MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thư gửi A.M.Goocki, Lênin viết: “Quả là nhà triết học Hêghen đã
nói đúng: “Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn, và những mâu
thuẫn sống thì lại phong phú hơn nhiều, nhiều vẻ hơn nhiều và có một nội
dung dồi dào hơn nhiều so với điều mà trí tuệ con người cảm thấy lúc ban
đầu ’’ [26; 297].
Phép biện chứng suy cho cùng là biện chứng về những mâu thuẫn. Do tầm
quan trọng của nó mà Lênin đã xem lý luận về sự thống nhất của các mặt đối lập
là hạt nhân của phép biện chứng.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (Quy luật mâu thuẫn)
là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân của phép
biện chứng duy vật. Vì nó vạch ra nguồn gốc động lực của sự vận động, phát
triển của thế giới khách quan và vì nó là chìa khóa, là cơ sở giúp chúng ta nắm
vững thực chất của tất cả các quy luật và phạm trù của phép biện chứng duy vật.
Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy
của con người. Trong hoạt động kinh tế cũng mang tính phổ biến, chẳng hạn
như cung - cầu, tích lũy - tiêu dùng… Mâu thuẫn tồn tại khi sự vật xuất hiện đến
khi sự vật kết thúc. Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn hình thành không phải chỉ là
một mà là nhiều mâu thuẫn, và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập
thì mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành… Cho nên nắm
vững quan điểm macxit về mâu thuẫn sẽ giúp người ta hình thành phương pháp,
hình thành tư duy khoa học biết khám phá bản chất của sự vật và giải quyết các
mâu thuẫn nảy sinh, thúc đẩy sự vật phát triển.
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng, nó cho ta chìa khóa để tìm hiểu mọi
sự vận động và phát triển, đi sâu vào bản chất của sự vật và hiện tượng. Trong
công tác thực tiễn, chúng ta cần tìm hiểu sự vật và hiện tượng bằng phương pháp
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Chính vì vậy, nghiên cứu về quy luật mâu thuẫn để vận dụng chúng vào
thực tiễn là một đòi hỏi thường xuyên đối với những nhà quản lý nói chung và
người làm công tác triết học nói riêng.
Từ những nhận thức trên về vai trò, vị trí của vấn đề phát hiện, giải quyết
mâu thuẫn để từ đó vận dụng vào tiến trình CNH, HĐH ở huyện Minh Hóa, tỉnh
Quảng Bình. Chính vì lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Sự vận dụng Quy luật mâu
thuẫn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Minh Hóa, tỉnh
Quảng Bình’’ làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Tôi hy vọng việc nghiên
cứu đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về mâu thuẫn và những vấn
đề mâu thuẫn nảy sinh trong thực tiễn của tiến trình CNH, HĐH ở Huyện Minh
Hóa, Tỉnh Quảng Bình, cũng như việc vận dụng các biện pháp giải quyết mâu
thuẫn nhằm đảm bảo cho thắng lợi của quá trình CNH, HĐH ở Minh Hóa,
Quảng Bình nói riêng và của sự nghiệp CNH, HĐH nước ta nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong hệ thống triết học của mình, khi cho rằng “Tất cả mọi vật đều có tính
chất mâu thuẫn trong bản thân nó”, Hêghen khẳng định: “Mâu thuẫn là nguồn
gốc của tất cả mọi sự vận động của tất cả mọi sự sống” [25; 147]
Với tầm quan trọng của mâu thuẫn, từ trước đến nay, việc nghiên cứu xoay
quanh vấn đề này đạt được những kết quả đa dạng và không kém phần sâu sắc.
Mỗi công trình đó đều tiếp cận và nghiên cứu về quy luật mâu thuẫn ở nhiều
phương diện, nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau. Nhìn chung, các công trình
này ngoài việc làm rõ những nội dung cơ bản của quy luật còn gắn với vấn đề
thực tiễn nào đó, một địa phương nào đó, hoặc với một giai đoạn lịch sử nhất
định. Với những mảng đề tài như: “Mâu thuẫn một số vấn đề lý luận và thực
tiễn” của Nguyễn Tấn Hùng. Cuốn sách đã làm rõ về quy luật mâu thuẫn theo
quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và vai trò của nó đối với sự phát triển xã
hội. “Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và cách giải quyết trên con
đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” của GS.TS Phạm
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta.
Trần Đắc Hiến: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở
Việt Nam: Một số vấn đề đặt ra và hướng giải quyết (Số 11, 11 - 2007). Trong
bài viết này, tác giả đã phân tích một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn tiến hành công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở
đó, tác giả luận chứng những biện pháp cần thiết để giải quyết, khắc phục những
4
Khóa Luận Tốt Nghiệp
vấn đề nảy sinh nhằm nâng cao hiệu quả của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn.
Trần Nguyên Ký: “Về phương pháp kết hợp các mặt đối lập để giải quyết
mâu thuẫn xã hội trong thời kỳ quá độ”… và nhiều bài viết của các tác giả khác
đăng trên các tạp chí Triết học, tạp chí Cộng sản… Các công trình nói trên đã
nghiên cứu quy luât mâu thuẫn dưới những góc độ khác nhau. Tuy nhiên chưa
có công trình nào nghiên cứu về mâu thuẫn với tính cách vận dụng quy luật mâu
thuẫn trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Minh Hóa, Quảng Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Quan niệm về mâu thuẫn và quy luật
mâu thuẫn.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu những quan niệm khác nhau về mâu
thuẫn trong lịch sử triết học và đi sâu tìm hiểu quy luật mâu thuẫn trong triết học
mácxít, từ đó vận dụng vào trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
huyện Minh Hóa, Quảng Bình.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của khoá luận là làm rõ hơn tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình thông qua việc phân tích và giải quyết
Một số quan niệm về mâu thuẫn
1.2.
Nội dung của quy luật mâu thuẫn
1.3.
Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật mâu thuẫn
Chương 2: VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN TRONG TIẾN
TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở HUYỆN MINH
HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1.
Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2.2.
Tính tất yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong giai đoạn hiện
nay ở nước ta
2.3.
Thực trạng kinh tế - xã hội ở huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng bình
2.4.
Một số mâu thuẫn trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở Minh Hoá, Quảng Bình.
Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là sự phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và
là nguồn gốc phát triển của nhận thức, của tư duy trên con đường vươn tới chân
lý khách quan, chân lý tuyệt đối về hiện thực.
Cần phân biệt mâu thuẫn biện chứng được phản ánh vào trong tư duy, trong
các khái niệm, lý luận với cái gọi là những mâu thuẫn logic biểu hiện sự mơ hồ
tính chất không triệt để của tư tưởng.
Những mâu thuẫn logic hình thức chỉ tồn tại trong tư duy, nó xuất hiện do
sai lầm trong tư duy. Mâu thuẫn logic hình thức là mâu thuẫn được tạo thành từ
hai phán đoán phủ định nhau về cùng một quan hệ cùng một thời điểm; trong hai
phán đoán đối lập đó, chỉ có một là chân lý.
7
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Quy luật mâu thuẫn là sự phản ánh vào tư duy tính xác định về vật chất của
các khách thể, là sự phản ánh cái sự thật giản đơn là nếu không nói đến sự biến
đổi của khách thể, thì nó không thể đồng thời có được những đặc tính bài trừ lẫn
nhau.
Mọi sự vật đều chứa đựng mâu thuẫn bên trong, bởi vì bản chất của mọi sự
vật là động chứ không tĩnh, khi sự vật vận động thì mâu thuẫn phát sinh.
Như vậy, chúng ta nên hiểu rằng mâu thuẫn là đương nhiên tồn tại và là tốt
chứ không phải xấu, vì nó giúp cho sự phát triển.
1.1.2. Quan niệm trước Mác về mâu thuẫn
Có thể nói, sự vận động và phát triển của mọi sự vật hiện tượng bao giờ
cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi. Thống nhất và đấu
tranh giữa các mặt đối lập quy định tính ổn định và thay đổi của sự vật. Do vậy,
mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển. Vấn đề này sớm
được các nhà triết học trước Mác quan tâm nghiên cứu, và có những phỏng đoán
thiên tài về sự tương tác giữa các mặt đối lập, xem nó là nguyên nhân của sự
người. Nó vừa biến dịch mà bất dịch, mâu thuẫn và thống nhất, đối lập mà vẫn
hài hòa với nhau. Biểu hiện cụ thể của Âm - Dương là các mặt đối lập như: mặt
trời - mặt trăng; cao - thấp; nóng - lạnh; quân tử - tiểu nhân; cha - mẹ; nhanh chậm.
Âm - Dương tuy đối lập, mâu thuẫn, song không tách rời nhau mà xâm
nhập vào nhau, quấn quýt lấy nhau. Âm - Dương không phải là tuyệt đối mà là
tương đối, không phải là đại biểu cố định cho một số sự vật nào đó mà là đại
biểu cho sự chuyển biến, đối lập tất cả các sự vật.
Hai thế lực Âm - Dương không tồn tại biệt lập mà thống nhất, chế ước lẫn
nhau theo các nguyên lý: Âm - Dương thống nhất thành Thái cực (Thái cực
được coi như nguyên lý của sự thống nhất hai mặt Âm - Dương). Nguyên lý này
nói lên tính toàn vẹn, tính chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cái duy nhất. Chính
nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và biến đổi. Trong Âm
có Dương, trong Dương có Âm - nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi Âm Dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực. Trong Thái âm (âm lớn)
có Thiếu dương (dương nhỏ), trong Thái dương (dương lớn) có Thiếu âm (âm
nhỏ), “dương nhỏ” trong “âm lớn” phát triển đến cùng thì có sự chuyển hóa “âm
lớn” trở thành “dương lớn” và ngược lại. Và cứ như thế sự vật vận động, phát
triển không ngừng.
9
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Các nguyên lý trên được khái quát bằng vòng tròn khép kín, có hai hình
đen trắng tượng trưng cho Âm Dương, hai hình này tuy cách biệt hẳn nhau, đối
lập nhau nhưng ôm lấy nhau, xoắn lấy nhau. Trong Âm có Dương, trong Dương
có Âm. Âm thịnh dần thì Dương suy dần, ngược lại Dương thịnh dần thì Âm
cũng suy dần.
Thuyết Âm - Dương từ nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong tự nhiên đã
được vận dụng vào đời sống xã hội, được liên hệ với con người và bản chất của
Lão Tử - người sáng lập ra Đạo gia, một trong những trường phái triết học
lớn của Trung Quốc thời cổ đại, là nhà biện chứng số một của triết học phương
Đông. Ông đã đưa ra nhiều tư tưởng có giá trị về mâu thuẫn. Ông cho rằng mọi
sự sinh thành, biến hóa của vạn vật đều từ “Đạo” mà ra. Đạo không chỉ là khởi
nguyên mà còn là động lực cho sự vận động và biến đổi của muôn loài, muôn
vật trong vũ trụ. Quan niệm về biến động là sự tương tác giữa hai cực đối lập, đã
đưa Lão Tử đến sự khám phá tính đối lập và tính thống nhất giữa hai cực của
mâu thuẫn. Theo Lão Tử, mọi sự vận động, biến đổi đều có nguồn gốc từ trong
bản thân sự vật. Mỗi vật đều là thể thống nhất của hai mặt đối lập vừa tương
hòa, vừa xung khắc, vừa đối lập lại vừa liên hệ, ràng buộc bao hàm nhau. Tuy
nhiên, ông chưa nắm thực chất của sự chuyển hóa, hiểu chuyển hóa một cách
máy móc. Không nhấn mạnh đấu tranh với tư cách là phương thức giải quyết
mâu thuẫn, nhằm thực hiện sự phát triển, trái lại đề cao tư tưởng điều hòa mâu
thuẫn.
Nền triết học Trung Quốc là nền triết học có lịch sử lâu đời. Nhìn chung,
các nhà triết học Trung Quốc cổ đại khi luận giải những vấn đề về tự nhiên và
xã hội đã thừa nhận mâu thuẫn và sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập trong các
sự vật, hiện tượng. Tuy vậy, do bị hạn chế về thế giới quan và nhân sinh quan,
do địa vị giai cấp của mình nên các triết gia đã không thoát khỏi lập trường duy
tâm trong việc giải thích về sự vận động và biến đổi của lịch sử xã hội, đã làm
mất đi tính duy vật, làm nghèo đi tính biện chứng ban đầu của nó. Tuy có thừa
nhận mâu thuẫn và tính phổ biến của nó song lại chủ trương điều hòa mâu thuẫn.
Có thể nói bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết
học Trung Quốc thời cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư
tưởng sâu sắc về sự biến dịch của vũ trụ. Những tư tưởng về Âm – Dương Ngũ
hành tuy còn có những hạn chế nhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc
mang tính chất duy vật và biện chứng của người Trung Quốc cổ, đã có ảnh
11
bao trùm trong đó hai mặt đối lập vừa bất biến vừa biến đổi, vừa đứng im vừa
vận động, vừa trong trạng thái thăng bằng, ổn định, vừa trong trạng thái không
cân bằng, không ổn định. Các trường phái này đều xem xét các yếu tố khởi
12
Khóa Luận Tốt Nghiệp
nguyên của thế giới là bất biến, tồn tại vĩnh viễn còn các sự vật hiện tượng cụ
thể thì biến đổi, chuyển hóa không ngừng. Hoặc coi thế giới là tồn tại vĩnh viễn
các hình thức, các dạng tồn tại của nó lại luôn luôn biến đổi, biến chuyển liên
tục, không ngừng. Thế giới sự vật và hiện tượng luôn luôn biến đổi theo chu
trình sinh - trụ - dị - diệt (hoặc thành - trụ - hoại - không) theo luật nhân quả.
Phật giáo khẳng định tồn tại là vô thường, luôn luôn biến đổi.
Trong các tác phẩm Veda, Upanisad cũng như hệ thống triết học Vedanta
đã đứng trên lập trường duy tâm - tôn giáo trong việc giải thích nguồn gốc của
sự vận động, biến đổi của thế giới vạn vật. Theo quan niệm của Upanisad thì
Brahman là tinh thần vũ trụ tối cao, là nguyên lý sáng tạo nên toàn vũ trụ, là
thực thể duy nhất, phổ biến nhất ẩn sau toàn bộ thế giới hữu hình. Brahman biểu
hiện trong con người là Atman, Atman đồng nhất với Brahman. Nghĩa là sự
thống nhất của muôn vật với tinh thần vũ trụ duy nhất Brahman, khẳng định sự
thống nhất và chuyển hóa giữa các mặt đối lập. Theo đó các hệ thống tư tưởng
này cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng vận động, biến đổi tất cả đều bị chi phối,
điều khiển bởi tinh thần vũ trụ tối cao Brahman. Đạo Bàlamôn thì khẳng định,
sự vận động biến đổi của vạn vật chủ yếu do hai vị thần sáng tạo Brahman và
thần hủy diệt Visnu chi phối.
Triết học Ấn Độ cổ đại đã đặt ra và bước đầu giải quyết nhiều vấn đề của
triết học. Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại từ nhiều góc độ khác nhau đã
đề cập đến mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng trong vũ trụ, đã phác thảo được
những nét ban đầu về mâu thuẫn. Tuy nhiên các nhà triết học Ấn Độ cổ đại đã
trong lịch sử phát triển tư duy biện chứng [34; 101]. Đánh giá mặt tích cực và
hạn chế của quan điểm biện chứng chất phác thời cổ đại, Ph.Ănghen cho rằng
trong quan điểm đó người ta thấy được sự liên hệ, sự vận động và phát triển,
nhưng chưa làm rõ được cái gì đang liên hệ cũng như những quy luật nội tại của
sự vận động và sự phát triển.
Mâu thuẫn được coi là hạt nhân của phép biện chứng và ngay từ đầu đã
được Hêraclit bàn đến. Hêraclit là nhà biện chứng lỗi lạc nổi tiếng ở Hy Lạp cổ
đại - người được Lênin coi là nhà sáng lập ra phép biện chứng. Ông không
những nổi tiếng với học thuyết dòng chảy mà còn trở nên bất hủ trong quan
niệm độc đáo về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập, về tính thống nhất
của vũ trụ. Ông cho rằng mọi sự vật đều là sự thống nhất của các mặt đối lập,
mọi cái đồng nhất luôn luôn tồn tại trong sự khác biệt đó, cái hài hòa của những
cái căng thẳng, đối lập: đối lập giữa thiện và ác, giữa trẻ và già, sống và chết…
14
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Ông coi đó là sự “tương phản”, “tương hành” trong vũ trụ. Khi tồn tại trong một
sự vật thì các mặt đối lập luôn có sự ràng buộc với nhau. Hêraclit khẳng định
đấu tranh là nguồn gốc của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ và đó là một mặt
trong “sự sống” của mọi sự vật đang biến đổi. Ông cũng coi vận động và đứng
im là một sự thống nhất của của các mặt đối lập, giống như đấu tranh và hài hòa
chúng tồn tại thông qua nhau và là điều kiện tồn tại của nhau. Ông thừa nhận sự
thống nhất của vận động và đứng im có tính phổ biến.
Hêraclit là người đầu tiên sử dụng logos với tính cách là một khái niệm
triết học và khái niệm này về sau trở nên phổ biến trong toàn bộ nền triết học Hy
Lạp cổ đại.
“Logos” được hiểu không chỉ là từ ngữ, mà còn là quy luật khách quan của
vũ trụ, quy định trật tự và chuẩn mực của mọi cái. Logos cũng chính là lửa,
đã cố thể hiện bản chất mâu thuẫn của các sự vật trong logos chủ quan, song đã
gặp trở ngại về vấn đề khả năng phản ánh bản chất mâu thuẫn của các sự vật, kể
cả bản chất mâu thuẫn vận động vào logos của khái niệm.
Đóng góp cho nền triết học Hy Lạp còn phải kể đến Đêmôcrit với khuynh
hướng nguyên tử luận. Trong các công trình của mình tư tưởng của ông phản
ánh về mâu thuẫn, về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, đó là sự
thống nhất giữa linh hồn và thể xác, giữa tập hợp và phân tán trong quá trình vận
động của nguyên tử. Ông diễn tả sự vận động của thế giới vật chất như là một
quá trình vĩnh viễn, vô tận từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, vận động
là thuộc tính của các nguyên tử, “các nguyên tử bản chất là bất động, đã vận
động được là nhờ va chạm”.
Chúng ta cũng cần thừa nhận sự đóng góp của của Dênôn và Platon cho
nền triết học Hy Lạp cổ đại, mặc dù đó là những đại biểu đối lập với những tư
tưởng biện chứng. Dênon yêu cầu tuân thủ quy luật logic. Platon đã nhận thức
được một số yếu tố quan trọng dẫn đến tư duy biện chứng chân chính – đó là
muốn nhận thức đúng về các mâu thuẫn hiện thực, đòi hỏi tuân thủ nghiêm ngặt,
nhất quán quy luật mâu thuẫn logic.
Như vậy, trong quan niệm về mâu thuẫn, triết học Hy Lạp cổ đại chỉ dừng
lại ở giới hạn nêu vấn đề. Nhiều nhà triết học đã nhận thức được sự tồn tại của
các mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng. Thừa nhận có mâu thuẫn, có các mặt
đối lập nhưng chỉ là những phỏng đoán thiên tài, chưa được chứng minh một
cách khoa học, cũng như chưa được nghiên cứu một cách tự giác. Tuy nhiên
những quan niệm về mâu thuẫn của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại là mầm
16
Khóa Luận Tốt Nghiệp
mống cho sự phát triển của các quan niệm sau này, đặc biệt là quan niệm của
triết học Mác.
Khóa Luận Tốt Nghiệp
của bản thân hiện thực trong sự thống nhất giữa hiện thực với khả năng và trong
sự đối lập của nó với khả năng.
Hêghen nhấn mạnh, bất kỳ sự đồng nhất nào cũng bao hàm sự khác biệt và
mâu thuẫn. Ông coi mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động, là nguyên lý của phát
triển. Ông khẳng định: Mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động và
của tất cả mọi sự sống, chỉ trong chừng mực một vật chứa đựng trong bản thân
nó một mâu thuẫn thì nó mới vận động, mới có xung lực và hoạt động, tất cả
mọi vật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thân nó. Chính sự không ngừng
nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn giữa những quan hệ xã hội là một trong những
động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Đây là một khám phá vĩ đại của Hêghen về
vai trò nền tảng của mâu thuẫn trong sự phát triển của thế giới khách quan và
trong sự nhận thức nó của con người.
Vì là nhà triết học duy tâm nên Hêghen không tránh khỏi những hạn chế
nhất định trong lý luận về mâu thuẫn. Hêghen đã có tư tưởng biện chứng về mâu
thuẫn, dự đoán được mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động, phát triển của sự
vật. Tuy nhiên, mâu thuẫn trong hệ thống triết học của ông không phải là mâu
thuẫn của hiện thực khách quan mà là của tinh thần thế giới, ý niệm tuyệt đối.
Hơn nữa, do bị chi phối bởi quan niệm dân tộc và lợi ích giai cấp mà ông đại
diện nên ông có quan điểm thỏa hiệp khi giải quyết mâu thuẫn. Vì thế dẫn đến
kết cục hệ thống triết học của ông mâu thuẫn với phép biện chứng của ông.
C.Mác và Ph.Ănghen đã phê phán một cách triệt để các hạn chế trong triết học
Hêghen, đồng thời hai ông đã tiếp nhận “hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng
của Hêghen – học thuyết phát triển thông qua mâu thuẫn để xây dựng và phát
triển học thuyết về phép biện chứng duy vật của mình.
Cantơ là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng
phương Tây trước Mác. Cantơ với học thuyết về mâu thuẫn cũng đã góp phần
quan trọng trong sự phát triển phép biện chứng với tư cách là logic và phương
thời đại mình, C.Mác và Ph.Ănghen đã phát triển học thuyết mâu thuẫn biện
chứng lên một tầm cao mới.
Các nhà triết học trước Mác tuy đã đề xuất những tư tưởng biện chứng,
song nhìn chung còn mang tính chất siêu hình và duy tâm, đặc biệt là nhà triết
học duy tâm người Đức Hêghen. Hêghen có tư tưởng biện chứng về quy luật
lượng – chất. Tuy nhiên, sự thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và
ngược lại trong hệ thống triết học của ông chỉ là sự thay đổi thuần túy của các
khái niệm: chất, lượng, độ. Ông cũng có tư tưởng biện chứng về quy luật phủ
19
Khóa Luận Tốt Nghiệp
định của phủ định. Tuy nhiên phủ định trong triết học của ông là hiện thân của
tinh thần thế giới chứ không phải của hiện thực khách quan. Hêghen cũng có tư
tưởng biện chứng về các phạm trù: riêng – chung; bản chất – hiện tượng; nguyên
nhân – kết quả…. Tuy nhiên, những cặp phạm trù này cũng chỉ là kết quả tha
hóa của tinh thần thế giới.
Mác và Ănghen đã cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy tâm của
Hêghen sau khi tách “hạt nhân hợp lý” vốn có của nó, vứt bỏ lối giải thích duy
tâm về các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Các ông cũng đã phê phán và kế thừa
sáng tạo tri thức nhân loại để tạo nên sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và
phép biện chứng. Khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phương
pháp biện chứng trong lịch sử triết học, C.Mác và Ănghen đã tạo nên sự thống
nhất hữu cơ không thể tách rời giữa chúng là chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Trong phép biện chứng duy vật, các quy luật cơ bản có quan hệ chặt chẽ
với nhau. Trong đó, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập được
xem là hạt nhân của phép biện chứng. Triết học Mác đã quan niệm về mâu thuẫn
với tư cách là nguồn gốc động lực của vận động và phát triển trong giới tự
nhiên, xã hội và tư duy.
thời nghiên cứu mâu thuẫn của hàng hóa, mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị sử
dụng, trong trao đổi giá trị chuyển từ mâu thuẫn bên trong thành mâu thuẫn bên
ngoài, thành mâu thuẫn giữa hình thái giá trị tương đối và hình thái ngang giá,
nhờ có tiền tệ mà mâu thuẫn này đã tìm được lối giải quyết.
Mác đã phát hiện ra những mâu thuẫn bên trong của hệ thống tư bản chủ
nghĩa và coi đó là bản tính tồn tại của nó, là nguồn gốc của sự vận động, phát
triển và tiêu vong của nó. Những mâu thuẫn của hệ thống tư bản chủ nghĩa trước
hết là những antinomia (mâu thuẫn trong quy luật, sự xung đột của quy luật với
bản thân nó) trong bản chất, tương ứng với những điều đó ông phát hiện ra
những antinomi gay gắt khách quan trong khái niệm chân chính về mỗi quá trình
thực hiện của nó. Mác đã đề cập đến khía cạnh giải quyết mâu thuẫn. Sự xung
đột định đề và phản đề (antinomi) chẳng qua chỉ là hình thức logic có nội dung
mang tính phạm trù của việc đặt bất cứ vấn đề nào nói chung, của việc đặt và
diễn giải vấn đề bằng ngôn ngữ của bản thân đối tượng. Ta thấy rằng thực chất
của mâu thuẫn biện chứng chỉ được vạch ra với điều kiện tất yếu là hiểu được
toàn bộ chức năng đặc thù của nó trong quá trình nhận thức, cụ thể là chức năng
của nó với tư cách là cái hình thức logic chứa đựng nội dung của chân lý.
21
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ănghen đã đề cập đến mâu thuẫn. Khi
xem xét các sự vật trong sự vận động sự biến đổi, sự sống sự tác động lẫn nhau
của chúng, lúc đó chúng ta sẽ lập tức rơi vào những mâu thuẫn, bản thân sự vận
động đã là một mâu thuẫn, đó là ở chỗ mâu thuẫn đó cứ luôn luôn sản sinh ra và
đồng thời cũng tự giải quyết lấy. Như vậy đã có một mâu thuẫn tồn tại một cách
khách quan ở trong bản thân các sự vật và các quá trình.
Mâu thuẫn là thuộc tính khách quan tồn tại trong tất cả các sự vật, hiện
tượng. Mâu thuẫn tự đề ra và tự giải quyết không ngừng và khi mâu thuẫn đã hết
và cố kìm hãm việc giải quyết nó, với một bên là tiến bộ cách mạng, đang làm
cho mâu thuẫn này phát triển cao, đó là mâu thuẫn giữa lao động và tư bản,
ngoài ra còn có mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc bị áp bức. Phương thức giải quyết mâu thuẫn đối kháng này là đấu tranh
giai cấp mà hình thức cao nhất của nó là cách mạng xã hội.
Lênin cho rằng trong thời đại đế quốc sẽ xuất hiện một số dạng mâu thuẫn
mới. Một trong những dạng ấy là mâu thuẫn trong nội bộ bản thân giai cấp các
nhà tư bản, giữa các tổ chức độc quyền riêng rẻ, các liên minh của các tổ chức
độc quyền, các nhóm cường quốc - đế quốc. Dạng đối kháng này có đặc điểm là
hai mặt của nó về bản chất đều bảo thủ và phản động. Tuy nhiên chỉ bằng sức
mạnh của mình thì giai cấp tư sản không thể giải quyết mâu thuẫn, cũng như
việc giải quyết mâu thuẫn sẽ không tránh khỏi việc dẫn đến chỗ làm suy yếu hệ
thống thế giới của chủ nghĩa đế quốc, thu hẹp ngày càng nhiều lĩnh vực thống trị
kinh tế và chính trị của nó. Khi phân tích hình thức đối kháng của các mâu thuẫn
xã hội trong chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã đi đến kết luận, nó có tính chất lịch sử
nhất thời và tất yếu sẽ biến mất cùng với sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và
của tất cả các hình thức người bóc lột người khác.
Tư tưởng của Lênin về tính chất của các mâu thuẫn đối kháng là cơ sở lý
luận quan trọng cho sự phân tích khoa học hiện đại biện chứng của sự phát triển
xã hội và của các mặt, các yếu tố của nó, là những mầm mống của tương lai, của
sự phát triển tiến bộ nhất.
Trong thời kỳ quá độ, thời kỳ chứa đựng đối lập giữa cái cũ và cái mới,
cuộc đấu tranh của các giai cấp khác nhau và dưới những hình thức khác nhau,
thì việc tiếp tục nghiên cứu lý luận về mâu thuẫn và về việc ứng dụng nó trên
thực tế là có ý nghĩa hàng đầu. Trong thời kỳ ấy, hình thành những tính quy luật
khác so với chế độ tư bản chủ nghĩa và những tính quy luật này đã quy định
phương hướng tư tưởng của Lênin.
23
đưa ra những quan điểm đầy đủ và sâu sắc, cùng với nó là những luận chứng sắc
24
Khóa Luận Tốt Nghiệp
bén nhằm làm rõ thêm quy luật mâu thuẫn với tư cách là hạt nhân của phép biện
chứng.
1.2. Nội dung của quy luật mâu thuẫn
Lịch sử phát triển của triết học là lịch sử phát triển của tư duy triết học gắn
với cuộc đấu tranh của hai phương pháp tư duy – biện chứng và siêu hình. Chính
cuộc đấu tranh lâu dài của hai phương pháp này đã thúc đẩy tư duy triết học phát
triển và được hoàn thiện dần với thắng lợi của tư duy biện chứng duy vật.
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương
pháp. Hệ thống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn thế
giới khách quan mà còn chỉ ra những cách thức để định hướng cho con người
nhận thức và cải tạo thế giới. Phép biện chứng duy vật không chỉ khái quát
những thành tựu của tất cả các khoa học cụ thể, mà còn kết tinh những tinh hoa
trong quá trình phát triển tư tưởng triết học của nhân loại. Phép biện chứng duy
vật trình bày một cách có hệ thống chặt chẽ tính chất biện chứng của thế giới
thông qua những phạm trù và những quy luật chung nhất của thế giới (tự nhiên,
xã hội và tư duy).
Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp
luận chỉ đạo mọi hoạt động của con người, trong đó, quy luật thống nhất và đấu
tranh của các mặt đối lập (gọi tắt là quy luật mâu thuẫn) là hạt nhân của phép
biện chứng. Nghiên cứu quy luật này để thấy rõ được nguồn gốc, động lực của
sự vận động và phát triển. Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát
triển; phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật. Từ đó,
phải vận dụng nguyên tắc mâu thuẫn mà ý đồ cơ bản của nó là phải nhận thức