  1(mod n)  thì trả về TRUE. Kết thúc.  
5. Cho k chạy từ 0 đến s-1:  
a. Nếu b  1(mod n)  thì trả về TRUE. Kết thúc.  
b. Thay b:=b2(mod n).  
6. Trả lời FALSE.  
           End. 

15


s 1

m

có a 2

s 1

m

  là  căn  bậc  2  của  1  modulo  n,  theo  bổ  đề  ta  có  hoặc 

 1(mod n)   hoặc a 2

s 1

m

s 1

m

 1(mod n) , nên  a 2

 1(mod n) .  Mà  theo  giả  thuyết  chứng  minh  ta 
s 1

m


Gọi A là biến cố "Số n là hợp số". B là biến cố "Kiểm tra Miller-Rabin trả lời 
n là số nguyên tố". Khi đó xác suất sai của kiểm tra này là xác suất để số n là 
hợp số  trong khi  thuật toán  cho câu trả lời TRUE,  nghĩa là xác  suất điều kiện 
P(A|B).  

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status